TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
Bản án số: 888/2024/DS-ST
Ngày: 23/8/2024
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Đăng Hà
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Nghiêm Xuân Hoàng
Bà Nguyễn Thị Túy Phượng
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Ánh Ngọc – Thư ký Toà án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Võ Nam Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2024 tại phòng xử án của Toà án nhân dân quận Phú Nhuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 619/2024/TLST-DS 30/5/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 268/2024/QĐXXST-DS ngày 05/8/2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần V1.
Trụ sở: H L, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D. Chủ tịch Hội đồng quản trị
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Võ Thị Tường V, ông Nguyễn Khánh D1, ông Nguyễn Văn T. Văn bản ủy quyền số 14663/2024/UNC (UQ-VPB ngày 06/5/2024)
Địa chỉ: Tầng A số B Q, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh
(có đơn xin vắng mặt)
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Gia B, sinh năm 1992.
Nơi thường trú: A T, Phường E, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh
Hiện đang chấp hành án tại Trại giam T1, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận
(có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện nộp ngày 18/3/2024 và bản tự khai, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T trình bày:
Ngày 16/01/2023, Ngân hàng Thương mại Cổ phần V1 (gọi là Ngân hàng) và ông Nguyễn Gia B ký Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ Ngân hàng Đ. Theo đó Ngân hàng cho ông B vay số tiền 149.500.000 đồng, thời hạn 60 tháng, mua đồ gia dụng, lãi suất trong hạn 25%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.
Thực hiện hợp đồng, Ngân hàng đã giải ngân số tiền cho vay 149.500.000 đồng cho ông B. Ông B đã thanh toán được một phần nợ gốc và lãi nhưng việc thanh toán không đúng thời hạn thỏa thuận. Do ông B vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng chuyển nợ quá hạn và thu hồi nợ trước hạn ngày 05/4/2023.
Nay Ngân hàng khởi kiện ông B yêu cầu thanh toán số tiền 231.294.252 đồng (Hai trăm ba mươi mốt triệu hai trăm chín mươi bốn nghìn hai trăm năm mươi hai đồng) gồm nợ gốc là 147.968.441 đồng, nợ lãi trong hạn là 3.105.556 đồng, nợ lãi quá hạn là 80.220.255 đồng tạm tính đến ngày 23/8/2024 phát sinh từ Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ Ngân hàng điện tử ngày 16/01/2023.
Ngoài ra kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, ông B còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quá hạn thỏa thuận tại Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ Ngân hàng điện tử ngày 16/01/2023.
* Tại bản tự khai bị đơn ông Nguyễn Gia B trình bày:
Ông B xác nhận có làm thủ tục vay của Ngân hàng, đã hoàn tất thủ tục giải ngân và hiện còn nợ Ngân hàng. Do hiện nay ông B đang chấp hành án tại Trại giam T1, không thể tiếp tục trả nợ khoản vay trên, không thể liên hệ ra ngoài đồng thời cũng mất khả năng chi trả. Ông B mong Ngân hàng khoanh nợ gốc và lãi, cam kết trả nợ sau khi chấp hành xong án.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng trong vụ án: Nguyên đơn và bị đơn từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay đã thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo đúng quy định tại các Điều 70, Điều 71, Điều 85, Điều 86 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Xét Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ Ngân hàng điện tử ngày 16/01/2023. và các chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định ông B đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ. Căn cứ khoản 2 Điều 91, Điều 95 và điểm d khoản 3 Điều 98 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo đơn khởi kiện, Ngân hàng khởi kiện ông B tranh chấp hợp đồng tín dụng thì đây là quan hệ hợp đồng tín dụng. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận.
[2] Về thủ tục xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng:
Theo kết quả xác minh của Công an P, quận P, ông Nguyễn Gia B có đăng ký hộ khẩu tại địa chỉ A T, Phường E, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh, hiện đang chấp hành án tại B. Theo Công văn của Trại tạm giam Bố Lá, ông B đi chấp hành án tại Trại giam T1. Và Trại giam T1 xác nhận ông B hiện đang chấp hành án phạt tù tại đây.
Ông B đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, có làm bản khai và đơn xin vắng mặt trong suốt các giai đoạn tố tụng giải quyết vụ án này tại Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận. Và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cũng có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.
Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 3 Điều 5, khoản 2 Điều 6 của Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đại diện nguyên đơn và bị đơn.
[3] Về nội dung vụ án:
Theo Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ Ngân hàng điện tử ngày 16/01/2023 và được phê duyệt ngày 04/02/2023, Ngân hàng cho ông B vay số tiền 149.500.000 đồng, thời hạn 60 tháng, mua đồ gia dụng, lãi suất trong hạn 25%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Ông B trả lãi và gốc định kỳ vào ngày 04 hàng tháng. Nội dung hợp đồng phù hợp với quy định tại điểm d khoản 3 Điều 98 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 23 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Thống đốc Ngân hàng N nên có hiệu lực pháp luật.
Từ khi ký kết hợp đồng đến nay, ông B chỉ thanh toán một phần nợ gốc nhưng không đúng hạn. Do đó ngày 05/4/2023, Ngân hàng đã chuyển toàn bộ nợ vay sang nợ quá hạn và thu hồi nợ trước hạn theo thỏa thuận tại Điều 4, Điều 6 và Điều 8 Phần B của bảng các Điều khoản và Điều kiện chung kèm theo hợp đồng vay.
Ngân hàng áp dụng mức lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn theo thỏa thuận trong hợp đồng. Căn cứ Điều 13 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Thống đốc Ngân hàng N, lãi suất Ngân hàng áp dụng là phù hợp với quy định pháp luật.
Xét yêu cầu của Ngân hàng khởi kiện ông B phải thanh toán số tiền 231.294.252 đồng (Hai trăm ba mươi mốt triệu hai trăm chín mươi bốn nghìn hai trăm năm mươi hai đồng) gồm nợ gốc là 147.968.441 đồng, nợ lãi trong hạn là 3.105.556 đồng, nợ lãi quá hạn là 80.220.255 đồng tạm tính đến ngày 23/8/2024 phát sinh từ Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ Ngân hàng điện tử ngày 16/01/2023.
Ngoài ra kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, ông B còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quá hạn thỏa thuận tại Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ Ngân hàng điện tử ngày 16/01/2023.
Căn cứ khoản 2 Điều 91, Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 13, Điều 20, Điều 21, Điều 23 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Thống đốc Ngân hàng N khi bà L không thanh toán đầy đủ, đúng hạn theo thỏa thuận Ngân hàng đã thu hồi nợ trước hạn, chuyển nợ quá hạn và tính lãi quá hạn là phù hợp với quy định pháp luật. Đồng thời căn cứ điểm a khoản 1 Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, ông B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 11.564.713 đồng.
Ngân hàng không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được trả lại số tiền tạm ứng án phí là 4.782.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí toà án số 0029530 ngày 23/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Nhuận.
Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 40, khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 244, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 2 Điều 91, Điều 95 và điểm d khoản 3 Điều 98 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
- Căn cứ Điều 13, Điều 20, Điều 21, Điều 23 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Thống đốc Ngân hàng N của Thống đốc Ngân hàng N;
- Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án;
- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014),
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V1.
Ông Nguyễn Gia B có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V1 số tiền 231.294.252 đồng (Hai trăm ba mươi mốt triệu hai trăm chín mươi bốn nghìn hai trăm năm mươi hai đồng) gồm nợ gốc là 147.968.441 đồng, nợ lãi trong hạn là 3.105.556 đồng, nợ lãi quá hạn là 80.220.255 đồng tạm tính đến ngày 23/8/2024 phát sinh từ Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ Ngân hàng điện tử ngày 16/01/2023.
Ngoài ra kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, ông B còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quá hạn thỏa thuận tại Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ Ngân hàng điện tử ngày 16/01/2023.
3. Án phí dân sự sơ thẩm
Ông Nguyễn Gia B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 11.564.713 đồng (Mười một triệu năm trăm sáu mươi bốn nghìn bảy trăm mười ba đồng).
Ngân hàng Thương mại Cổ phần V1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được trả lại số tiền tạm ứng án phí là 4.782.000 đồng (Bốn triệu bảy trăm tám mươi hai nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí toà án số 0029530 ngày 23/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Nhuận.
Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Ngân hàng Thương mại Cổ phần V1 và ông Nguyễn Gia B được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Võ Thị Đăng Hà |
Bản án số 888/2024/DS-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 888/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
