|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 887/2025/DS-ST
Ngày: 05 - 6 - 2025
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền Lương
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Võ Thị Gái.
- Ông Võ Văn Lợi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Võ Minh Thương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Giang – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 81/2025/TLST-DS ngày 10 tháng 01 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 3270/2025/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 4368/2025/QĐST-DS ngày 14 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S;
Địa chỉ: Số B N, phường V, Quận C, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Vũ Thị Thạch T
Địa chỉ: B N, phường P, Quận C, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Có mặt)
- Bị đơn: Ông Huỳnh Văn N, sinh năm 1983;
Địa chỉ: G Đường A, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
(Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 05/12/2024 và quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn - Ngân hàng Thương mại cổ phần S – bà Vũ Thị Thạch T trình bày:
Ngày 23/09/2022, ông Huỳnh Văn N có ký với Ngân hàng Thương mại cổ phần S (Sau đây viết tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 100.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi cấp thẻ, Ngân hàng căn cứ thu nhập của ông N, nâng hạn mức sử dụng thẻ của ông N lên 140.000.000 đồng, cụ thể: Loại thẻ: VS payWave Cre Platinum Cashback, số thẻ: 436438-6740, hạn mức 140.000.000 đồng, lãi suất áp dụng trong hạn: 2,48%.
Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông N đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 419.000.000 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông N đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 292.854.500 đồng. (Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 21 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), cụ thể việc thanh toán sẽ được áp dụng theo thứ tự như sau: Các khoản phí và/hoặc lãi của kỳ trước, giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước, giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước, các khoản phí và/hoặc lãi trong kỳ, giao dịch rút tiền mặt trong kỳ, giao dịch mua hàng hóa trong kỳ.
Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông N vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông N vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 18 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 06/07/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 24 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Đồng thời khởi kiện khách hàng.
Tính đến ngày 05/06/2025, ông N còn nợ Ngân hàng các khoản sau: Dư nợ gốc: 160.062.202 đồng, lãi quá hạn: 139.244.537 đồng, tổng cộng: 299.306.739 đồng. Số tiền lãi quá hạn được tính trên số tiền nợ gốc 160.062.202 đồng với lãi suất quá hạn là 3,723% (2,48% x 150%)/ tháng (lãi trong hạn 2,48%) từ ngày 06/07/2023 cho đến hiện tại.
Tại phiên tòa,
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án buộc ông Huỳnh Văn N phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 05/06/2025 là 299.306.739 đồng (Bằng chữ: Hai trăm chín mươi chín triệu, ba trăm lẻ sáu nghìn, bảy trăm ba mươi chín đồng), trong đó: Dư nợ gốc: 160.062.202 đồng, lãi quá hạn: 139.244.537 đồng. Ông Huỳnh Văn N có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 06/06/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Bị đơn ông Huỳnh Văn N vắng mặt không rõ lý do trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không thu thập được lời khai của ông N.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 7 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Tòa án nhân dân tối cao, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại số tiền đã vay theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng ngày 23/9/2022. Đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn có nơi cư trú cuối cùng tại địa chỉ số G đường A, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, do đó căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
[1.2] Về sự vắng mặt của các đương sự:
Quá trình giải quyết vụ án, ông N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 để tham gia phiên tòa sơ thẩm, tuy nhiên ông N vắng mặt không rõ lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.3] Về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án và giải quyết khiếu nại nếu có:
Ngày 11/4/2025, Tòa án tiến hành phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, các bên đã biết rõ tất cả và không khiếu nại các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, không đề nghị Tòa án thu thập bổ sung chứng cứ, triệu tập người làm chứng, người tham gia tố tụng khác. Đương sự khởi kiện có nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình có căn cứ và hợp pháp, đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó và chịu trách nhiệm về nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của mình theo quy định tại Điều 6, Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đương sự đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia quá trình giải quyết vụ án và cung cấp các chứng cứ, tài liệu liên quan nhưng vắng mặt, phải chịu trách nhiệm vì sự vắng mặt của mình. Do đó, Tòa án căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xem xét giải quyết theo quy định.
[2] Về yêu cầu của nguyên đơn:
Ngân hàng Thương mại Cổ phần S yêu cầu ông Huỳnh Văn N thanh toán tiền giao dịch còn thiếu và lãi phát sinh từ việc sử dụng thẻ tín dụng của ông N theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số ngày 23/9/2022, tính đến ngày 05/6/2025 gồm nợ gốc : 160.062.202 đồng, lãi quá hạn: 139.244.537 đồng, tổng cộng là 299.306.739 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có cơ sở xác định: Ngày 23/9/2022 Ngân hàng và ông Huỳnh Văn N ký kết Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng, theo đó Ngân hàng S1 đồng ý cấp thẻ tín dụng cho ông Huỳnh Văn N, số tài khoản 3916985371, hạn mức thẻ 100.000.000 đồng, mục đích vay: tiêu dùng cá nhân. Ngày 03/10/2022, Ngân hàng nâng hạn mức tín dụng thành 140.000.000 đồng. Căn cứ bản tóm tắt sao kê, ông N đã sử dụng theo hạn mức thẻ 140.000.000 đồng. Các thỏa thuận này không trái quy định pháp luật nên là căn cứ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.
Tại nội dung cam kết của “Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng” có nội dung:
"Tôi/Chúng tôi cam kết việc kích hoạt thẻ và PIN (nếu có) theo các phương thức mà S1 áp dụng theo từng thời kỳ (...) sẽ do chính tôi/chúng tôi thực hiện và tôi/chúng tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm đối với các giao dịch phát sinh sau thời điểm kích hoạt thẻ."
Tại Điều 18, Điều 21 Bản điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP S quy định về thanh toán và chuyển nợ quá hạn, tính lãi quá hạn và các biện pháp xử lý vi phạm có quy định rõ:
“18.2. Chủ thẻ có nghĩa vụ thanh toán dư nợ đầy đủ và đúng hạn theo yêu cầu của S1 và việc thanh toán này sẽ không bị gián đoạn bởi bất cứ lý do gì
...
21. Thứ tự ưu tiên thanh toán: Trừ trường hợp S1 có quy định khác, việc thanh toán được áp dụng theo thứ tự: a) Các khoản phí và/hoặc lãi của kỳ trước. b) Giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước. c) giao dịch mua bán hàng hóa/thanh toán thẻ trực tuyến của kỳ trước. d) Các khoản phí và/hoặc lãi trong kỳ. e) Giao dịch rút tiền mặt/tương đương rút tiền mặt trong kỳ. f) giao dịch mua bán hàng hóa/thanh toán thẻ trực tuyến của kỳ trước."
Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông N đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 419.000.000 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông N đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 292.854.500 đồng. Tạm tính đến ngày 05/06/2025, ông N còn nợ Ngân hàng tổng cộng là 299.306.739 đồng, trong đó: Dư nợ gốc: 160.062.202 đồng, lãi quá hạn: 139.244.537 đồng.
Do đó, Hội đồng xét xử buộc ông Huỳnh Văn N phải trả cho Ngân hàng S1 số tiền nợ gốc còn thiếu là 160.062.202 đồng tính đến ngày 05/6/2025.
[2.2] Đối với yêu cầu tiền lãi, nguyên đơn yêu cầu tính lãi suất trong hạn cố định tại thời điểm cấp thẻ là 2,48%/tháng. Lãi suất nợ quá hạn = 2,48%/ x 150% = 3,723%/tháng.
Theo trình bày của nguyên đơn, ông Huỳnh Văn N không đóng đủ số tiền tối thiểu ba kỳ liên tiếp (kỳ thông báo giao dịch 05/4/2023 số tiền tối thiểu là 4.108.954 đồng, ông N không thanh toán; Kỳ thông báo giao dịch 05/5/2023 số tiền tối thiểu là 7.320.371 đồng, ông N thanh toán 5.100.000 đồng; K thông báo giao dịch 05/6/2023 số tiền tối thiểu là 8.460.954 đồng, ông N thanh toán 2.639.000 đồng; K thông báo giao dịch 05/7/2023 số tiền tối thiểu là 12.768.540 đồng, ông N không thanh toán. Do đó, ngày 06/7/2023 Ngân hàng chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn.
Hội đồng xét xử xét thấy,
Tại Điều 23, Điều 24 Bản điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP S quy định:
"23. Cách tính lãi
23.1 Chủ thẻ đồng ý thanh toán lãi phát sinh trên thẻ. Lãi được tính như sau: a) Đối với giao dịch hàng hóa/thanh toán thẻ trực tuyến (không áp dụng với thẻ nội địa...) Nếu chủ thẻ không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số tiền vào hoặc trước ngày đến hạn, chủ thẻ phải thanh toán lãi cho S1 đối với tất cả các khoản nợ được thể hiện trong TBGD hiện tại và bất kỳ khoản nợ nào phát sinh sau đó trên thẻ cho đến khi toàn bộ các khoản nợ đến hạn được ghi trong TBGD được thanh toán vào hoặc trước ngày đến hạn. Lãi được tính từ ngày chủ thẻ thực hiện giao dịch cho đến hết ngày việc thanh toán được thực hiện đầy đủ. Nếu chủ thẻ thanh toán toàn bộ số tiền đến hạn vào hoặc trước ngày đến hạn theo TBGD thì chủ thẻ được miễn lãi đối với tất cả các giao dịch tại TBGD.”
“24. Vi phạm
...
24.4. Khi vi phạm xảy ra, chủ thẻ hiểu và đồng ý rằng S1 có thể thực hiện một hoặc nhiều hành động sau: a) Tạm ngưng hoặc chấm dứt sử dụng thẻ và thu hồi toàn bộ dư nợ. b) áp dụng lãi suất quá hạn đối với toàn bộ dư nợ theo quy định của S1 sau 75 ngày kể từ ngày lập TBGD hoặc sau 03 (ba) kỳ TBGD liên tiếp nếu chủ thẻ không thanh toán hoặc thanh toán ít hơn số tiền tối thiểu, S1 sẽ chấm dứt việc sử dụng của chủ thẻ”
Ngân hàng S1 là tổ chức tín dụng được phép kinh doanh tiền tệ, căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng thì các tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng.
Căn cứ Hợp đồng đã ký giữa hai bên ngày 23/9/2022, tại trang 6 của Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng (có chữ ký của ông N) có ghi: “Bằng việc ký vào giấy đề nghị này, tôi/chúng tôi xác nhận rằng tôi/chúng tôi đã đọc và đồng ý bị ràng buộc bởi Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của S1.... Tôi/Chúng tôi có nghĩa vụ thanh toán dư nợ đầy đủ và đúng hạn theo yêu cầu của S1”.
Xét ông Huỳnh Văn N không đóng đủ số tiền tối thiểu 03 kỳ liên tiếp nên Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn kể từ ngày 06/7/2023 là phù hợp với nội dung thỏa thuận tại hợp đồng đã ký giữa hai bên.
Như vậy, yêu cầu của Ngân hàng về việc áp dụng lãi suất trong hạn 2,48%/tháng, lãi suất nợ quá hạn 3,723%/tháng và yêu cầu ông N phải thanh toán tiền lãi quá hạn tính đến 05/6/2025 là 139.244.537 đồng, tiếp tục trả lãi phát sinh sau ngày 05/6/2025 đến khi trả hết nợ là có cơ sở chấp nhận.
[2.3] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy có đầy đủ cơ sở để chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Huỳnh Văn N phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 05/6/2025 là 299.306.739 đồng (Bằng chữ: Hai trăm chín mươi chín triệu, ba trăm lẻ sáu nghìn, bảy trăm ba mươi chín đồng), trong đó: Dư nợ gốc: 160.062.202 đồng, lãi quá hạn: 139.244.537 đồng. Ông Huỳnh Văn N có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 06/6/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
[2.4] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí. Bị đơn ông Huỳnh Văn N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải trả nguyên đơn.
[2.5] Đối với nội dung kết luận của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa về giải quyết vụ án là phù hợp với tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 5, Điều 6, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 463, khoản 5 Điều 466 luật Dân sự 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014, 2018;
Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Q;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – Ngân hàng Thương mại cổ phần S:
Buộc ông Huỳnh Văn N phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S tổng số tiền tạm tính đến ngày 05/6/2025 là 299.306.739 đồng (Bằng chữ: Hai trăm chín mươi chín triệu, ba trăm lẻ sáu nghìn, bảy trăm ba mươi chín đồng), trong đó: dư nợ gốc: 160.062.202 đồng, lãi quá hạn: 139.244.537 đồng. Thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày 06/6/2025 cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền trên, ông N còn phải chịu khoản tiền lãi trên số tiền và thời gian chậm thi hành theo mức lãi suất được quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng đã ký giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần S và Huỳnh Văn N ngày 23/9/2022.
Các bên thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
2. Án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn ông Huỳnh Văn N phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 14.965.337 đồng (Mười bốn triệu chín trăm sáu mươi lăm nghìn ba trăm ba mươi bảy đồng). Ông N chưa nộp án phí.
Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 6.434.858 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số BLTU/24P 0068415 ngày 31 tháng 12 năm 2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc được niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hiền Lương |
Bản án số 887/2025/DS-ST ngày 05/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 887/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: S-N
