TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 886/2024/HS-PT Ngày: 23-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Tô Ngọc
Các Thẩm phán: Ông Phan Văn Yên
Ông Hoàng Thanh Dũng
Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thu Phương – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mậu Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 612/2024/TLPT-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo Trần Kim S phạm tội ““Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân” do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 252/2024/HS-ST ngày 30 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị cáo có kháng cáo:
Trần Kim S; Sinh ngày 21/10/1964 tại Thành phố Hà Nội; Thường trú: 54C Đường B, Phường H, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: E Đường B, Phường H, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam: Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn 7/10; Con ông Trần Đắc S1 (chết) và bà Nguyễn Thị B (chết); Có chồng Đỗ Xuân D, sinh năm 1957 và 02 con: Lớn sinh năm 1990, nhỏ sinh năm 1999; Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân:
- - Ngày 10/11/1979, bị Công an quận H, Thành phố Hà Nội bắt về hành vi “Đánh bạc”, hiện không lưu hồ sơ.
- - Ngày 15/10/1980, bị Công an quận H, Thành phố Hà Nội bắt về hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, hiện không lưu hồ sơ.
- - Ngày 03/12/1983, bị Công an quận H, Thành phố Hà Nội bắt về hành vi mại dâm, hiện không lưu hồ sơ.
Bị bắt, tạm giam từ ngày 23/6/2023 (có mặt).
Luật sư bào chữa cho bị cáo Đỗ Xuân D và Trần Kim S: Ông Đồng Mây Hồng T và bà Dương Thị Huyền T1: Công ty L2 - Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).
Ngoài ra, trong vụ án này còn có bị cáo Đỗ Xuân D không có kháng cáo, không bị kháng nghị; các bị hại không có kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Năm 1991, Đỗ Xuân D và vợ là Trần Kim S từ Thành phố Hà Nội vào Thành phố Hồ Chí Minh sinh sống và tạm trú tại nhà số B C, phường B, Quận A, để làm ăn, buôn bán. Từ năm 1997, Đỗ Xuân D và Trần Kim S thuê nhà kinh doanh quán ăn tại số B Hồ V, Phường I, quận P. Từ việc kinh doanh trên, Đỗ Xuân D và Trần Kim S quen biết nhiều người và mở thêm 02 nhà hàng Karaoke tại địa chỉ số E Hồ V và số A Hồ V, Phường I, quận P. Trong quá trình kinh doanh từ năm 1996 đến năm 1999, để có tiền đầu tư 03 nhà hàng trên, Đỗ Xuân D và Trần Kim S đã vay mượn tiền, chơi hụi và mua hàng hóa tiêu dùng trả chậm của nhiều người, với tổng số tiền 999.130.336 đồng và 19 cây vàng SJC, cụ thể:
- Bà Đào Thị H: số tiền 30.000.000 đồng (theo giấy vay tiền ngày 02/7/1999).
- Bà Trần Thị C: số tiền 130.000.000 đồng (theo giấy vay tiền ngày 15/12/1996 và ngày 08/8/1999).
- Bà Trần Thị N: số tiền 76.067.536 đồng (theo giấy vay tiền ngày 02/7/1999 và ngày 30/7/1999, giấy nợ tiền điện và tiền thuê nhà).
- Bà Lê Thị Q: số tiền 6.906.000 đồng (theo giấy mua hàng ngày 22/7/1999).
- Bà Đặng Thị N1: số tiền 30.000.000 đồng (theo giấy vay tiền ngày 01/7/1999).
- Ông Nguyễn Văn H1: số tiền 3.521.000 đồng (theo giấy mua hàng và hứa trả ngày 06/8/1999).
- Ông Ngô T2: số tiền 1.535.800 đồng (theo giấy mua hàng ngày 28/7/1999).
- Bà Trần Thị N2: số tiền 401.100.000 đồng và 19 cây vàng SJC (theo giấy vay mượn tiền, chơi hụi từ tháng 9/1997 đến tháng 7/1999).
- Bà Nguyễn Thị N3: số tiền 10.000.000 đồng (theo giấy mua hàng ngày 03/4/1999).
- Bà Phạm Thị H2: số tiền 30.000.000 đồng (theo giấy vay tiền ngày 02/8/1999).
- Phạm Thị Tuyết L: số tiền 280.000.000 đồng (theo bản cam kết ngày 29/01/1999).
Sau đó, Đỗ Xuân D và Trần Kim S bỏ trốn.
Ngày 08/6/2000, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định khởi tố bị can và ra Quyết định truy nã đối với Trần Kim S và Đỗ Xuân D về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản công dân” theo Điều 158 Bộ luật Hình sự năm 1985. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H ra Lệnh kê biên tài sản của Đỗ Xuân D và Trần Kim S tại nhà hàng K tại E Hồ V, Phường I, quận P.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H tiến hành trưng cầu giám định trị giá số tài sản kê biên tại nhà hàng K. Ngày 25/4/2002, Sở T3 – Vật giá của Ủy ban nhân dân Thành phố H thông báo giá thị trường của toàn bộ tài sản đã kê biên là 16.750.000 đồng.
Ngày 26/6/2000, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H gửi báo Công an Thành phố H đề nghị đăng tin truy nã.
Ngày 16/10/2000, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án và Quyết định tạm đình chỉ điều tra bị can đối với Trần Kim S và Đỗ Xuân D, do bị can đã bỏ trốn.
Quá trình bỏ trốn, D và S sinh sống nhiều nơi từ Thành phố Hà Nội đến tỉnh Bình Dương. Đến năm 2020, về sống tại nhà số E Đường B, Phường H, G, Thành phố Hồ Chí Minh và không phạm tội mới.
Ngày 23/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã bắt được Đỗ Xuân D và Trần Kim S.
Theo Công văn số 316/CV-SJC ngày 14/7/2023 của Công ty TNHH V thuộc Ủy Ban nhân dân Thành phố H, giá mua bán vàng miếng SJC tại thời điểm ngày 28/01/1999: mua vào là 4.895.000 đồng/lượng, giá bán ra là 4.915.000 đồng/lượng. Như vậy, 19 cây vàng SJC tương đương 93.005.000 đồng (theo giá mua).
Quá trình điều tra, Đỗ Xuân D và Trần Kim S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên và xác nhận các chữ ký trên giấy vay, mượn tiền, chơi hụi, mua hàng trả chậm là của D và S phù hợp với lời khai của bà Đào Thị H, Trần Thị C, Trần Thị N, Lê Thị Q, Đặng Thị N1, Trần Thị N2, Phạm Thị Tuyết L, ông Ngô T2 và ông Nguyễn Văn H1.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 252/2023/HS-ST ngày 30 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:
Căn cứ khoản 3 Điều 158 Bộ luật Hình sự năm 1985, sửa đổi, bổ sung năm 1991; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
1. Xử phạt bị cáo Trần Kim S 10 (mười) năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân”. Thời hạn tù tính từ ngày 23/6/2023.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về hình phạt đối với bị cáo Đỗ Xuân D, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Trần Kim S có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Trần Kim S trình bày: bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu, số tiền chiếm đoạt như bản án sơ thẩm đã quy kết là đúng. Bị cáo không cố tình chiếm đoạt tài sản mà do việc làm ăn thua lỗ; bị cáo không bỏ trốn mà do các bị hại có nhiều áp lực, không am hiểu pháp luật, bị cáo đi làm ăn nhiều nơi. Bị cáo không hề biết có lệnh truy nã, đến khi về lại S để làm căn cước công dân mới biết sự việc bị cáo bị hại tố cáo; bị cáo đã bồi thường toàn bộ cho các bị hại. Bị cáo hiện đã có tuổi, có nhiều bệnh như tiểu đường, huyết áp, xương khớp, suy giãn tĩnh mạch, phải dùng thuốc thường xuyên. Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Luật sư bào chữa cho bị cáo: luật sư thống nhất với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và cả quan điểm về việc giảm hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ: ngày 10-9-2024, bà Trần Thị N2 là bị hại bị chiếm đoạt số tiền lớn nhất có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo có nhiều bệnh trong người. Sự việc xảy ra cũng đã hơn 20 năm, có nhiều bị hại cũng đã quên đi sự việc này, bị cáo vì làm ăn, đầu tư thua lỗ. Bản thân bị cáo cũng không biết có lệnh truy nã, bị cáo vào Thành phố Hồ Chí Minh làm căn cước công dân nên mới bị bắt. Bị cáo trong quá trình điều tra cũng tích cực giúp cơ quan điều tra tìm ra các bị hại; bị cáo ăn năn hối cải; phạm tội không có tổ chức, bị hại cho vay với lãi suất cao.
Từ những căn cứ trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:
Về hình thức: đơn kháng cáo của bị cáo Trần Kim S là trong hạn luật định, phù hợp với quy định của pháp luật.
Về nội dung: bản án hình sự sơ thẩm đã xét xử bị cáo Trần Kim S 10 năm tù tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 3 Điều 158 Bộ luật Hình sự năm 1985, sửa đổi, bổ sung năm 1991 là đúng người, đúng tội. Các tình tiết giảm nhẹ đã được xem xét đầy đủ.
Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại Trần Thị N2 có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, dó đó cũng cần xem xét bị hại có đơn đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo đã khắc phục toàn bộ hậu quả. Đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Kim S, giảm cho bị cáo một phần hình phạt với mức án từ 8-9 năm tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và kết quả thẩm vấn tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, luật sư bào chữa cho bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1]. Về hình thức: đơn kháng cáo của Trần Kim S làm trong hạn luật định, nên được HĐXX xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Xét đơn kháng cáo của bị cáo Trần Kim S:
[2.1] Về tội danh:
Trong quá trình kinh doanh từ năm 1996 đến năm 1999, Trần Kim S chủ động, có Đỗ Xuân D giúp sức nhiều lần vay mượn tiền, chơi hụi và mua hàng hóa tiêu dùng trả chậm của bà Đào Thị H, bà Trần Thị C, bà Trần Thị N, bà Lê Thị Q, bà Đặng Thị N1, ông Nguyễn Văn H1, ông Ngô T2, bà Trần Thị N2, bà Nguyễn Thị N3, bà Phạm Thị H2 và bà Phạm Thị Tuyết L1. Bị cáo Trần Kim S đã chủ động liên hệ, trao đổi thỏa thuận với các bị hại để vay mượn tiền, còn bị cáo Đỗ Xuân D đi theo hỗ trợ, giúp sức cho bị cáo S. Do kinh doanh thua lỗ, bị cáo Trần Kim S và Đỗ Xuân D đã bỏ trốn nhằm chiếm đoạt tiền của các bị hại.
Tổng số tiền các bị cáo chiếm đoạt của 11 bị hại là 999.130.336 đồng và 19 lượng vàng (tương đương 93.005.000 đồng) = 1.092.135.336 đồng.
Do đó tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Trần Kim S về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 3 Điều 158 Bộ luật Hình sự năm 1985, sửa đổi, bổ sung năm 1991 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[2.2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn ảnh hưởng đến trật tự quản lý nhà nước, gây mất an ninh, trật tự ở địa phương.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, có thái độ ăn năn hối cải, Luật sư của bị cáo cung cấp đơn của bị hại Trần Thị N2, là bị hại mà bị cáo chiếm đoạt số tiền lớn nhất (đơn đề ngày 10-9-2024) xin giảm hình phạt cho bị cáo. Bản thân bị cáo đã có tuổi, có nhiều bệnh. Bị cáo đã tác động đến gia đình khắc phục toàn bộ số tiền mà bị cáo và chồng bị cáo là đồng phạm trong vụ án này đã chiếm đoạt. Do đó, có căn cứ chấp nhận kháng cáo, áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa hôm nay, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo, sửa bản án hình sự sơ thẩm là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[3]. Do kháng cáo của bị cáo Trần Kim S được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Trần Kim S, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 252/2024/HS-ST ngày 30 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về phần hình phạt đối với bị cáo Trần Kim S.
Tuyên xử:
Căn cứ khoản 3 Điều 158 Bộ luật Hình sự năm 1985, sửa đổi, bổ sung năm 1991; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; khoản 1 Điều 50; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
1. Xử phạt bị cáo Trần Kim S 08 (tám) năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân”. Thời hạn tù tính từ ngày 23/6/2023.
Tiếp tục tạm giam bị cáo để thi hành án.
2. Về án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Trần Kim S không phải chịu.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hiệu kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Tô Ngọc |
Các thẩm phán | Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa | |
Phan Văn Yên | Hoàng Thanh Dũng | Phan Tô Ngọc |
7
Bản án số 886/2024/HS-PT ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân (hình sự phúc thẩm)
- Số bản án: 886/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân (Hình sự phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo, sửa bản án hình sự sơ thẩm.
