|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 884/2024/HNGĐ-ST Ngày: 30-9-2024 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phùng Thị Huyền Minh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Thị Nhung
2. Ông Nguyễn Đình Thức
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Vân - Là Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Mai Hảo- Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân quận Tân Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 339/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 04 năm 2024 về tranh chấp Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1095/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1373/2024/QÐST-HNGĐ ngày 04 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn:Bà Trần Cao Bảo N, sinh năm: 1990 – Có mặt
Địa chỉ: 3 Đ, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Ông Phạm Xuân T, sinh năm: 1990 – Vắng mặt
Địa chỉ:3 Đ, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn yêu cầu ly hôn, bản tự khai và biên bản hoà giải tại Toà án, nguyên đơn - bà Trần Cao Bảo N trình bày:
Bà Trần Cao Bảo N vàông Phạm Xuân T tự nguyện chung sống, có tổ chức đám cưới vàđăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 48 do Ủy ban nhân dân phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấpngày 03/03/2018.
Trong quá trình chung sống, bà và ông Tphát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông T có người khác ở bên ngoài, không chăm lo cho gia đình dẫn đến hai vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Nay nhận thấy mâu thuẫn trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt nên bà N yêu cầu ly hôn với ông T.
Về con chung: BàNgọc vàông T có 01 con chung là trẻ Phạm Trần Hoàng N1, sinh ngày 26/07/2021. Khi ly hôn, bà yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Tại bản tự khai và quá trình làm việc tại Tòa án, bị đơn - ông Phạm Xuân T trình bày:
Ông và bà N có tổ chức đám cưới vàđăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 48 do Ủy ban nhân dân phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấpngày 03/03/2018. Quá trình chung sống hai vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình hai vợ chồng không hợp nhau. Nay bà N yêu cầu ly hôn thì ông đồng ý với yêu cầu ly hôn của bà N.
Về con chung: Ông và bà N có 01 con chung là trẻ Phạm Trần Hoàng N1, sinh ngày 26/07/2021. Khi ly hôn, ông đề nghị được trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu bà N cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Do các đương sự không thỏa thuận được với nhau về người trực tiếp nuôi con nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay:
- Nguyên đơn bà Trần Cao Bảo N2 giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn với ông Phạm Xuân T. Bà đề nghị được nuôi con chung làtrẻ Phạm Trần Hoàng N1, sinh ngày 26/07/2021và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung. Bà hiện làm công việc với mức lương 14.678.575 đồng/tháng, thu nhập ổn định. Bà và con gái hiện đang sống tại địa chỉ: 3 Đ, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh là nhà của ba mẹ bà nên bà có đầy đủ điều kiện để nuôi dưỡng con.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
- Bị đơnông Phạm Xuân T vắng mặt tại phiên tòa không có lý do chính đáng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
+ Về việc tuân theo pháp luật: Đương sự, Thư ký và Hội đồng xét xử đều tuân theo pháp luật tố tụng qui định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 48, Điều 68, Điều 69, khoản 2 Điều 97, Điều 171, Điều 173, 208 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
+ Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 19, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, đề nghị giao con chung là trẻ Phạm Trần Hoàng N1, sinh ngày 26/07/2021 cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng. Về án phí đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Căn cứ đơn khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án trên là tranh chấp ly hôn, ông T hiện đang cư trú tại quận T nên vụ án thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân quận T theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Ông Phạm Xuân T đã được Tòa án triệu tập đến phiên tòa hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông T theo quy định tại các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung:
- Xét yêu cầu ly hôn của bà Trần Cao Bảo N, Hội đồng xét xử xét thấy:
Hôn nhân giữa bà Trần Cao Bảo N vàông Phạm Xuân T là hôn nhân tự nguyện và hợp pháp được pháp luật công nhận theo Giấy chứng nhận kết hôn số 48 ngày 03/03/2018 do Ủy ban nhân dân phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho ông bà.
Xét thấy mâu thuẫn xảy ra trong quan hệ hôn nhân giữa bà N vàông T là có thật, bà N và ông T thống nhất thuận tình ly hôn nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện ly hôn của bà N vàông T.
- Về con chung: Trong quá trình chung sống, bà N và ông T có 01 con chung là trẻ Phạm Trần Hoàng N1, sinh ngày 26/07/2021. Cả bà N và ông T đều có nguyện vọng xin được nuôi con. Xét về điều kiện kinh tế, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo các tài liệu, chứng cứ bà N cung cấp, bà N hiện làm công việc với mức lương 14.678.575 đồng/tháng, thu nhập ổn định. Bà và con gái hiện đang sống tại địa chỉ: 3 Đ, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cùng ba mẹ ruột của bà. Hàng ngày, bà N trực tiếp chăm sóc và đưa đón cháu N1 đi học. Ông T có yêu cầu nuôi con nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho thu nhập và điều kiện nuôi con của mình theo yêu cầu của Tòa án. Mặt khác, cháu N1 là con gái và chỉ mới hơn 03 tuổi nên Hội đồng xét xử nhận thấy giao con chung cho mẹ nuôi dưỡng sẽ thuận tiện hơn cho sự phát triển về mặt tâm sinh lý của trẻ. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu nuôi con của bà N đối với trẻ Phạm Trần Hoàng N1 là có căn cứ để chấp nhậnvà phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2024.
Về tài sản chung: Hai bên đề nghị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về nợ chung: Hai bên xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Xét ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú là có căn cứ và phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí:Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,bà Trần Cao Bảo N phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng bà N đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0007962 ngày 17/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú. Bà N đã nộp đủ án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vàoĐiều 5, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 và Điều 278 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vàoĐiều 51,Điều 56, Điều 57, Điều 68, Điều 69, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110, Điều 116, Điều 117, Điều 118 và Điều 119 Luật hôn nhân và gia đình năm2014;
Căn cứ vàoĐiểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn -bà Trần Cao Bảo N.
- - Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Cao Bảo N được ly hôn với ông Phạm Xuân T.
- Quan hệ hôn nhân của bà Trần Cao Bảo N và ông Phạm Xuân T chấm dứt kể từ ngày Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Giấy chứng nhận kết hôn số 48 do Ủy ban nhân dân phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấpngày 03/03/2018 cho bà N và ông T không còn giá trị pháp lý.
- - Về con chung: Có 01 con chung là trẻ Phạm Trần Hoàng N1, sinh ngày 26/07/2021. Giao con chung cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho ông T do bà N không yêu cầu.
- Trong trường hợp bà N không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì trên cơ sở lợi ích của con, bà N hoặc ông T hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Ông T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Trường hợp ông T lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người không trực tiếp nuôi dưỡng con chung.
- - Về tài sản chung: Hai bên đề nghị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Về nợ chung: Hai bên xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí:Bà Trần Cao Bảo N phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng bà N đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0007962 ngày 17/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú. Bà N đã nộp đủ án phí.
Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Quyền kháng cáo:
Bà Trần Cao Bảo N được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Phạm Xuân T được quyền kháng cáo Bản ántrong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày nhận được Bản án hoặc từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ.Viện kiểm sát nhân dân được quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Trường hợp Bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6;7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phùng Thị Huyền Minh |
Bản án số 884/2024/HNGĐ-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 884/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
