|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 884/2024/HNGĐ-ST Ngày 19 - 7 - 2024 V/v tranh chấp ly hôn |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thuý Ái.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Võ Văn Dương;
- Ông Thái Văn Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Văn Bé-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Không.
Trong ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 266/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 255/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 314/2024/QÐST-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Lan A, sinh năm: 1996 (Có mặt);
Nơi thường trú: Số A H, ấp E, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Tạm trú: Số A tổ A, ấp A, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Ông Đỗ Hữu P, sinh năm: 1993 (Vắng mặt).
Nơi thường trú: Số A H, ấp E, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn xin ly hôn nộp ngày 01/3/2024 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Lan A trình bày:
Bà và ông Đỗ Hữu P quen biết tìm hiểu nhau năm 2014, tự nguyện xây dựng gia đình năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, có tổ chức cưới.
Sau khi xây dựng gia đình xong, vợ chồng bà sống bên nhà chồng, khi về chung sống chỉ hạnh phúc được 01 năm, sau đó xảy ra mâu thuẫn do cả hai khắc khẩu, thường xảy ra cãi vã, xô xát lẫn nhau, ông P nhiều lần đánh bà, ngoài ra giữa bà và ông P còn có mâu thuẫn về chuyện tiền bạc, ông P không lo làm ăn phụ giúp kinh tế gia đình, hay nhậu nhẹt, một mình bà phải gánh vác, vì kinh tế gia đình không ổn định nên mâu thuẫn ngày càng trở nên trầm trọng hơn, bà có khuyên nhủ nhiều lần nhưng ông P không nghe, giữa bà và mẹ chồng cũng có mâu thuẫn. Giữa năm 2023 bà đã dọn đi chỗ khác thuê nhà trọ sống, vợ chồng cũng ly thân từ đó. Bà cảm thấy mối quan hệ hôn nhân giữa bà và ông P không còn hạnh phúc, do vậy bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn.
Bà và ông P có 02 con chung tên Đỗ Hữu P1, sinh ngày 02/12/2015 và Đỗ Khánh A1, sinh ngày 21/5/2020. Bà đồng ý giao cháu P1 cho ông P nuôi dưỡng, bà xin được nuôi dưỡng cháu A1, không ai cấp dưỡng nuôi con cho ai.
Tài sản chung bà và ông P không có, nợ chung không có.
* Bị đơn là ông Đỗ Hữu P vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về quan hệ pháp luật tranh chấp:
Tại đơn xin ly hôn nộp ngày 01/3/2024 và tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị Lan A yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Củ Chi giải quyết cho bà ly hôn với ông Đỗ Hữu P, con chung có 02 cháu, bà đồng ý giao 01 cháu cho ông P được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, bà không cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung không có, nợ chung không có. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình được quy định tại Khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Bị đơn là ông P hiện đang cư trú tại địa chỉ số A H, ấp E, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Củ Chi theo Đ a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
- Về tố tụng:
Bị đơn là ông Đỗ Hữu P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa (ông Đỗ Hữu P trực tiếp nhận các văn bản tố tụng nêu trên) nhưng vẫn không đến Tòa án, do đó Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành phiên Tòa vắng mặt ông P theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
- Về quan hệ hôn nhân:
Bà Nguyễn Thị Lan A và ông Đỗ Hữu P tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 31, quyển số I/2015 ngày 06/3/2015 do Ủy ban nhân dân xã B, huyện C Thành phố Hồ Chí Minh cấp, đây là hôn nhân hợp pháp.
Xét trình bày của bà A thì bà và ông P tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2015, sống hạnh phúc đến năm 2016 thì xảy ra mâu thuẫn do ông P không đóng góp chung cho kinh tế gia đình, ông P còn nhậu nhẹt say xỉn đánh bà, giữa bà và mẹ chồng cũng có mâu thuẫn, bà nhận thấy bà không thể tiếp tục mối quan hệ hôn nhân với ông A được nữa, tình cảm không còn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn.
Xét ông P không đến Tòa án theo giấy triệu tập để có ý kiến về mối quan hệ vợ chồng giữa ông và bà A, điều đó cho thấy ông P không còn muốn duy trì quan hệ vợ chồng cùng với bà A, do đó Hội đồng xét xử chỉ xem xét các chứng cứ do bà A cung cấp, hiện bà A và ông P không còn chung sống cùng chung một địa chỉ, do đó Hội đồng xét xử xét không cần thiết phải xác minh về tình trạng hôn nhân của ông bà tại địa phương theo quy định tại Điều 208 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Nhận thấy tình trạng quan hệ vợ chồng giữa bà A và ông P đã đến mức trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt, căn cứ Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà A được ly hôn với ông P là có cơ sở.
- Về con chung:
Bà A và ông P có 02 con chung tên Đỗ Hữu P1, sinh ngày 02/12/2015 và Đỗ Khánh A1, sinh ngày 21/5/2020. Bà A đồng ý giao cháu P1 cho ông P được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, bà yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu A1, không ai cấp dưỡng nuôi con cho ai, cháu P1 cũng có nguyện vọng muốn sống với cha, để ổn định tâm sinh lý của con chung, Hội đồng xét xử giao cháu P1 cho ông P và giao cháu A1 cho bà A trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về việc cấp dưỡng nuôi con: Ông P không đến Tòa án để có ý kiến về các con chung hay việc cấp dưỡng nuôi con, do vậy nếu sau này ông P1 có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con sẽ được Tòa án giải quyết ở một vụ án khác.
- Về tài sản chung:
Bà A xác định bà và ông P không có tài sản chung.
- Về nghĩa vụ dân sự chung:
Bà A xác định bà và ông P không có nợ chung.
- Về nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm:
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xét buộc bà A phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 146, Điều 227, Điều 228, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- - Căn cứ vào Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- - Căn cứ vào Điều 6, Điều 7, Điều 26, Điều 30, Điều 31 và Điều 32 của Luật Thi hành án Dân sự năm 2008;
- - Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân:
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Lan A về việc cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Lan A và ông Đỗ Hữu P.
Kể từ ngày Bản án phát sinh hiệu lực pháp luật, Giấy chứng nhận kết hôn số 31, quyển số I/2015, ngày 06/03/2015 do Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp không còn giá trị pháp lý.
- Về con chung:
Bà A và ông P có 02 con chung tên Đỗ Hữu P1, sinh ngày 02/12/2015 và Đỗ Khánh A1, sinh ngày 21/5/2020.
Giao cháu P1 cho ông P được quyền trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu A1 cho bà A được quyền trực tiếp nuôi dưỡng.
Ghi nhận sự tự nguyện của bà A về việc tạm thời không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con. Trường hợp ông P có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con sẽ được giải quyết ở một vụ kiện khác.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi dưỡng con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, yêu cầu của cá nhân, tổ chức theo quy định tại Khoản 5 Điều 84, Khoản 2 Điều 116 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc trợ cấp cho việc nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
- Về tài sản chung: Bà A xác định không có.
- Về nghĩa vụ dân sự chung: Bà A xác định không có.
- Về án phí sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị Lan A phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí bà A đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số AA/2023/0019516 ngày 22/3/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Củ Chi. Bà A đã nộp đủ án phí.
Thi hành tại cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án Dân sự.
- Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc từ ngày Bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Thúy Ái |
Bản án số 884/2024/HNGĐ-ST ngày 19/07/2024 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 884/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
