Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 884/2024/HC- PT

Ngày: 21-8-2024

V/v khiếu kiện quyết định hành chính.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn An
Các thẩm phán: Bà Trần Thị Thu Thủy
Bà Nguyễn Thị Cúc

- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Văn Cường - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Cấp cao tại thành Phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Hà Văn Hiến - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 812/2023/TLPT-HC ngày 08 tháng 11 năm 2023, về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính”. Do Bản án hành chính sơ thẩm số 1266/2023/HC-ST ngày 26 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2591/2024/QĐ-PT ngày 02/8/2024 giữa các đương sự:

- Người khởi kiện.

  1. Ông Nguyễn Văn Á, sinh năm 1949 (có mặt);
  2. Ông Nguyễn Ngọc B, sinh năm 1979 (có mặt).

Cùng địa chỉ: A T, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người bị kiện.

  1. Ủy ban nhân dân thành phố T;
  2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T.

Cùng địa chỉ: A T, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của người bị kiện: ông Hoàng T – Chủ tịch (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện: ông Nguyễn Minh T1 - Phó Trưởng phòng Phòng T3; bà Nguyễn Ngọc H – Chuyên viên Phòng T3 (ông T1 vắng mặt, bà H có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Công ty TNHH MTV D. Địa chỉ: I N, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Người đại diện hợp pháp: ông Nguyễn Đức B1, sinh năm 1980. Địa chỉ: 4 T, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (là người đại diện theo giấy ủy quyền số 17/2020/UQ-TT ngày 21/5/2020 – có mặt).

  3. Bà Phan Thị H1, sinh năm 1956.
  4. Người đại diện theo ủy quyền của bà H1: Ông Nguyễn Văn Á, sinh năm 1949 (có mặt).

  5. Bà Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm 1979.
  6. Người đại diện theo ủy quyền của bà N: Ông Nguyễn Ngọc B, sinh năm 1979 (có mặt).

Cùng địa chỉ: A T, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người kháng cáo: người khởi kiện ông Nguyễn Văn Á, ông Nguyễn Ngọc B.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và biên bản đối thoại, người khởi kiện ông Nguyễn Văn Á trình bày:

Theo Thông báo số 33/TB-UB ngày 12/01/2000 của Ủy ban nhân dân Quận B2 (Nay là Ủy ban nhân dân thành phố T), ông Á thuộc diện được mua nền đất ở trong Dự án Khu nhà ở Cán bộ, công nhân viên (CBCNV) Quận B tại phường A do Công ty Q (Nay là Công ty TNHH MTV D) làm chủ đầu tư. Ngày 15/01/2000, Công ty Q tổ chức bốc thăm chọn nền đất, ông Á bốc thăm trúng nền đất số 17 (E9) (Nay là nền E01).

Ngày 25/01/2000, ông Á đóng tiền lần đầu với số tiền là 74.100.000 đồng để xây dựng hạ tầng, những lần đóng tiền tiếp theo khi Công ty có thông báo. Sau khi ông Á đã đóng đủ số tiền mua nền đất do công ty quy định, ngày 07/10/2003 Công ty Q và ông Á ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 37/HĐ-PTN-KD.

Ngày 24/10/2003, Công ty Q lập Biên bản số 06/BBGN-PTN-KD bàn giao cho ông Á nhận nền đất số 17 (E9) để quản lý.

Ngày 07/6/2013, Công ty TNHH MTV D ký phụ lục hợp đồng số 01/37/PLHD-CI.2-KHKD của Hợp đồng số 37/HĐ-PTN-KD.

Ông Á đã đầu tư xây dựng gạch móng bê tông cốt thép bao quanh nền đất. Hợp đồng số 37/HĐ-PTN-KD đã được hoàn tất trên thực tế và phía Công ty Q cam kết sẽ giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Á trong thời gian sớm nhất để ông Á tiến hành xây dựng nhà ở.

Tháng 8/2013, Công ty TNHH MTV D giao cho ông Á Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BP055892 ngày 31/7/2013 do Ủy ban nhân dân Quận B2 cấp cho ông Nguyễn Văn Á, bà Phan Thị H1 đối với nền đất nêu trên.

Ngày 25/9/2013, ông Á và bà H1 làm thủ tục tặng cho ông Nguyễn Ngọc B, bà Nguyễn Thị Thanh N đối với nền đất trên và đã được Chi nhánh Văn phòng Đ cập nhật biến động vào giấy chứng nhận ngày 29/10/2013.

Việc ông Á mua nền đất nêu trên là có cơ sở, hợp pháp, đúng pháp luật dựa trên các văn bản của cơ quan có thẩm quyền bao gồm: Văn bản số 7349/KTST-DDB2 ngày 19/6/1999 của Kiến trúc sư trưởng Thành phố H thỏa thuận với Ủy ban nhân dân Quận B2 về quy hoạch chi tiết 1/500 Khu nhà ở CBCNV 4ha phường A, Quận B; Quyết định số 281/QĐ-TTg ngày 15/3/2001 của Thủ tướng Chính Phủ về việc giao đất cho Công ty Q xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu nhà ở Cán bộ Công nhân viên phường A, Quận B; Quyết định số 1553/QĐ-UB ngày 05/9/1998 của Ủy ban nhân dân Quận B2 về duyệt chủ trương đầu tư xây dựng nhà ở cho Cán bộ công nhân viên của quận giao cho Công ty Q làm chủ đầu tư hạ tầng chính; Văn bản chấp thuận dự án đầu tư số 194/CTDA-KHĐT-XD ngày 19/12/2000 của Sở Kế hoạch đầu tư Thành phố H chấp thuận dự án đầu tư xây dựng hạ tầng khu nhà ở Cán bộ Công nhân viên 4ha phường A, Quận B.

Căn cứ Điều 12 của Hợp đồng số 37/HĐ-PTN-KD và điểm 1.9 của Phụ lục Hợp đồng này thì Công ty có trách nhiệm lập hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Á. Tuy nhiên, tại mục III sơ đồ thửa đất của giấy chứng nhận này có nhiều điểm sai không đúng như sau:

  • Ranh Phía Bắc giáp với thổ cư là sai mà phải giáp với đường a.
  • Lệch ranh về phía Bắc phạm vào đường a giáp ranh với Dự án Chung cư T của Công ty G, không đúng với vị trí của nền đất 17 (E9) thể hiện tại Bản đồ quy hoạch giao thông và chia lô tỉ lệ 1/500 của Văn phòng Kiến trúc sư trưởng Thành phố năm 1999 do Công ty Q giao cho ông Á khi ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 37/HĐ-PTN-KD ngày 07/10/2003.
  • Sai vị trí nền đất vì vị trí nền đất 17 (E9) (Nay là E01) được quy định tại Điểm 1.2, Điều 1 của Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 37/HĐ-PTN-KD ngày 07/10/2003 vẫn giữ nguyên vị trí tại Biên bản giao nhận nền nhà số 06/BBGN-PTN-KD ngày 24/10/2003 có kèm theo Bản vẽ vị trí phân lô chi tiết tỉ lệ 1/500 của Công ty Q giao cho ông Á.
  • Chiều dài cạnh bị sai, cạnh phía Tây giáp đường chiều dài từ 17,48m bị thay đổi xuống còn 17,01m.

Nền đất của ông Á không bị chi phối điều chỉnh bởi các văn bản của các cơ quan có thẩm quyền được ban hành sau thời điểm tháng 10/2003, cụ thể là Quyết định số 1324/QĐ-UBND ngày 24/3/2010 về phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chi tiết tỉ lệ 1/500, bản đồ hiện trạng vị trí phân lô số 34260/GĐ-TNMT của Sở T4 kiểm duyệt ngày 18/11/2011. Từ sau tháng 6/2011 thì đất ở và đất giao thông đều tăng lên, nên Ủy ban nhân dân Quận B2 và Công ty TNHH MTV D lấy lý do điều chỉnh quy hoạch để cắt xén nền đất E01 bán cho chủ nền đất E02 là trái pháp luật được quy định tại Điều 46, Điều 86 của Luật đất đai và vi phạm pháp luật dân sự về quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được quy định tại Điều 161, Điều 163, Điều 223, Điều 238 của Bộ luật Dân sự.

Ông Á không thuê Công ty cổ phần T5 lập bản đồ thửa đất, ông không ký xác nhận vào bản đồ lập bởi công ty này trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B055892 ngày 31/7/2013 cấp cho ông Á và bà H1. Ông Á giao nộp hồ sơ làm thủ tục cấp giấy chứng nhận cho Công ty TNHH MTV D không có bản đồ thửa đất lập bởi Công ty cổ phần T5 (Theo Biên nhận hồ sơ ngày 21/8/2012).

Do mục III sơ đồ thửa đất của giấy chứng nhận có nhiều điểm sai không đúng nên ông Á, ông B đã gửi đơn khiếu nại đến Ủy ban nhân dân Quận B2 về việc Công ty TNHH MTV D giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có sơ đồ và diện tích không đúng, tự cắt lấy nền nhà của ông Á, ông B bán cho người khác. Ngày 24/4/2019, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận B2 ban hành Văn bản số 1411/UBND-TNMT trả lời đơn khiếu nại của ông Á và ông B. Không đồng ý với văn bản trên nên ông Á, ông B nộp đơn khởi kiện đến Tòa án, yêu cầu giải quyết các yêu cầu sau:

  • Hủy Mục III. Sơ đồ thửa đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất BP 055892, số vào sổ cấp GCN: CH03946 do Ủy ban nhân dân Quận B2 cấp ngày 31/7/2013, được cập nhật biến động ngày 29/10/2013 vì làm thay đổi vị trí thửa đất, làm lệch ranh thửa đất, bị thiếu diện tích đất thực tế, xâm lấn sang đất của lộ giới và đất của người khác. Từ đó, buộc Ủy ban nhân dân Quận B2 có trách nhiệm khắc phục hậu quả, dựng lại sơ đồ nền đất nhà ở E01 trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP055892 đúng vị trí cột mốc đã được xây dựng tường bao quanh kiên cố, ghi đủ diện tích đất của Dự án và hình thể đã ghi nhận trong biên bản giao nhận nền đất nhà ở ngày 24/10/2003, đúng với Bản vẽ mặt bằng tổng thể phân lô vị trí nền số E9 (17) Dự án Khu nhà ở CBCNV của Công ty Q giao cho ông Á và Bản đồ quy hoạch giao thông chia lô tỷ lệ 1/500 dự án Khu nhà ở cán bộ, công nhân viên, phường A, Quận B của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận B2 và Kiến trúc sư trưởng thành phố H duyệt theo Văn bản số 7349/KTST-ĐB2 ngày 19/6/1999 và có trách nhiệm bồi thường thiệt hại, khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp của ông bị xâm phạm bởi Mục III của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở nêu trên.
  • Yêu cầu hủy bỏ Văn số 1411/UBND-TNMT ngày 24/4/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận B2 trả lời đơn khiếu nại của ông Á và ông B (Văn bản số 1411) có nội dung không đúng sự thật, vi phạm pháp luật và buộc Ủy ban nhân dân Quận B2 có trách nhiệm khắc phục hậu quả do không giải quyết khiếu nại là trái pháp luật.

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và biên bản đối thoại, người khởi kiện ông Nguyễn Ngọc B trình bày:

Ông có cùng ý kiến và yêu cầu khởi kiện giống như ông Á.

Ông không đồng ý với ý kiến của Công ty TNHH MTV D và các văn bản của người bị kiện như: Văn bản số 1435/UBND-TNMT ngày 25/4/2020 của Ủy ban nhân dân Quận B2; Văn bản số 1390/UBND-TNMT ngày 23/4/2020 của Ủy ban nhân dân Quận B2, Văn bản số 435/UBND-QLĐT ngày 18/02/2020 của Ủy ban nhân dân Quận B2 về thỏa thuận thiết kế công trình xây dựng mặt đường a dựa trên Văn bản số 905/TTr-CI.2 ngày 26/7/2019; Văn bản số 1120/CI.2-ĐTPT ngày 18/9/2019 của Công ty TNHH MTV D; Văn bản số 1411/UBND-TNMT ngày 24/4/2019 của Ủy ban nhân dân Quận B2 trả lời đơn khiếu nại và những văn bản khác có nội dung liên quan với các văn bản trên của Ủy ban nhân dân Quận B2 vì các văn bản này vi phạm pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông.

Căn cứ Biên bản thanh lý hợp đồng 37/BBTL-CI.2-KHKD ngày 07/6/2013 để thanh lý Hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất số 37/HĐ-PTN-KD và Phụ lục Hợp đồng số 01/37/PLHĐ-CI.2-KHKD thì cả phụ lục hợp đồng và biên bản này không kèm theo Bản đồ hiện trạng vị trí phù hợp với thực tế vì từ ngày 24/10/2003 trở đi thì ông Á đã nhận bàn giao sở hữu quản lý sử dụng nền nhà E9 (17) theo Bản đồ chi tiết phân lô của Công ty Q (Nay là Công ty TNHH MTV D) kèm theo Hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất ký ngày 10/7/2003 giữa Công ty và ông Á.

Bản đồ hiện trạng vị trí (Để lập giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) do Công ty cổ phần T5 thực hiện ngày 28/10/2011 là vi phạm pháp luật, cụ thể như sau:

  • Bản đồ này không có chữ ký xác nhận của người có thẩm quyền và con dấu của chủ đầu tư dự án là vi phạm nội dung bản vẽ.
  • Chữ ký của ông Á là chủ sử dụng đất không kèm theo thời gian và địa điểm ký tên, có dấu hiệu giả mạo.
  • Bản đồ ghi nhận căn cứ giao đất dựa vào Quyết định số 1324/QĐ-UBND ngày 24/3/2011 của Thủ tướng Chính Phủ thuộc Bộ T6 địa chính năm 2003, nhưng Thủ tướng không ban hành văn bản có số hiệu như trên và không thể ban hành văn bản năm 2011 để đưa vào hồ sơ địa chính năm 2003.
  • Không ghi nhận bất kỳ quy hoạch được phê duyệt nào của dự án cụ thể là Quyết định 7763/QĐ-UBND ngày 17/6/2011 của Ủy ban nhân dân Quận B2 và Văn bản số 7349/KTST-ĐB2 ngày 19/6/1999 của Kiến trúc sư trưởng Thành phố H.
  • Ghi nhận lô E01 có ranh phía Bắc giáp với T2 vườn là sai sự thật, không đúng quy hoạch được duyệt tại Quyết định 7763/QĐ-UBND ngày 17/6/2011 của Ủy ban nhân dân Quận B2 và Văn bản số 7349/KTST-DDB2 ngày 19/6/1999 của Kiến trúc sư trưởng Thành phố là không đúng, ranh phía Bắc giáp với vỉa hè rộng 03m của đường a (Đường a có bề rộng mặt đường 10.5m).

Ngoài ra, qua xem xét các văn bản liên quan và quan sát thực tế thì Ủy ban nhân dân Quận B2 và Công ty TNHH MTV D còn xâm phạm đất lộ giới đường a, gây nguy hiểm cho nền nhà của ông Á và người dân qua lại đường a, tự ý thu hẹp vỉa hè, thu hẹp lòng đường, vi phạm quy định về quy hoạch tại Quyết định 7763/QĐ-UBND ngày 17/6/2011 của Ủy ban nhân dân Quận B2 và Văn bản số 7349/KTST-DBB2 ngày 19/6/1999 của Kiến trúc sư trưởng Thành phố H.

Từ các căn cứ nêu trên, ông B có cùng yêu cầu khởi kiện với ông Á là yêu cầu:

  • Hủy Mục III. Sơ đồ thửa đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất BP 055892, số vào sổ cấp GCN: CH03946 do Ủy ban nhân dân Quận B2 cấp ngày 31/7/2013, được cập nhật biến động ngày 29/10/2013 vì làm thay đổi vị trí thửa đất, làm lệch ranh thửa đất, bị thiếu diện tích đất thực tế, xâm lấn sang đất của lộ giới và đất của người khác. Từ đó, buộc Ủy ban nhân dân Quận B2 có trách nhiệm khắc phục hậu quả, dựng lại sơ đồ nền đất nhà ở E01 trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP055892 đúng vị trí cột mốc đã được xây dựng tường bao quanh kiên cố, ghi đủ diện tích đất của Dự án và hình thể đã ghi nhận trong biên bản giao nhận nền đất nhà ở ngày 24/10/2003, đúng với Bản vẽ mặt bằng tổng thể phân lô vị trí nền số E9 (17) Dự án Khu nhà ở CBCNV của Công ty Q giao cho ông Á và Bản đồ quy hoạch giao thông chia lô tỷ lệ 1/500 dự án Khu nhà ở cán bộ, công nhân viên, phường A, Quận B của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận B2 và Kiến trúc sư trưởng thành phố H duyệt theo văn bản số 7349/KTST-ĐB2 ngày 19/6/1999 và có trách nhiệm bồi thường thiệt hại, khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp của ông bị xâm phạm bởi Mục III của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở nêu trên.
  • Yêu cầu hủy bỏ Văn bản số 1411/UBND-TNMT ngày 24/4/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận B2 trả lời đơn khiếu nại của ông Á và ông B có nội dung không đúng sự thật, vi phạm pháp luật và buộc Ủy ban nhân dân Quận B2 có trách nhiệm khắc phục hậu quả do không giải quyết khiếu nại là trái pháp luật.

Người bị kiện Ủy ban nhân dân Quận B2 và Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận B2 trình bày ý kiến tại Văn bản 1435/UBND-TNMT ngày 25/4/2020 như sau:

  • Về pháp lý dự án khu nhà ở cán bộ công nhân viên do Công ty TNHH Một thành viên D làm chủ đầu tư tại phường A, Quận B:

Ngày 19/6/1999, Kiến trúc sư trưởng thành phố có Công văn số 7349/KTST-ĐB2 thỏa thuận quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 dự án xây dựng khu nhà ở tại phường A, Quận B do Công ty Q (Nay là Công ty TNHH MTV D) làm chủ đầu tư với quy mô 40.442m² đất, trong đó cơ cấu sử dụng đất xác định như sau:

Đất ở: 19.212m².

Đất cây xanh công cộng: 11.320m².

Đất giao thông: 9.910m².

Ngày 15/3/2001, Thủ tướng Chính phủ bàn hành Quyết định số 281/QĐ-TTg thu hồi 33.995m² đất tại phường A, Quận B và giao 33.823m² cho Công ty D để đầu tư xây dựng khu nhà ở CBCNV.

Ngày 24/3/2010, Ủy ban nhân dân Thành phố ban hành Quyết định số 1324/QĐ- UBND về giao đất bổ sung và điều chỉnh Quyết định số 281/QĐ-TTg ngày 15/3/2001 của Thủ tướng Chính phủ như sau:

Giao bổ sung thêm 3.890,7m² đất tại phường A, Quận B cho Công ty TNHH MTV D. Diện tích giao đất tại Quyết định số 281/QĐ-TTg ngày 15/3/2001 của Thủ tướng Chính phủ được điều chỉnh là 32.180,7m². Diện tích chênh lệch giữa thu hồi và giao thuộc đất quy hoạch giao thông khu vực do Nhà nước quản lý. Tổng diện tích khu đất điều chỉnh và giao bổ sung thêm là 36.071,4m².

Trong đó, cơ cấu sử dụng đất tạm xác định như sau:

Đất ở: 22.543m².

Đất công trình công cộng: 13.528,4m².

Ngày 17/6/2011, Ủy ban nhân dân Quận B2 ban hành Quyết định số 7763/QĐ- UBND duyệt điều chỉnh quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 dự án trên với cơ cấu sử dụng đất như sau:

Đất ở: 22.661,96m².

Đất công viên cây xanh: 3.184,47m².

Đất giao thông: 11.392,18m².

  • Về việc Công ty TNHH MTV D và ông Á ký hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất tại lô đất số 17 (Nền E01):

Ngày 12/01/2000, Ủy ban nhân dân Quận B2 có Thông báo số 33/TB-UB về xét duyệt danh sách cán bộ công nhân viên đăng ký mua nền nhà đợt 01 (Trong đó ông Á được giải quyết đợt 01).

Ngày 07/10/2003, Công ty Q lập Hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất số 37/HĐ-PTN-KD với ông Á, theo đó Công ty Q chuyển quyền sử dụng đất cho ông Á lô số 17 (E01) tại Dự án khu nhà ở CBCNV 4ha phường A, Quận B, loại nhà là biệt thự, với tổng diện tích đất 390,6m², sau đó Công ty Q có Biên bản bàn giao lô đất số 17 cho ông Á.

Ngày 07/6/2013, Công ty TNHH MTV D và ông Á ký Phụ lục Hợp đồng số 01/37/PLHĐ-CI2-KHKD của Hợp đồng số 37/HĐ-PTN-KD ngày 07/10/2003, theo đó có nội dung điều chỉnh diện tích nền đất E01 từ 390,6m² thành 392,1m² (Tăng 1,5m²).

Ngày 07/6/2013, Công ty TNHH MTV D và ông Á lập Biên Bản thanh lý hợp đồng số 37/BBTL-CI2-KHKD.

  • Về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với nền E01 của ông Á:

Ngày 07/6/2013, ông Á và bà H1 có đơn gửi Ủy ban nhân dân Quận B2 đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại nền đất E01 (thuộc thửa đất số 66, tờ bản đồ số 78, phường A, Quận B với diện tích 392,1m²). Tại Bản đồ hiện trạng vị trí (để lập giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở) số 37-E1/TVĐĐCL- 2011 do Công ty Cổ phần T5 lập ngày 23/12/2011, ông Á đã ký tên chủ sử dụng đất để xác định ranh đất, diện tích của phần đất 392,1m² và đề nghị Ủy ban nhân dân Quận B2 cấp giấy chứng nhận. Ngày 31/7/2013, Ủy ban nhân dân Quận B2 đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BP 055892 (số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 03946) cho ông Á, bà H1 lô đất E01, thuộc thửa đất số 66, tờ bản đồ số 78, phường A, Quận B với diện tích 392,1m².

Có thể thấy, sau khi thanh lý hợp đồng, công ty Q đã tiến hành làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận, ngày 31/7/2013 Ủy ban nhân dân Quận B2 cấp giấy chứng nhận số BP 055892 cho ông Á trên cơ sở hồ sơ do Công ty và ông Á cung cấp. Sau khi nhận Giấy chứng nhận số BP 055892, ông Á và bà H1 không có ý kiến gì đối với Mục III của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; nên ngày 25/9/2013 tại Phòng C Thành phố Hồ Chí Minh, ông Á và bà H1 đã ký hợp đồng số 025968 tặng cho ông B và bà N quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nêu trên (Đã được Văn Phòng Đ cập nhập biến động ngày 29/10/2013).

[3.3] Xét việc Ủy ban nhân dân Quận B2 cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cơ sở căn cứ vào pháp lý của dự án, Quyết định số 7763/QĐ-UBND ngày 17/6/2011 về duyệt điều chỉnh quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 và Bản đồ hiện trạng vị trí phân lô số 34260/GĐ-TNMT do Sở T4 kiểm duyệt ngày 18/11/2011 (Lập thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) và Hợp đồng chuyển nhượng giữa Công ty D với ông Á và bà H1 để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho ông Á, bà H1 là đúng quy định pháp luật. Ông Á và ông B cho rằng diện tích đất các ông một phần nằm trong lộ giới, tuy nhiên căn cứ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất các ông được cấp thì không thể hiện có sự chồng lấn như lời trình bày của hai ông. Đồng thời, ông Á và ông B cũng không cung cấp được chứng cứ để chứng minh cho lời trình bày của mình.

[4] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Á và ông B là có căn cứ, đúng pháp luật. Ông Á và ông B kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ nào khác so với cấp sơ thẩm nên không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo; cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[5] Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6] Án phí hành chính phúc thẩm: do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên ông Á và ông B phải chịu án phí theo quy định. Riêng ông Á là người cao tuổi, thuộc trường hợp được miễn án phí nhưng không có đơn xin miễn theo quy định nên phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 điều 241 Luật tố tụng hàng chính năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UNTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện ông Nguyễn Văn Á và ông Nguyễn Ngọc B; giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 1266/2023/HC-ST ngày 26 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Về án phí hành chính phúc thẩm: ông Nguyễn Văn Á và ông Nguyễn Ngọc B mỗi người phải chịu 300.000 đồng; được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo các biên lai thu tiền số 0001940 và 0001941 cùng ngày 22/8/2023 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSNDCC tại TP. HCM;
  • - Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND TP. Hồ Chí Minh;
  • - Cục THADS TP. Hồ Chí Minh;
  • - Các đương sự (7);
  • - Lưu: HS (2), VP (5), 19b (NVC).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn An

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 884/2024/HC- PT ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định hành chính

  • Số bản án: 884/2024/HC- PT
  • Quan hệ pháp luật: khiếu kiện quyết định hành chính
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ông Ấ, ông B kiện việc UBND, CT UBND thành phố cấp GCNQSDĐ không đúng hợp đồng mua bán của ông
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger