TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 883/2024/HS- PT Ngày: 24-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
— Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: ông Phạm Năng Thành
Các Thẩm phán: ông Hoàng Nhật Tân, bà Chử Phương Ngọc
Thư ký phiên toà: ông Đỗ Duy Trung- Thư ký Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: bà Lý Thị Mai Phương- Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 09 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 712/2024/TLPT- HS ngày 12 tháng 08 năm 2024 đối với bị cáo Phan Lê S do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 128/2024/HS- ST ngày 17 tháng 06 năm 2024 của Toà án nhân dân quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội.
* Bị cáo kháng cáo: Phan Lê S; tên gọi khác: không; sinh năm 2000, tại Hà Nội; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: thôn Đ, xã Đ, S, Hà Nội; nơi ở trọ khi phạm tội: phòng 302, số A, ngõ G A, phường P, T, Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Phan Văn B và bà Lê Thị T; gia đình có 02 chị em (bị cáo là con thứ hai); chưa có vợ, con; chưa có tiền án, tiền sự; không bị tạm giam, tạm giữ ngày nào và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
* Ngoài ra, còn có những người bị hại (anh Nguyễn Việt T1 và chị Đồng Thị H): không kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị; đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phan Lê S cùng làm việc với anh Nguyễn Việt T1 và chị Đồng Thị H tại Công ty Cổ phần Đ (địa chỉ: tầng E tòa A- số C L, T, Hà Nội); S nảy sinh ý định thuê xe máy của anh T1 và chị H rồi đem cầm cố để lấy tiền chi tiêu cá nhân.
Khoảng 11 giờ ngày 11/10/2023, S nói với anh Nguyễn Việt T1 cho S thuê chiếc xe mô tô Yamaha Exiter màu xám xanh (BKS: 36G1-) của anh T1 để đi chơi ở tỉnh ngoài trong 03 ngày (từ ngày 11/10/2013 đến ngày 13/10/2023) thì trả xe, phí thuê xe là 300.000 đồng/ngày, do đi xa nên cũng cần cả Giấy đăng ký xe. Tin tưởng S nên anh T1 đã giao xe cùng Giấy đăng ký xe cho S tại tòa nhà A. Sau đó, S đem xe đến cửa hàng cầm đồ tại số H Q (phường N, T, Hà Nội) cầm cố cho Phạm Anh T2 để vay 10.000.000 đồng, lãi suất tính theo ngày đối với 01 triệu đồng là 1.000 đồng, với thời hạn cầm cố là 01 tháng; khi cầm cố xe, S nói dối chiếc xe mô tô trên là của người nhà và do cần tiền gấp nên cầm cố xe trong thời gian ngắn.
Khoảng 14 giờ cùng ngày 11/10/2023, S tiếp tục hỏi thuê chiếc xe mô tô Honda Vision màu trắng (BKS: 36C) của chị Đồng Thị H trong thời hạn 03 ngày (từ ngày 11/10/2023 đến ngày 13/10/2023), phí thuê xe là 400.000 đồng/ngày, do đi xa nên cần cả Giấy đăng ký xe. Tin tưởng S nên chị H đồng ý cho thuê xe, giao chìa khóa xe và đăng ký xe cho S tại tầng E tòa nhà A. Ngay sau đó, S lại đem xe đến Cửa hàng cầm đồ tại 87 Quan Nhân cầm cố cho Phạm Anh T2 được 22.000.000 đồng; khi cầm cố xe, S nói dối chiếc xe mô tô trên là của người nhà và do cần tiền gấp nên đem đi cầm cố trong thời gian ngắn.
Ngày 13/10/2023, chị H và anh T1 đều yêu cầu trả lại xe nhưng S nói dối chưa lấy xe về được, hẹn đến ngày 15/10/2023 sẽ giao xe. Sáng ngày 15/10/2023, S nói dối là đã đưa 02 chiếc xe trên cho người yêu S đem đi cầm cố và hẹn đến chiều sẽ trả lại xe. Đến ngày 16/10/2023 (bút lục 48- 65), do S vẫn chưa trả lại xe nên anh T1 và chị H đã đến Công an phường K trình báo. Ngày 28/10/2023, S nhờ mẹ là bà Lê Thị T nên bà T đã đến cửa hàng của T2, trả 32.000.000 đồng và chuộc lại 02 chiếc xe mô tô trên cùng đăng ký xe, trả lại xe cho anh T1 và chị H.
Theo Kết luận định giá tài sản số 03 ngày 09/01/2024, Hội đồng định giá kết luận (bút lục 98- 103): Xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, dung tích: 109,5 cc; màu trắng; BKS: 36C2...; xuất xứ: Việt Nam; đăng ký lần đầu ngày: 06/4/2023 trị giá là 33.000.000 đồng (thời điểm tháng 10 năm 2023). Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exiter, dung tích: 150 cc; màu xám xanh; BKS: 36G1 ...; xuất xứ: Việt Nam; đăng ký lần đầu ngày: 01/6/2018 trị giá 20.000.000 đồng (thời điểm tháng 10 năm 2023). Tổng giá trị tài sản do Phan Lê S chiếm đoạt là 53.000.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra, Phan Lê S khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. S còn khai nhận: ngày 16/8/2023, Phan Lê S đã mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đỏ đen (BKS:29L5-...) của anh Đỗ Anh H1 (sinh năm 2000; HKTT: thôn H, xã T, H, Thái Bình), trị giá xe là 6.800.000 đồng (là bạn học cùng Đại học T4- Môi trường với S) nói đi có việc riêng hẹn đến ngày 17/8/2023 sẽ trả lại xe. H1 đã giao xe cùng với Giấy đăng ký xe cho S. Sau đó, S đã đem xe đến cửa hàng cầm đồ tại số H Q cầm cố cho Phạm Anh T2 để lấy 5.000.000 đồng để tiêu xài. Ngày 24/8/2023, S đã chuộc xe và trả xe cho anh H1 cùng đăng ký xe.
Đối với hành vi của Phan Lê S liên quan chiếc xe Honda Wave RSX: anh Đỗ Anh H1 có biết việc S cầm cố xe và đã được nhận lại tài sản, sự việc đã được giải quyết xong; anh H1 không trình báo với Cơ quan Công an và không yêu cầu xử lý đối với S. Do vậy, Cơ quan điều tra không xử lý đối với Phan Lê S về hành vi liên quan đến chiếc xe máy Honda Wave RSX (BKS: 29L5- 002.18) của anh Đỗ Anh H1.
Đối với Phạm Anh T2: kết quả điều tra xác định cửa hàng cầm đồ tại số H Q (N, T, Hà Nội) do Phạm Anh T2 và anh Nguyễn Ngọc H2 (sinh năm 1996; HKTT: Nhân Chính, T, Hà Nội) thành lập vào tháng 03 năm 2023; anh H2 đứng tên chủ đăng ký kinh doanh “Hộ kinh doanh Anh Tú cầm đồ”; còn T2 làm quản lý cửa hàng. Phạm Anh T2 đã nhận cầm cố chiếc xe mô tô Yamaha Exiter (BKS: 36G1- 312.37) và chiếc xe mô tô Honda Vision (BKS: 36C2- 273.97) nhưng đều không biết các xe trên là tài sản do Phan Lê S phạm tội mà có; nên Cơ quan điều tra không đề nghị xử lý về hình sự đối với Phạm Anh T2.
Phạm Anh T2 biết rõ Phan Lê S không phải là sở hữu 02 xe mô tô nhưng vẫn nhận cầm cố xe mà không có ý kiến của chủ sở hữu; hành vi của Phạm Anh T2 đã vi phạm điểm 1 khoản 3 Điều 12 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ nên ngày 14/3/2024 (bút lục 112- 114), Ủy ban nhân dân quận T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với “Hộ kinh doanh Anh Tú cầm đồ”, theo hình thức phạt tiền là 8.750.000 đồng; Hộ kinh doanh đã nộp phạt cùng ngày 14/3/2024.
Những người bị hại là anh Nguyễn Việt T1 và chị Đồng Thị H đều đã nhận lại tài sản là chiếc xe mô tô bị chiếm đoạt, không có yêu cầu bồi thường bổ sung và có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Phan Lê S.
* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 128/2024/HS- ST ngày 17/6/2024, Toà án nhân dân quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Phan Lê S phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174, các điểm b và s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Phan Lê S 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 27/6/2024, bị cáo Phan Lê S có đơn kháng cáo với nội dung đề nghị giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.
* Tại phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội phân tích về nội dung vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên quyết định về hình phạt của Bản án sơ thẩm: áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174, các điểm b và s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Phan Lê S 24 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Đơn kháng cáo của bị cáo Phan Lê S phù hợp các Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự về chủ thể và thời hạn kháng cáo nên Hội đồng xét xử xét kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Lời khai nhận của bị cáo Phan Lê S tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp lời khai của bị cáo tại cấp sơ thẩm, lời khai của các bị hại và người làm chứng, phù hợp các vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định, định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án- Đủ cơ sở kết luận: do cần tiền chi tiêu cá nhân nên ngày 11/10/2023, tại địa chỉ của Công ty Cổ phần Đ (số C L, T, Hà Nội), Phan Lê S đã sử dụng thủ đoạn gian dối là thuê các xe mô tô trong thời hạn 03 ngày để nhận và chiếm đoạt 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exiter màu xám xanh (BKS: 36G1- 312.37; trị giá 20.000.000 đồng) của anh Nguyễn Việt T1 và 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu trắng (BKS:36C2- 273.97; trị giá 33.000.000 đồng) của chị Đồng Thị H, với tổng trị giá tài sản đã chiếm đoạt là 53.000.000 đồng; hành vi của Phan Lê S đã phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự; Bản án sơ thẩm đã quy kết bị cáo Phan Lê S theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phan Lê S thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của bản thân, đúng như quy kết của Bản án sơ thẩm, ăn năn hối cải, đề nghị được giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.
Bị cáo Phan Lê S có nhân thân tốt, phạm tội độc lập và không có đồng phạm; bị cáo Phan Lê S “phạm tội 02 lần trở lên”, “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” và “tự nguyện khắc phục hậu quả”, là các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 và các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và đã được Bản án sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo Phan Lê S. Tại cấp phúc thẩm, Hội đồng xét xử xem xét bổ sung về việc: “bị cáo có nhân thân tốt và lần đầu phạm tội”, “những người bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo” và gia đình bị cáo là “gia đình có công với Cách M”, cụ thể: ông, bà ngoại của bị cáo đều tham gia Kháng chiến Bảo vệ Tổ Quốc, ông ngoại của bị cáo (cụ Lê Đình C) được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba, bà ngoại của bị cáo (cụ Phan Thị T3) được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhất; đều là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Phan Lê S theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bản án sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Phan Lê S 24 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là có căn cứ và tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, hậu quả xảy ra, trị giá tài sản chiếm đoạt, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; vì vậy, không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo giảm nhẹ hình phạt của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy: bị cáo Phan Lê S có nhân thân tốt, đã khắc phục toàn bộ hậu quả và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tuy bị cáo phạm tội 02 lần nhưng tại mỗi lần phạm tội đều là tội phạm ít nghiêm trọng, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và bị cáo có đủ các điều kiện theo quy định tại Nghị quyết số 02/2018/NQ- HĐTP ngày 15/5/2018 (được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022) của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo, sửa Bản án sơ thẩm về biện pháp chấp hành hình phạt tù, cho bị cáo hưởng án treo, chịu sự giám sát của chính quyền địa phương trong thời gian thử thách, cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và phòng ngừa chung; thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội ăn năn hối cải về hành vi phạm tội và tích cực bồi thường, khắc phục hậu quả.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định tại Điều 343 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Yêu cầu kháng cáo được chấp nhận và Cấp phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm nên nên bị cáo Phan Lê S không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm theo điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự,
QUYẾT ĐỊNH:
Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 128/2024/HS- ST ngày 17/6/2024 của Toà án nhân dân quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội đối với bị cáo Phan Lê S:
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174, các điểm b và s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, các Điều 38 và 65 Bộ luật Hình sự;
- Xử phạt bị cáo Phan Lê S 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 48 (bốn mươi tám) tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
+ Giao bị cáo Phan Lê S cho Ủy ban nhân dân xã Đ, thị xã S, Thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
+ Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.
Bị cáo Phan Lê S không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Quyết định khác của Bản án sơ thẩm về án phí hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA PHẠM NĂNG THÀNH |
Bản án số 883/2024/HS- PT ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 883/2024/HS- PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Phan Lê S phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
