|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 881/2024/HNGĐ-ST Ngày: 30/9/2024 V/v "Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Hương Giang
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Quang Cảnh
- Ông Lê Ngọc Thanh
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Vân – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Võ Ngọc Liên Hương – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 382/2024/HNST ngày 03 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1027/2024/QĐXXST-HN ngày 06 tháng 8 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 1383/2024/QĐST- HNGĐ ngày 05 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trương Thị Thúy H, sinh năm 1980 (có mặt)
- Bị đơn: Ông Trần Bằng K, sinh năm 1980 (vắng mặt)
Địa chỉ: P Chung cư Đ, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: P Chung cư Đ, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 19 tháng 4 năm 2024, bản tự khai và tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nguyên đơn bà Trương Thị Thúy H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trương Thị Thúy H và ông Trần Bằng K tự nguyện sống chung, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 21, quyển số 11/2008, ngày 13/02/2008 do Ủy ban nhân dân phường N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình cấp.
Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau khoảng năm năm thì thường phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tư duy, lối sống không phù hợp. Hai vợ chồng đã sống ly thân gần một năm qua. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà H yêu cầu được ly hôn với ông K.
- Về con chung: Vợ chồng có hai con chung tên Trần Thùy Hải N, sinh ngày 05/01/2009 và Trần Thùy Hải N1, sinh ngày 17/5/2016. Khi ly hôn, bà H yêu cầu được nuôi cả hai con chung và không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Bà H xác nhận vợ chồng không có tài sản chung.
- Về nghĩa vụ dân sự khác: Bà H xác nhận vợ chồng không có nợ chung.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Trần Bằng K đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng ông K không nộp cho Tòa án văn bản ghi nhận ý kiến cũng như vắng mặt tại tất cả các lần triệu tập của Tòa án mà không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan và không có yêu cầu giải quyết vắng mặt theo quy định. Do đó, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo luật định
Tại phiên tòa sơ thẩm:
- Nguyên đơn bà Trương Thị Thúy H vẫn giữ nguyên toàn bộ yêu cầu khởi kiện.
- Bị đơn ông Trần Bằng K vắng mặt không lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan và không có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
* Đại diện Viện kiểm sát đã phát biểu ý kiến với nội dung chính như sau:
- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng về thẩm quyền thụ lý vụ án; xác định quan hệ tranh chấp; xác định tư cách pháp lý; thu thập chứng cứ; thời gian tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự; thời hạn chuẩn bị xét xử; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 21, quyển số 11/2008, ngày 13 tháng 02 năm 2008 do Ủy ban nhân phường N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình cấp, xác
định quan hệ giữa bà Trương Thị Thúy H và ông Trần Bằng K là quan hệ hôn nhân được pháp luật công nhận. Nay bà H yêu cầu ly hôn, ông K hiện đang cư trú tại quận T, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự tại phiên tòa sơ thẩm:
Bị đơn ông Trần Bằng K đã được Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định tại các Điều 171, Điều 177, Điều 179; Điều 196, Điều 208, Điều 220, Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhưng ông K đều vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan và không có yêu cầu giải quyết vắng mặt theo quy định. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về yêu cầu của đương sự:
Tại phiên tòa ông Trần Bằng K không có mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết theo quy định pháp luật. Ông Trần Bằng K phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
Bà Trương Thị Thúy H yêu cầu ly hôn với ông Trần Bằng K.
Căn cứ vào bản tự khai của nguyên đơn và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử xét thấy giữa bà Trương Thị Thúy H và ông Trần Bằng K thực tế đã có mâu thuẫn về tính cách, lối sống, hai bên hiện không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau khiến cho tình cảm vợ chồng giữa bà H và ông K ngày càng lạnh nhạt. Mặt khác, trong suốt quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng ông Trần Bằng K vẫn không đến Tòa và không có ý kiến bằng văn bản nộp cho Tòa án, tất cả những việc này thể hiện ông K đã không còn thiết tha trong việc hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nay bà H xác nhận không còn tình cảm với ông K.
Hội đồng xét xử xét thấy, nguyên tắc cơ bản của hôn nhân là tự nguyện, mục đích hôn nhân là “vợ chồng cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc”, trong trường hợp này giữa bà H và ông K đã không còn tình cảm, không còn khả năng hàn gắn, mâu thuẫn đã thật sự trầm trọng. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà H.
[2.2] Về con chung:
Ông Trần Bằng K không có văn bản trình bày về việc nuôi con.
Bà H xác nhận vợ chồng có hai con chung tên Trần Thùy Hải N, sinh ngày 05/01/2009 và Trần Thùy Hải N1, sinh ngày 17/05/2016. Khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi cả hai con chung và không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con.
Hội đồng xét xử xét thấy việc giao con cho ai nuôi phải dựa vào quyền lợi và nguyện vọng của trẻ, yêu cầu nuôi con của bà H là phù hợp với nguyện vọng của trẻ, đồng thời hiện nay hai trẻ đang do bà H trực tiếp nuôi dưỡng nên căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con chung: ông K vắng mặt và không trình bày ý kiến về việc cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét. Bà H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho ông K.
[2.4] Về tài sản chung: Bà H xác nhận vợ chồng không có tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này ông K có căn cứ cho rằng hai bên có tài sản chung thì sẽ được giải quyết bằng một vụ kiện khác theo quy định pháp luật.
[2.5] Về nghĩa vụ dân sự khác: Bà H xác nhận không có nợ chung. Nếu sau này ông K có căn cứ cho rằng hai bên có nợ chung thì sẽ được giải quyết bằng một vụ kiện khác theo quy định pháp luật.
[3] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú về việc giải quyết vụ án là có cơ sở, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[4] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:
Bà Trương Thị Thúy H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, khoản 1 Điều 147, Điều 171, Điều 177, Điều 179, Điều 196, Điều 208, Điều 220, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 233, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều Điều 278, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110, Điều 116 và Điều 117 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Thị Thúy H.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trương Thị Thúy H được ly hôn với ông Trần Bằng K.
Quan hệ hôn nhân giữa bà Trương Thị Thúy H và ông Trần Bằng K (theo Giấy chứng nhận kết số 21, quyển số 11/2008 ngày 13 tháng 02 năm 2008 do Ủy ban nhân dân phường N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình cấp) chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung: Bà Trương Thị Thúy H trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung tên Trần Thùy Hải N, sinh ngày 05/01/2009 và Trần Thùy Hải N1, sinh ngày 17/05/2016. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho ông K do bà H không yêu cầu.
- + Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng do các bên tự thỏa thuận. Nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu tòa án giải quyết.
- + Ông Trần Bằng K có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- + Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha mẹ hoặc cá nhân, tổ chức (người thân thích, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội L), Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về tài sản chung: Bà Trương Thị Thúy H xác nhận vợ chồng không có tài sản chung nên không xem xét. Nếu sau này ông Trần Bằng K có căn cứ cho rằng hai bên có tài sản chung thì sẽ được giải quyết bằng một vụ kiện khác theo quy định pháp luật.
- Về nghĩa vụ khác: Bà Trương Thị Thúy H xác nhận không có nợ chung. Nếu sau này ông Trần Bằng K có căn cứ cho rằng hai bên có nợ chung thì sẽ được giải quyết bằng một vụ kiện khác theo quy định pháp luật.
2. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:
Bà Trương Thị Thúy H phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí bà H đã nộp theo biên lai thu số 0008052 ngày 03 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú.
Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
3. Về quyền kháng cáo, kháng nghị:
Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi Tòa tuyên án mà có lý do chính đáng được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6;7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hương Giang |
Bản án số 881/2024/HNGĐ-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 881/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu nguyên đơn
