Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 88/2023/DS-PT

Ngày 30/11/2023

"V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng,

hợp đồng thế chấp"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Yển

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hải Bằng và bà Đoàn Thị Hương Nhu.

- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Thu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tưởng - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 96/2023/TLPT-DS ngày 02/11/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp”, do bản án Dân sự sơ thẩm số 04/2023/DS-ST ngày 09/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bình Giang bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 79/2023/QĐXX-PT ngày 07/11/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 58/2023/QĐPT-DS ngày 28/11/2023 giữa:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần V1.

    Địa chỉ: H L, Phường L, Quận Đ, TP Hà Nội.

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Vương Văn T; ông Đỗ Hùng V; ông Đào Đức Quang T1. (Văn bản ủy quyền số 258 ngày 22/8/2023).

  2. Bị đơn: Anh Nguyễn Công T2, sinh năm 1989 và Chị Nguyễn Thị T3, sinh năm 1989; Đều có địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện B, tỉnh Hải Dương.
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    Ông Nguyễn Đình Đ, sinh năm 1964 và bà Phạm Thị H, sinh năm 1964; Đều có địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện B, tỉnh Hải Dương.

    Người đại diện theo ủy quyền của bà Phạm Thị H: ông Nguyễn Đình Đ.

  4. Người kháng cáo: Nguyên đơn Ngân hàng TMCP V1.

    (Tại phiên tòa có mặt ông Đào Đức Quang T1; các đương sự khác vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và lời khai tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn là Ngân hàng thương mại cổ phần V1 trình bày:

Anh Nguyễn Công T2 và chị Nguyễn Thị T3 vay vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần V1 (sau đây viết tắt là V2) với 4 khoản vay như sau:

  1. Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không TSBĐ, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử ký ngày 21/12/2017, cụ thể như sau: Số tiền cho vay: 95,000,000 đồng; Thời hạn vay: 36 tháng; Mục đích vay: Phục vụ nhu cầu đời sống & mua bảo hiểm dư nợ tín dụng; Lãi suất vay: trong hạn 20%/năm; Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn. Ngày 22/12/2017, Ngân hàng đã giải ngân số tiền này cho bên vay.
  2. Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không TSBĐ, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử ký ngày 11/09/2017, cụ thể như sau:

    Số tiền cho vay: 50,000,000 đồng; Thời hạn vay: 36 tháng ; Mục đích vay: Mua sắm vật dụng gia đình; Lãi suất vay: 20%/năm; Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn. Ngày 13/9/2017 bên cho vay đã giải ngân khoản vay này.

  3. Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không TSBĐ, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử ký ngày 08/08/2018, cụ thể như sau: Số tiền cho vay theo đề nghị: 200,000,000 đồng. Tuy nhiên số tiền vay được phê duyệt chỉ là 59.000.000 đồng; Thời hạn vay: 60 tháng; Mục đích vay: Mua sắm vật dụng gia đình; Lãi suất vay: 20%/năm; Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn. Ngày 10/8/2018, bên cho vay đã giải ngân số tiền này.
  4. Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay tiêu dùng cá nhân, vay kinh doanh cá nhân, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, phát hành và sử dụng thẻ ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử ký ngày 24/9/2019, cụ thể như sau: Số tiền cho vay: 173,350,000 đồng; Thời hạn vay: 36 tháng; Lãi suất vay: 34%/năm; Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn. Mục đích vay: Mua vật dụng tiêu dùng và mua bảo hiểm khoản tiền vay. Ngày 26/9/2018 bên cho vay đã giải ngân khoản tiền này.

Mặc dù tiêu đề của các giấy vay trên có ghi là hợp đồng vay không tài sản bảo đảm, nhưng đó là mẫu hợp đồng, còn trên thực tế để bảo đảm cho việc thực hiện các khoản vay, V2 cùng bên vay và bên thế chấp, bảo đảm là anh T2, chị T3, ông Đ, bà H đã ký kết các hợp đồng thế chấp tài sản, gồm:

Tài sản 01: Toàn bộ nhà và đất ở gắn liền với thửa đất số 44, tờ bản đồ số: 05 tại địa chỉ: xã T, huyện B,tỉnh Hải Dương, thuộc quyền sở hữu/sử dụng của ông Nguyễn Đình Đvà vợ là bà Phạm Thị H, theo “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” số CI 119625, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất GCN: CH 00791.TK-BG do UBND huyện B, tỉnh Hải Dương cấp ngày 23/08/2017 đứng tên ông Nguyễn Đình Đ và vợ là bà Phạm Thị H. (Hợp đồng thế chấp sô LN 1709050222445 tại văn phòng C số công chứng: 2830- Quyển số: 06-2017-TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 09/09/2017 ký ngày 11/09/2017).

Tài sản 02: Toàn bộ nhà và đất ở gắn liền với thửa đất số 31 và 32, tờ bản đồ số: 05 tại địa chỉ: xã T, huyện B,tỉnh Hải Dương, thuộc quyền sở hữu/sử dụng của ông Nguyễn Công T2 và bà Nguyễn Thị T3,theo “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” số BM 501458, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất GCN: CH 00780.TK-BG do UBND huyện B, tỉnh Hải Dương cấp ngày 20/03/2014 đứng tên anh Nguyễn Công T2 và chị Nguyễn Thị T3. (Hợp đồng thế chấp số LN 1780010137198 tại văn phòng C. Số công chứng 2543- Quyển số: 05-2017-TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 08/08/2017 ký ngày 08/08/2017).

Sau khi ký kết các hợp đồng tín dụng, V2 đã giải ngân đủ tiền cho vay theo đúng nội dung thỏa thuận bằng các khế ước nhận nợ được ký kết giữa 2 bên. Quá trình thực hiện hợp đồng, anh T2 và chị T3 đã vi phạm hợp đồng về trả nợ lãi hàng tháng. Do vậy, đến ngày 18/7/2022, V3 đã ra thông báo về thu hồi nợ trước hạn cho bên vay, yêu cầu bên vay thanh toán ngay toàn bộ dư nợ gốc, lãi của 4 khoản vay, nhưng bên vay đến nay vẫn không thanh toán đủ.

Do vậy, V2 khởi kiện, yêu cầu Tòa án buộc anh T2, chị T3 phải trả các khoản vay, tính đến ngày 05/9/2023 (ngày xét xử sơ thẩm) cụ thể như sau:

  1. Khoản vay 95.000.000 đồng.

    Tiền nợ gốc: 48.978.942 đồng; T2 nợ lãi: 60.550.978 đồng; Tiền phạt chậm trả lãi: 24.472.687 đồng. Tổng cộng: 134.002.607 đồng.

  2. Khoản vay 50.000.000 đồng.

    Tiền nợ gốc: 21.884.379 đồng; T2 nợ lãi: 25.696.717 đồng; Tiền phạt chậm trả lãi: 10.400.032 đồng. Tổng cộng: 57.981.128 đồng.

  3. Khoản vay 175.350.000 đồng.

    Tiền nợ gốc: 147.368.489 đồng; T2 nợ lãi: 311.987.731 đồng; Tiền phạt chậm trả lãi: 127.704.868 đồng. Tổng cộng: 587.061.088 đồng.

  4. Khoản vay 59.000.000 đồng.

    Tiền nợ gốc : 51.396.645 đồng; Tiền nợ lãi 62.346.753 đồng; T2 phạt chậm trả lãi: 24.938.701 đồng. Tổng cộng: 138.682.099 đồng.

Tổng cộng tất cả các khoản tính đến ngày 05/9/2023 (ngày xét xử sơ thẩm) là 917.726.922 đồng.

Ngoài ra anh T2, chị T3 còn phải tiếp tục trả tiền lãi theo hợp đồng đã thỏa thuận kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi trả xong.

Trường hợp anh T2, chị T3 không trả được nợ thì V2 có quyền đề nghị Cơ quan thi hành án phát mại tài sản bảo đảm để đảm bảo trả nợ vay.

Bị đơn anh Nguyễn Công T2 và chị Nguyễn Thị T3 trình bày: Anh chị nhất trí với nội dung trình bày của V2 về việc ký kết hợp đồng tín dụng. Nhất trí xác định đã nhận được tiền cho vay; nhất trí với yêu cầu trả nợ gốc; nhất trí với các tài liệu V3 cung cấp về các khoản tiền gốc, lãi đã thanh toán là phản ánh đúng sự thực về thanh toán nợ của anh chị. Tuy nhiên, về khoản tiền lãi, tiền phạt chậm trả lãi mà V2 yêu cầu anh chị phải trả, thì đề nghị Tòa án xem xét vì V2 tính quá hạn các khoản vay từ năm 2019, trong khi không có bất cứ thông báo nào cho anh chị về tính lãi quá hạn vào thời điểm năm 2019 để anh chị biết. V2 tính lãi như vậy là nhiều, đề nghị Tòa án xem xét lại. Ngoài ra, anh T2, chị T3 cho rằng, các khoản vay này là khoản vay tín chấp không có bảo đảm nên không đồng ý phát mại tài sản thế chấp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Đình Đ, bà Phạm Thị H xác định ông bà ký kết hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản trên đất như nêu trên, đề nghị Tòa án xem xét, tạo điều kiện cho anh T2, chị T3 trả nợ dần để không bị phát mại tài sản.

Tòa án đã tiến hành việc xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp, xác định tài sản thế chấp là các thửa đất, tài sản trên đất không có tranh chấp và thuộc quyền sử dụng, sở hữu hợp pháp của người thế chấp.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2023/DS-ST ngày 09/9/2023, Tòa án nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương đã căn cứ vào Điều 117, Điều 292, Điều 299, Điều 317, Điều 318, Điều 323, Điều 385 Bộ luật dân sự 2015; Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 167 Luật đất đai 2013; Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ngân hàng N; Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V1 về việc đòi tiền cho vay theo hợp đồng tín dụng. Buộc anh Nguyễn Công T2 và chị Nguyễn Thị T3 phải trả nợ đã vay tại 4 hợp đồng, gồm:

  • Khoản tiền nợ gốc: 269.628.455 đồng.
  • Khoản tiền lãi trong hạn: 81.767.199 đồng
  • Khoản tiền lãi quá hạn: 230.613.791 đồng.
  • Khoản tiền lãi do chậm trả tiền lãi: 59.083.210 đồng
  • Tổng cộng các khoản : 687.400.563 đồng.

2. Không chấp yêu cầu của Ngân hàng TMCP V1 đòi anh T2, chị T3 phải trả số tiền vượt quá số nợ phải trả nêu trên: 230.326.359 đồng.

3. Kể từ ngày tiếp theo của ngày tuyên án sơ thẩm (09/9/2023) cho đến khi thi hành án xong, anh T2 và chị T3 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.

4. Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP V1 về phát mại tài sản: Trong trường hợp anh Nguyễn Công T2, chị Nguyễn Thị T3 không trả được nợ vay như nêu trên, Ngân hàng TMCP V1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự huyện B phát mại tài sản bảo đảm để trả nợ vay, gồm:

Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 44, tờ bản đồ số: 05 tại địa chỉ: xã T, huyện B, tỉnh Hải Dương, diện tích theo giấy chứng nhận 293 m2, thuộc quyền sở hữu/sử dụng của ông Nguyễn Đình Đvà bà Phạm Thị H(Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” số CI 119625, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất GCN: CH 00791.TK-BG do UBND huyện B, tỉnh Hải Dương cấp ngày 23/8/2017). Tại thời điểm xét xử sơ thẩm có các tài sản trên đất như sau: 01 nhà cấp 4; 01 dãy chuồng trại chăn nuôi; 01 khu bếp lợp tôn giáp nhà cấp 4; 01 lán lợp tôn, xây tường; cây cối trên đất; tường bao xung quanh. Toàn bộ tài sản trên nằm trong hiện trạng sử dụng đất 385.7 m2.

Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 31 và 32, tờ bản đồ số: 05, diện tích theo giấy chứng nhận 184 m2, tại địa chỉ: xã T, huyện B, tỉnh Hải Dương, thuộc quyền sở hữu/sử dụng của anh Nguyễn Công T2 và chị Nguyễn Thị T3 (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BM 501458, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất GCN: CH 00780.TK-BG do UBND huyện B, tỉnh Hải Dương cấp ngày 20/3/2014). Tại thời điểm xét xử sơ thẩm có các tài sản trên đất như sau: 01 nhà cấp 4 là nhà ở; 01 nhà cấp 4 lợp tôn là xưởng làm bạc; 01 bể nước; 01 lán lợp tôn kèo sắt; 01 sân trạt bê tông; Toàn bộ tài sản trên nằm trong hiện trạng sử dụng đất: 196,7 m2.

Phạm vi quyền sử dụng đất phát mại là diện tích đất hợp pháp theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. (Có sơ đồ minh họa hiện trạng sử dụng, sở hữu tài sản phát mại kèm theo Bản án). Trường hợp tài sản bảo đảm đã phát mại không đủ để trả hết nợ, anh T2, chị T3 phải tiếp tục trả phần nợ còn lại.

5. Về chi phí tố tụng: Chấp nhận sự tự nguyện của Ngân hàng TMCP V1 chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 12/9/2023, nguyên đơn V2 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm do bản án chưa áp dụng đúng quy định của pháp luật, đưa ra quyết định không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của V2 xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của V2. Đề nghị Tòa án cấp phúc sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị Tòa án buộc anh Nguyễn Công T2 và chị Nguyễn Thị T3 phải thanh toán cho V2 toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi, tiền phạt chậm trả lãi và các khoản phát sinh liên quan theo hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ tính đến ngày 12/9/2023 là 920.378.581 đồng; đề nghị tiếp tục tính lãi theo thỏa thuận giữa hai bên tính đến ngày anh T2, chị T3 thanh toán hết khoản nợ ; trường hợp anh T2, chị T3 không trả được nợ thì V2 có quyền đề nghị Cơ quan thi hành án phát mại tài sản bảo đảm để đảm bảo trả nợ vay.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Đại diện nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn : buộc bị đơn phải thanh toán cho V2 toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi, tiền phạt chậm trả lãi và các khoản phát sinh liên quan theo hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ tính đến ngày 12/9/2023 là 920.378.581 đồng hoặc tính lãi quá hạn kể từ thời điểm hết hạn của các hợp đồng tín dụng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương trình bày: Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý đến khi xét xử; Về quan điểm giải quyết vụ án: Sau khi vị đại diện Viện kiểm sát phân tích các tình tiết của vụ án, các căn cứ xem xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, ý kiến của đương sự, đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 308 BLTTDS, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 04/2023/DS-ST ngày 09/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Bình Giang; Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Kháng cáo của nguyên đơn trong thời hạn luật định là kháng cáo hợp lệ được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Bị đơn anh Nguyễn Công T2, chị Nguyễn Thị T3 và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đình Đ, bà Phạm Thị Hđược triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa 02 lần nhưng đều vắng mặt. Do vậy, HĐXX căn cứ vào khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt anh T2, chị T3, ông Đ và bà H

[2] Về nội dung: Xét nội dung kháng cáo nguyên đơn:

[2.1] Hợp đồng tín dụng ký kết giữa V2 và anh T2, chị T3 là trên cơ sở tự nguyện, thỏa thuận của hai bên. V2 đã thực hiện giải ngân vốn cho vay theo đúng nội dung hợp đồng đã thỏa thuận. Bị đơn xác nhận đã nhận đủ tiền vay, tuy nhiên mới trả được một phần tiền lãi, một phần tiền gốc, sau đó vi phạm thời hạn trả nợ. V2 đã thông báo đến anh T2, chị T3, ông Đ và bà H về thu hồi nợ trước hạn (và cả khoản nợ đã đến hạn) vào thời điểm sớm nhất là ngày 18/7/2022. Theo đó, V2 yêu cầu bên vay trả nợ ngay tất cả các khoản gốc, lãi. Tuy nhiên đến nay, bên vay vẫn chưa thanh toán xong. Như vậy, các bên đương sự đều xác định các hợp đồng tín dụng hai bên ký kết có hiệu lực pháp luật phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa hai bên. Do vậy, V2 khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán tiền gốc, các khoản tiền lãi bên vay chưa trả là có cơ sở. Tuy nhiên, xem xét số tiền gốc, lãi cụ thể mà bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn theo từng hợp đồng tín dụng.

Bị đơn là hộ gia đình, cá nhân sống tại nông thôn, tuy nhiên các khoản vay của bị đơn trong vụ án này đều là khoản vay tiêu dùng có thời hạn lớn hơn 12 tháng, nên căn cứ vào quy định của pháp luật, thì lãi suất các khoản vay này do các bên trong hợp đồng vay thỏa thuận và không bị giới hạn mức tối đa bởi các quyết định của Thống đốc Ngân hàng N như đối với các khoản vay ngắn hạn. Xét thỏa thuận của các đương sự trong các hợp đồng về lãi với các mức lãi suất cụ thể như nêu trên, là hoàn toàn phù hợp quy định của pháp luật (khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng) nên cần chấp nhận các thỏa thuận về mức lãi suất tại hợp đồng tín dụng. Do vậy, V2 khởi kiện đòi lại tiền gốc, các khoản tiền lãi bên vay chưa trả là có cơ sở.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn xác định ngày 28/7/2022 là ngày V2 có văn bản gửi đến bị đơn, xác định cả 4 khoản vay khách hàng đều vi phạm nghĩa vụ trả nợ, phải chịu nợ quá hạn và thu hồi toàn bộ nợ vay của cả 4 khoản vay; khẳng định thông báo này là thông báo đầu tiên về thu hồi nợ trước hạn và về việc khoản nợ là quá hạn) còn trước đó năm 2020 có gửi thông báo, nhưng chỉ là thông báo đôn đốc trả nợ, không phải là thông báo về nợ đến hạn hoặc là thông báo thu hồi nợ trước hạn. Ngoài ra, cũng theo đại diện V2 cho biết, thông báo (năm 2020) này V2 gửi đi nhưng bị chuyển hoàn lại. Bị đơn thừa nhận thông báo này của V2. Do vậy, bản án sơ thẩm căn cứ quy định tại Bộ điều kiện giao dịch chung về cho vay tiêu dùng cá nhân, vay kinh doanh cá nhân dành cho khách hàng tiểu thương của V2 (ban hành kèm theo quyết định số 1039/2018/QĐ-TGĐ ngày 28/12/2018); khoản 11 Điều Điều 2; Điều 20, điều 21, Thông tư số 39 xác định ngày chuyển nợ quá hạn của các khoản vay là ngày V2 ban hành Thông báo chuyển nợ quá hạn đến bị đơn anh T2, chị T3 là ngày 18/7/2022 là chính xác.

Bản án sơ thẩm đã phân tích và tính toán về lãi trong hạn, lãi quá hạn, tiền phạt chậm trả tiền lãi là phù hợp với các quy định của pháp luật và chính xác nên cấp phúc thẩm cần giữ nguyên cách tính lãi trong hạn, lãi quá hạn, tiền phạt chậm trả tiền lãi như cấp sơ thẩm. Cụ thể như sau:

[2.2] Về tiền nợ gốc:

Căn cứ vào tài liệu về việc trả nợ của V2 cung cấp và đã được bị đơn thừa nhận thì có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn đòi các khoản nợ gốc của 4 khoản vay, tổng là 269.628.455 đồng.

[2.3]. Về tiền lãi:

[2.3.1] Về lãi quá hạn:

Từ ngày 17/8/2022 đến ngày tuyên án sơ thẩm 09/9/2023, là 418 ngày, thì bên vay phải chịu lãi quá hạn với các khoản vay như sau:

  • Khoản vay: 95,000,000 đồng. Dư nợ gốc tính lãi quá hạn: 48.978.942 đồng. Lãi suất quá hạn: 30%/năm. Tiền lãi quá hạn: 16.827.286 đồng.
  • Khoản vay: 50,000,000 đồng. Dư nợ gốc tính lãi quá hạn: 21.884.379 đồng. Lãi suất quá hạn: 30%/năm. Tiền lãi quá hạn: 7.518.633 đồng.
  • Khoản vay 59.000.000 đồng. Dự nợ gốc tính lãi quá hạn: 51.396.645 đồng. Lãi suất quá hạn: 30%/năm. Tiền lãi quá hạn: 17.657.916 đồng.
  • Khoản vay: 173,350,000 đồng. Dư nợ gốc tính lãi quá hạn: 147.368.489 đồng. Lãi suất quá hạn: 51%/năm. Tiền lãi quá hạn: 86.071.273 đồng.

Tổng cộng lãi quá hạn của 4 khoản: 128.075.107 đồng.

[2.4] Về tiền lãi trong hạn còn phải trả.

Do cấp sơ thẩm điều chỉnh thời điểm tính lãi quá hạn (thời điểm chuyển nợ quá hạn) so với cách tính của V2 như nêu trên, nên cũng cần điều chỉnh thời điểm tính lãi trong hạn bên vay phải chịu tương ứng. Cụ thể tiền lãi trong hạn còn phải trả:

  • - Khoản vay: 95,000,000 đồng. Bên vay đã thanh toán nợ trong hạn đến ngày 14/9/2019, còn dư nợ lãi (trong hạn) là 1.245.643 đồng và dư nợ gốc còn 48.978.942 đồng. Hội đồng xét xử tính lãi trong hạn bổ sung từ ngày 15/9/2019 đến ngày quá hạn 17/8/2022, là 1063 ngày = 28.528.556 đồng. Tổng lãi trong hạn còn phải trả là 1.245.643 đồng + 28.528.556 đồng = 29.774.199 đồng.
  • - Khoản vay: 50,000,000 đồng. Bên vay đã thanh toán nợ trong hạn đến ngày 12/9/2019, còn dư nợ lãi 838.093 đồng, dư nợ gốc 21.884.379 đồng. Hội đồng xét xử tính lãi trong hạn bổ sung từ ngày 13/9/2019 đến ngày quá hạn 17/8/2022, là 1065 ngày = 12.770.884 đồng. Tổng nợ lãi trong hạn còn phải trả: 13.608.977 đồng.
  • - Khoản vay 59.000.000 đồng. Bên vay đã thanh toán nợ trong hạn đến ngày 9/9/2019, còn dư nợ lãi 755.266 đồng, dư nợ gốc 51.396.645 đồng. Hội đồng xét xử tính lãi trong hạn bổ sung từ ngày 10/9/2019 đến ngày quá hạn 17/8/2022, là 1068 ngày = 30.077.598 đồng. Tổng lãi trong hạn còn phải trả: 30.832.864 đồng.
  • - Khoản vay: 173,350,000 đồng. Bên vay đã thanh toán nợ trong hạn đến ngày 03/8/2019, còn dư nợ lãi 4.160.045 đồng, dư nợ gốc. Dư nợ gốc: 147.368.489 đồng. Hội đồng xét xử tính lãi trong hạn bổ sung từ ngày 04/8/2019 đến ngày quá hạn 17/8/2022, là 1109 ngày = 152.237.705 đồng. Tổng lãi trong hạn còn phải trả 156.397.750 đồng.

Tổng cộng lãi trong hạn mà bị đơn còn phải trả của 4 hợp đồng: 230.613.791 đồng.

[2.5]. Về tiền phạt chậm trả tiền lãi:

Cấp sơ thẩm chỉ tính tiền phạt chậm trả tiền lãi trên cơ sở lãi trong hạn (lãi theo kỳ hạn thỏa thuận) mà bên vay đã chậm trả với lãi suất 10%/năm (như V2 áp dụng là phù hợp với mức lãi suất tối đa quy định tại điểm b khoản 4 Điều 13 thông tư 39), thời gian chậm trả lãi tính từ ngày đến hạn theo kỳ hạn thỏa thuận (cả 4 hợp đồng đều là trả lãi hàng tháng), đến ngày xét xử sơ thẩm (9/9/2023); cấp phúc thẩm giữ nguyên khoản tiền lãi do chậm trả tiền lãi (trong hạn) của 4 khoản vay là: 59.083.210 đồng.

[3]. Như vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận tổng cộng các khoản gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn, lãi do chậm thanh toán tiền lãi (trong hạn) là: 687.400.563 đồng. Không chấp số tiền yêu cầu vượt quá: 230.326.359 đồng.

[4]. Về yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm:

Tại bản án sơ thẩm đã xác định Hợp đồng thế chấp được ký kết hoàn toàn tự nguyện giữa các bên; tài sản thế chấp thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bên thế chấp tài sản; hợp đồng thế chấp được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định. Do vậy, Hợp đồng thế chấp có hiệu lực. Về phạm vi bảo đảm: Hợp đồng thế chấp có nội dung xác định rõ tài sản thế chấp sẽ bảo đảm cho toàn bộ các khoản vay của khách hàng phát sinh tại V2 trước, trong và sau thời điểm ký hợp đồng thế chấp nên không có cơ sở chấp nhận ý kiến của anh T2, chị T3 về việc các khoản vay này là không có bảo đảm. Tại bản án sơ thẩm đã tuyên xử lý các tài sản bảo đảm là đúng quy định của pháp luật. Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là người thế chấp tài sản không có kháng cáo nên giữ nguyên nội dung này tại bản án sơ thẩm.

[5] HĐXX thấy rằng cấp sơ thẩm đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ đầy đủ, thực hiện các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật, việc tính toán số tiền gốc, tiền lãi quá hạn, lãi trong hạn, tiền phạt chậm trả tiền lãi là đúng. Nội dung kháng cáo của Ngân hàng V2 đề nghị sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của V2 là không có căn cứ chấp nhận, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[6] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên Ngân hàng V3 phải chịu phí dân sự phúc thẩm.

[7] Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, cấp phúc thẩm không xem xét và đã có hiệu lực kể từ khi hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 308, Điều 309, Điều 148, khoản 2 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
  2. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần V1 (V2); giữ nguyên bản án Dân sự sơ thẩm số 04/2023/DS-ST ngày 09/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.
  3. Về án phí: Ngân hàng Thương mại cổ phần V1 phải chịu 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004353 ngày 15/9/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Giang.
  4. Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, cấp phúc thẩm không xem xét và đã có hiệu lực kể từ khi hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (30/11/2023).

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - TAND huyện Bình Giang;
  • - Chi cục THA DS huyện Bình Giang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS; lưu toà.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Vũ Thị Yển

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 88/2023/DS-PT ngày 30/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp

  • Số bản án: 88/2023/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/11/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng V khởi kiện buộc anh Phạm Công T và chị Nguyễn Thị T thanh toán tiền theo HĐTD và HĐTC đã ký giữa hai bên
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger