|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 88/2024/HS - ST Ngày 30 - 9 - 2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Như Quỳnh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lưu Xuân Giới
Ông Trần Văn Nam
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Đức Trọng - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều tham gia phiên tòa:
Ông Bùi Tuấn Ninh - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 81/2024/TLST - HS ngày 12 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2024/QĐXXST- HS ngày 16 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Trịnh Văn H, sinh ngày: 17/10/1993, tại thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: tổ C, khu V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện nay: khu V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Văn C và bà Lê Thị Y; vợ: Vũ Thị Hà C1 (đã ly hôn); con: có 01 con, sinh năm 2015; tiền án: ngày 31/8/2022 bị Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tiền sự: chưa; bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp và tạm giữ ngày 13/5/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Nguyễn Tài N, sinh ngày: 03/7/1993, tại thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; nơi thường trú: khu Y, phường Y, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: thợ sửa xe máy; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị T; vợ: Vũ Thị T1; con: có 01 con, sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: chưa; bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp và tạm giữ ngày 13/5/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Đ, có mặt tại phiên tòa.
2
3. Họ và tên: Phạm Quân V, sinh ngày: 14/9/1993, tại thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; nơi thường trú: khu Phố B, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn N1 và bà Trần Thị D; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: chưa; bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp và tạm giữ ngày 13/5/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Đ, có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Anh Ngô Văn T2; nơi thường trú: khu N, phường H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt
* Người chứng kiến: Bà Lưu Thị S; vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 9 giờ ngày 13/5/2024, Trịnh Văn H cất giấu 08 túi ma túy “đá” đã mua trước đó vào túi quần bên phải rồi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Anpha biển số 14Z1-579.32 đến quán sửa xe máy của Nguyễn Tài N ở Khu Phố B, phường M, thị xã Đ. Khi đến nơi, thấy N và Phạm Quân V đang ở quán, thì H rủ V tìm chỗ để cùng sử dụng ma túy “đá”. V đồng ý và hẹn sẽ rủ N cùng về nhà N để sử dụng ma túy. Sau đó, H điều khiển xe mô tô đi giải quyết việc cá nhân. Lúc này, V đến rủ N đi về nhà N để cùng nhau sử dụng ma túy do H cung cấp. N đồng ý, đóng cửa quán và đi trước về nhà N ở khu Y, phường Y, thị xã Đ, còn V gọi điện thoại bảo H quay lại đón V đi đến nhà N.
Tại nhà N, thì N dẫn H và V lên phòng ngủ của N ở tầng 2, rồi lấy 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm 01 chai nhựa đục nắp có gắn bầu nỏ thủy tinh), 01 chiếc bật lửa ga, đưa cho V; còn H lấy 01 túi ma túy “đá” trong túi quần đưa cho V. Lúc này, V cầm túi ma túy đổ hết vào bầu nỏ thủy tinh và lấy bật lửa đốt, hơ sử dụng. Tiếp đến, N lấy bật lửa đốt, hơ ma túy để sử dụng, rồi đến lượt H cầm bầu nỏ còn V dùng bật lửa hơ, đốt ma túy cho H sử dụng. Cả 3 lần lượt sử dụng được 02 lượt thì hết số ma túy trong bầu nỏ thủy tinh. Đến khoảng 10 giờ 35 phút cùng ngày, Tổ công tác của Công an thị xã Đ đến kiểm tra hành chính nơi ở của N đã phát hiện, thu giữ:
- Trên sàn nhà trước vị trí ngồi của N, H, V có 01 chai nhựa, nắp chai có 02 lỗ, một lỗ gắn ống hút nhựa màu trắng, một lỗ gắn ống thủy tinh một đầu cong có bầu tròn, có bám dính chất bột màu trắng (kí hiệu M1).
- Tại thành cửa sổ sau vị trí ngồi của N có 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ, nhãn hiệu Hoa Việt.
Ngoài ra, thu giữ trong túi quần phía trước bên phải của Trịnh Văn H: 01 túi nilon, kích thước (2x2,5)cm, chứa chất tinh thể màu trắng (kí hiệu M2); 01 túi nilon kích thước (4x6)cm, đựng 6 túi nilon cùng kích thước (2x2,5)cm đều chứa chất tinh thể màu trắng (kí hiệu lần lượt từ M3 đến M8) (Bút lục số 54 -55).
Tạm giữ của V 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 gắn sim số 0393.616.692; tạm giữ của N 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S
3
Plus gắn sim số 0349.936.393; tạm giữ của H 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X không gắn sim, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max gắn sim số 0775.031.268, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12Pro không gắn sim và 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Anpha biển số 14Z1-579.32.
Căn cứ tài liệu điều tra, cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Đ ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Tài N, Phạm Quân V và Trịnh Văn H.
Tại các bản Kết luận giám định số 705 và 706 ngày 21/5/2024, của Phòng K Công an tỉnh Q, kết luận:
- Tìm thấy chất ma túy Methamphetamine trong mẫu nước tiểu ghi thu giữ của Nguyễn Tài N, Phạm Quân V, Trịnh Văn H gửi giám định.
- Mẫu vật kí hiệu từ M2 đến M8 gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine khối lượng: M2 = 0,36 gam; M3 = 0,101 gam; M4 = 0,99 gam; M5 = 0,87 gam; M6 = 0,104 gam; M7 = 0,106 gam; M8 = 0,105 gam. Tổng khối lượng từ M2 đến M8 là 0,928 gam (không phẩy chín hai tám gam).
- Tìm thấy chất ma túy Methamphetamine trong ống thủy tinh kí hiệu M1 gửi giám định. Khối lượng dạng vết không xác định được (Bút lục số 74, 75).
(Methamphetamine nằm trong Danh mục IIC, STT:247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất).
Đối với xe mô tô biển kiểm soát 14Z1 - 579.32, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Ngô Văn T2. Anh T3 không biết H sử dụng xe vào việc phạm tội nên ngày 08/9/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh T3.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Trịnh Văn H, Nguyễn Tài N và Phạm Quân V đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Ngoài ra, tại phiên tòa:
Bị cáo Trịnh Văn H khai: khoảng 09 giờ ngày 13/5/2024, bị cáo cất giấu 08 túi ma túy “đá” đã mua trước đó vào túi quần bên phải rồi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Anpha biển số 14Z1-579.32 đến quán sửa xe máy của N ở khu Phố B, phường M, thị xã Đ. Khi đến nơi, thấy N và V đang ở quán, thì bị cáo rủ V tìm chỗ để cùng sử dụng ma túy “đá”. V đồng ý và hẹn bị cáo sẽ rủ N cùng về nhà N ở khu Y, phường Y, thị xã Đ để sử dụng ma túy. Sau đó, bị cáo điều khiển xe mô tô đi giải quyết việc cá nhân và một lúc sau quay lại đón V để đến nhà N để sử dụng ma túy. Số ma túy bị cáo tự nguyện giao nộp là ma túy của bị cáo, bị cáo mua và tàng trữ trong người mục đích để sử dụng dần.
Bị cáo Nguyễn Tài N khai: ngày 13/5/2024, bị cáo H đến quán sửa xe máy của bị cáo ở khu Phố B, phường M, thị xã Đ. Khi đó có bị cáo và V ở quán, một lúc sau thì V có rủ bị cáo đi về nhà bị cáo để cùng nhau sử dụng ma túy. Bị cáo đồng ý, đóng cửa quán và đi trước về nhà ở khu Y, phường Y, thị xã Đ, còn V và H đi đến nhà bị cáo sau. Tại nhà bị cáo, bị cáo dẫn H và V lên phòng ngủ của bị cáo ở tầng 2, rồi lấy 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm 01 chai nhựa đục nắp có gắn bầu nỏ thủy tinh), 01 chiếc bật lửa ga, đưa cho V. Lúc này, V cầm túi ma túy đổ hết vào bầu nỏ thủy tinh và lấy bật lửa đốt, hơ sử dụng. Tiếp đến, bị cáo lấy bật lửa đốt, hơ ma túy để sử dụng, rồi đến lượt H cầm bầu nỏ còn V dùng bật lửa hơ,
4
đốt ma túy cho H sử dụng. Cả ba lần lượt sử dụng được hai lượt thì hết số ma túy trong bầu nỏ thủy tinh. Đến khoảng 10 giờ 35 phút cùng ngày, tổ công tác của Công an thị xã Đ đến kiểm tra hành chính nơi ở của bị cáo đã phát hiện và bắt quả tang.
Bị cáo Phạm Quân V khai: ngày 13/5/2024, bị cáo đến quán sửa xe máy của N ở khu Phố B, phường M, thị xã Đ để ngồi chơi. Ngồi một lúc thì H đến rủ bị cáo và N về nhà N để cùng sử dụng ma túy. Bị cáo đồng ý và rủ N, N đồng ý sau đó đóng cửa quán đi về trước. Một lúc sau, H quay lại đón bị cáo và cả hai cùng đến nhà N ở khu Y, phường Y, thị xã Đ. Tại nhà N, ba người cùng đi lên phòng ngủ của N ở tầng hai để sử dụng ma túy. Vào phòng, cả ba lần lượt sử dụng ma túy, mỗi người hút được hai lần thì hết số ma túy H đã bỏ ra. Sau đó bị cáo, N và H ngồi nói chuyện thì bị lực lượng Công an đến kiểm tra, bắt giữ.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Ngô Văn T2 vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai tại cơ quan điều tra: anh là chủ sở hữu của chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Anpha biển số 14Z1-579.32, anh mua chiếc xe trên với giá 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) tại cửa hàng X gần cây xăng K, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Việc H sử dụng chiếc xe vào việc phạm tội anh không biết. Anh có bạn là người quen của H nên khi cùng bạn đi ăn uống dẫn đến say rượu, không thể lái xe về được nên anh và bạn anh đã gửi lại chiếc xe mô tô trên ở chỗ H.
Người chứng kiến bà Lưu Thị S vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai tại cơ quan điều tra: khoảng 10 giờ 45 phút ngày 13/5/2024, bà được Cơ quan Công an thị xã Đ mời đến phòng ngủ tầng 2 nhà anh Nguyễn Tài N, sinh năm 1993, tại khu Y, phường Y, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh để chứng kiến việc Cơ quan Công an kiểm tra hành chính. Tại thời điểm kiểm tra, bà thấy trong phòng ngủ có ba thanh niên có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Sau khi kiểm tra tổ công tác phát hiện và thu giữ một số đồ vật và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Anpha biển số 14Z1-579.32. Ngoài ra Trịnh Văn H tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Công an những túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng. H khai nhận tất cả các chất tinh thể trên là ma túy, H mua của người không quen biết, mục đích để bản thân sử dụng. Sau đó, tổ công tác lập biên bản, đưa ba người trên cùng vật chứng thu giữ về trụ sở làm việc.
Tại Cáo trạng số: 1930/CT- VKSĐT ngày 11 - 9 - 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều truy tố bị cáo Trịnh Văn H về các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự; truy tố các bị cáo Nguyễn Tài N và Phạm Quân V về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự;
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo theo bản Cáo trạng. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255 và điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 55; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trịnh Văn H từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08
5
(tám) năm tù về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành từ 09 (chín) năm đến 09 (chín) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 13 tháng 5 năm 2024.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt các bị cáo Nguyễn Tài N, Phạm Quân V mỗi bị cáo từ 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 13 tháng 5 năm 2024.
- Về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) gói niêm phong số 706/KL - KTHS ngày 21/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q; 01 (một) chai nhựa, nắp chai có 02 lỗ, một lỗ gắn ống hút nhựa màu trắng; 01 (một) bật lửa ga màu đỏ, nhãn hiệu H1; các sim điện thoại số 0393.616.xxx và 0775.031.268
+ Tịch thu, sung ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS max màu vàng của bị cáo Trịnh Văn H; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 màu đen của bị cáo Phạm Quân V.
+ Trả lại: bị cáo Trịnh Văn H 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng không gắn sim và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro màu trắng không gắn sim; bị cáo Nguyễn Tài N 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus màu xám gắn sim số 0349.936.692;
Các bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ cũng như hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về việc định tội đối với các bị cáo: lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến với biên bản kiểm tra hành chính do Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã Đ, lập hồi 11 giờ 00 phút ngày 13/5/2024 tại khu Y, phường Y, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, với biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp, biên bản xác định hiện trường, bản ảnh kèm theo biên bản xác định hiện trường, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm
6
giữ, với vật chứng thu giữ của bị cáo, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: ngày 13/5/2024, tại khu Y, phường Y, thị xã Đ, Trịnh Văn H, Nguyễn Tài N và Phạm Quân V có hành vi tổ chức cho nhau sử dụng trái phép chất ma túy loại Methamphetamine. Ngoài ra, H còn có cất giấu trái phép 0,928 gam Methamphetamine, mục đích để sử dụng, thì bị kiểm tra phát hiện, thu giữ vật chứng.
Hành vi của bị cáo Trịnh Văn H đủ yếu tố cấu thành các tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; hành vi của các bị cáo Nguyễn Tài N và Phạm Quân V đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều truy tố và kết luận về hành vi phạm tội đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Các bị cáo là người trưởng thành, có khả năng nhận thức được tác hại của ma túy, biết hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy, cung cấp chất ma túy cho người khác sử dụng là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý phạm tội. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an xã hội.
[3] Xét về vai trò của các bị cáo trong vụ án:
Bị cáo Trịnh Văn H phải chịu trách nhiệm độc lập về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của mình.
Đối với hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Đây là vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn. Bị cáo Trịnh Văn H là người khởi xướng việc sử dụng ma tuý, cung cấp ma túy. Các bị cáo Phạm Quân V và Nguyễn tài N tiếp nhận ý chí, thực hành tích cực. Bị cáo Phạm Quân V sau khi được H rủ sử dụng ma túy đã rủ thêm N, nhận ma túy từ H đổ vào nỏ thủy tinh, hơ lửa cho bản thân và H sử dụng. Bị cáo Nguyễn Tài N cung cấp bộ D1 sử dụng ma túy, dùng phòng ở của mình làm địa điểm sử dụng ma túy. Do đó bị cáo H là người giữ vai trò đầu vụ và phải chịu hình phạt cao nhất, tiếp đến bị cáo V và bị cáo N có vai trò tương đương nhau trong vụ án.
[4] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về nhân thân: bị cáo Trịnh Văn H có 01 tiền án, các bị cáo Nguyễn Tài N và Phạm Quân V không có tiền án, tiền sự.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo Nguyễn Tài N và Phạm Quân V không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo Trịnh Văn H bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
7
Từ những đánh giá, phân tích nêu trên, căn cứ vào nhân thân, hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo cũng như những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy cần phải có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo, buộc các bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.
[5] Về xử lý vật chứng:
- Số ma túy hoàn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành; 01 (một) chai nhựa; nắp chai có 02 lỗ, một lỗ gắn ống hút nhựa màu trắng; 01 (một) bật lửa ga màu đỏ, nhãn hiệu H1; 02 (hai) sim điện thoại không còn giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy.
- 03 (ba) chiếc điện thoại của các bị cáo Trịnh Văn H, Nguyễn Tài N không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho các bị cáo.
- 02 (hai) chiếc điện thoại của bị cáo Trịnh Văn H và Phạm Quân V dùng để liên lạc với nhau về việc sử dụng trái phép chất ma túy, cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
[6] Về hình phạt bổ sung:
Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 và khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự, các bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng sung ngân sách nhà nước. Xét các bị cáo không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[7] Về các vấn đề khác:
Liên quan trong vụ án có người đàn ông bán ma túy cho Trịnh Văn H, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Anpha biển số 14Z1-579.32, quá trình điều tra xác định thuộc sở hữu của anh Ngô Văn T2, anh T2 không biết H sử dụng xe mô tô vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh T2, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Lưu kèm hồ sơ vụ án 04 (bốn) đĩa DVD ghi âm hỏi cung các bị cáo Trịnh Văn H, Nguyễn Tài N và Phạm Quân V.
[8] Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255 và điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 55; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
8
Tuyên bố bị cáo Trịnh Văn H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Trịnh Văn H 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành 09 (chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 13 tháng 5 năm 2024.
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Tài N, Phạm Quân V phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tài N 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 13 tháng 5 năm 2024.
Xử phạt bị cáo Phạm Quân V 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 13 tháng 5 năm 2024.
2. Về xử lý vật chứng: căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) gói niêm phong số 706/KL - KTHS ngày 21/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q; 01 (một) chai nhựa, nắp chai có 02 lỗ, một lỗ gắn ống hút nhựa màu trắng; 01 (một) bật lửa ga màu đỏ, nhãn hiệu H1; các sim điện thoại số 0393.616.xxx và 0775.031.268
+ Tịch thu, sung ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS max màu vàng của bị cáo Trịnh Văn H; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 màu đen của bị cáo Phạm Quân V.
+ Trả lại: bị cáo Trịnh Văn H 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng không gắn sim và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro màu trắng không gắn sim; bị cáo Nguyễn Tài N 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus màu xám gắn sim số 0349.936.692;
(Số vật chứng, tài sản trên có tình trạng và đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng số 117 ngày 11 tháng 9 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Đ và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh).
3. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Các bị cáo Trịnh Văn H, Nguyễn Tài N và Phạm Quân V mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận: - Các bị cáo; - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; - TAND tỉnh Quảng Ninh; - Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều; - Viện kiểm sát ND tỉnh Quảng Ninh; - Cơ quan điều tra CA thị xã Đông Triều; - Cơ quan THAHS CA thị xã Đông Triều; - Chi cục THA DS thị xã Đông Triều; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh; - NTG Công an thị xã Đông Triều (nơi tạm giam các bị cáo); - Lưu: hồ sơ, VP. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Trần Thị Như Quỳnh |
Bản án số 88/2024/HS - ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 88/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trịnh Văn H cùng đồng phạm
