|
TAND HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 88/2024/HS-ST |
|
|
Ngày 30-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Oanh.
Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Hằng.
2. Ông Triệu Phúc Vượng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Giang Tiến Hiệp – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 83/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vũ Văn T, sinh năm 1989 tại huyện T, tỉnh Lai Châu. Nơi cư trú: Tổ dân phố E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vũ Đức T1 – sinh năm 1960 và con bà: Trần Thị T2 – sinh năm 1959; vợ, con: Không có.
- Tiền án: Bị cáo có 03 tiền án chưa được xóa án tích, cụ thể:
- + Tại bản án hình sự sơ thẩm số 26/2015/HSST ngày 30/6/2015, Vũ Văn T bị TAND huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu xử phạt 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 01/12/2016 Vũ Văn T được đặc xá trở về địa phương;
- + Tại bản án hình sự sơ thẩm số 32/2017/HSST ngày 25/9/2017, Vũ Văn T bị TAND huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999, xử phạt 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 08/5/2019 Vũ Văn T chấp hành xong án phạt tù trở về địa phương.
- + Tại bản án hình sự sơ thẩm số 177/2020/HSST ngày 15/7/2020, Vũ Văn T bị TAND quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội áp dụng điểm d khoản 2 Điều
321, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt 38 tháng tù về tội Đánh bạc. Ngày 20/01/2023 Vũ Văn T chấp hành xong án phạt tù trở về địa phương.
- Tiền sự: Không có.
- Về nhân thân: Bị cáo có 02 tiền án đã được xóa án tích, cụ thể:
- + Tại bản án hình sự sơ thẩm số 71/2010/HSST ngày 19/4/2010 của TAND quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xử phạt Vũ Văn T 07 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.
- + Tại bản án hình sự sơ thẩm số 26/2011/HSST ngày 15/4/2011 của Tòa án nhân dân thị xã Lai Châu, tỉnh Lai Châu xử phạt Vũ Văn T 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.
- Bị cáo bị bắt và bị tạm giữ từ ngày 27/01/2024, đến ngày 02/02/2024 bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Lai Châu. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Bị hại: Chị Nguyễn Thị T3, sinh năm 1990 và anh Lê Quang T4, sinh năm 1987, cùng trú tại: Tổ dân phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu (đều có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Vũ Văn T5, sinh năm 1991. Trú tại: Tổ dân phố E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu (vắng mặt).
- Người làm chứng:
- Anh Đỗ Mạnh T6, sinh năm 1991. Trú tại: Tổ dân phố E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu (vắng mặt).
- Anh Nguyễn Minh Đ, sinh năm 1986. Trú tại: Tổ dân phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vũ Văn T là người có 02 tiền án về tội Trộm cắp tài sản và 01 tiền án về tội Đánh bạc đều chưa được xóa án tích.
Trong tháng 01 năm 2024, Vũ Văn T có đến cửa hàng T8 tại Tổ dân phố B, thị trấn T, huyện T do chị Nguyễn Thị T3 và anh Lê Quang T4 làm chủ để mua hàng. Trong quá trình mua hàng, T quan sát xung quanh thì thấy phía trên góc bên trái ngôi nhà của cửa hàng có một ô thoáng có thể trèo từ bên ngoài vào bên trong cửa hàng và T nghĩ bên trong cửa hàng có nhiều tiền mặt nên đã nảy sinh ý định sẽ đột nhập vào cửa hàng để trộm cắp tài sản là tiền. Trong các ngày 26/01/2024 và ngày 27/01/2024, Vũ Văn T đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp
tài sản là tổng số tiền 8.380.000 đồng của chị Nguyễn Thị T3 và anh Lê Quang T4. Cụ thể:
Lần thứ nhất: Khoảng 22 giờ ngày 25/01/2024, T điều khiển xe môtô nhãn hiệu YAMAHA, số loại Sirius, màu sơn đỏ - đen, biển kiểm soát 25B1-280.51 (T mượn của em trai tên là Vũ Văn T5) đi từ nhà của T xuống cửa hàng tạp hóa Thành T7 mục đích để trộm cắp tiền. Đến khoảng 01 giờ sáng ngày 26/01/2024, T đi đến khu vực gần cửa hàng T8 và dừng xe để xe ở vỉa hè, sau đó T đi bộ đến cửa hàng T8 và quan sát thấy bên trong cửa hàng đã tắt điện, xung quanh không có người qua lại nên T trèo lên cây ở phía trước cửa hàng rồi chui qua ô thoáng vào bên trong cửa hàng. Khi vào bên trong, T đi đến quầy thu ngân và thấy có 02 hộp ngăn kéo khóa đựng tiền làm bằng kim loại và làm bằng gỗ đựng nhiều tờ tiền có mệnh giá khác nhau. Để tránh sự phát hiện của chủ cửa hàng và để các lần sau tiếp tục vào trộm cắp tiền thuận lợi nên T đã lấy ở mỗi ngăn một ít tiền với đủ các mệnh giá rồi đẩy ngăn kéo vào như ban đầu. Sau đó T cất số tiền trộm cắp được vào túi quần phía trước bên phải và túi quần phía sau bên phải đang mặc rồi trèo ra ngoài theo lối cũ đã vào trước đó và điều khiển xe mô tô đi về. Khi về đến nhà, T lấy số tiền đã trộm cắp được tại cửa hàng tạp hóa Thành T7 ra đếm thì biết tổng số tiền T trộm cắp được là 7.080.000 đồng. Lúc này T có tổng số tiền là 10.600.000 đồng bao gồm cả tiền trộm cắp từ lần trước mà T chưa tiêu xài hết, sau khi đếm tiền xong thì T đi ngủ.
Đến chiều ngày 26/01/2024, T cầm số tiền 9.000.000 đồng ra cửa hàng mua bán điện thoại di động Mạnh Toản do anh Đỗ Mạnh T6 làm chủ và nhờ anh T6 chuyển vào số tài khoản 0868230889 của T (chủ tài khoản là “VU VAN TIEN”), mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (M1) sau đó T đưa tiền mặt cho anh T6. Lúc này trong số tài khoản nói trên của T có tổng số tiền là 12.188.377 đồng. Đối với số tiền mặt còn lại là 1.600.000 đồng T đã mua H và sử dụng hết 200.000 đồng, ngoài ra T đã dùng để chi tiêu cá nhân, số tiền còn lại 668.000 đồng T mang theo trên người.
Lần thứ hai: Tiếp đó đến khoảng 22 giờ ngày 26/01/2024, như lần trước đó, T tiếp tục điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát 25B1-280.51 đi từ nhà của T với mục đích xuống cửa hàng T8 để trộm cắp tiền. Đến khoảng 01 giờ 15 phút sáng ngày 27/01/2024 khi đến cửa hàng T8, T tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tiền với phương thức, thủ đoạn như lần trước. Khi vào bên trong cửa hàng, T đi đến quầy thu ngân mở các ngăn kéo đựng tiền ra rồi lấy trộm số tiền 1.300.000 đồng và để lên mặt bàn quầy thu ngân. Hồi 01 giờ 20 phút cùng ngày, khi T đang ở bên trong cửa hàng thì bị lực lượng Công an huyện T phối hợp với gia đình chị T7 phát hiện, thu giữ trên mặt bàn quầy thu ngân số tiền 1.300.000 đồng là số tiền T trộm cắp, đồng thời thu giữ bên trong túi quần phía sau bên phải T đang mặc số tiền 668.000 đồng là tiền do T trộm cắp tại cửa hàng T8 ngày trước đó và chưa tiêu xài hết. Tổng số tiền T bị thu giữ là 1.968.000 đồng.
Ngoài ra, quá trình điều tra T khai nhận: Trước đó, trong khoảng thời gian dao động từ 01 giờ 10 phút đến 01 giờ 30 phút sáng trong các ngày từ ngày 18/01/2024 đến ngày 25/01/2024, T đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là tiền tại cửa hàng T8 với phương thức và thủ đoạn thực hiện tương tự như các ngày 26/01/2024 và ngày 27/01/2024 với số tiền trộm cắp mỗi lần từ 1.000.000 đồng đến khoảng 2.000.000 triệu đồng, tuy nhiên do không kiểm đếm nên T không biết chính xác là mỗi lần trộm cắp số tiền cụ thể là bao nhiêu và gia đình chị T7 cũng không biêt chính xác số tiền trộm cắp của T trong các ngày này, số tiền trộm cắp được T đã dùng để mua Heroin sử dụng và tiêu xài cá nhân. Bên cạnh đó, sau các lần thực hiện hành vi trộm cắp tiền tại cửa hàng tạp hóa Thành T7 vào các ngày trước đó thì ngày 25/01/2024 T đã cầm số tiền 2.500.000 đồng ra cửa hàng mua bán điện thoại Đức M do anh Nguyễn Minh Đ làm chủ và nhờ anh Đ chuyển vào số tài khoản 0868230889 của T (chủ tài khoản là “VU VAN TIEN”), mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (M1) sau đó T đưa tiền mặt cho Đ.
Tại Kết luận giám định số 217/KL-KTHS ngày 05/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh L, kết luận: Số tiền 1.968.000đ (Một triệu chín trăm sáu mươi tám nghìn đồng) tiền Việt Nam bao gồm: 01 (Một) tiền Việt Nam mệnh giá 500.000₫ (Năm trăm nghìn đồng); 07 (Bảy) tiền Việt Nam mệnh giá 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng); 03 (Ba) tiền Việt Nam mệnh giá 20.000đ (Hai mươi nghìn đồng); 01 (Một) tiền Việt Nam mệnh giá 5.000đ (Năm nghìn đồng); 03 (Ba) tiền Việt Nam mệnh giá 1.000đ (Một nghìn đồng) gửi đến giám định đều là tiền thật.
Cáo trạng số 53/CT-VKS-TU ngày 22/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu truy tố Vũ Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Văn T mức án từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản", miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị tịch thu tiêu huỷ: 01 chiếc áo khoác, màu đen, không rõ size và nhãn hiệu, phía ngực phải của áo có hình không xác định và chữ “KENZY” màu trắng, phía sau lưng của áo có dòng chữ “WORPLDWIDE”, “Beten The Wask”, “Vishie Aag", “KENZY” và hình không xác định màu trắng, dọc mỗi ống tay áo có 02 đường dọc kẻ màu trắng, đã qua sử dụng; 01 chiếc quần vải, loại ống dài, màu vàng nâu, size 9, không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng. Trả lại cho bị cáo Vũ Văn T 01 chiếc điện thoại di động, màn hình cảm ứng, màu xám-đen, không rõ nhãn hiệu, có kiểu dáng giống Apple 15 Promax, số máy MQ982LL/A, số sereerri:
J6HWWGR4FK7, số Imei 1: 353997896213968, số I 2: 353997896214285, do Trung Quốc sản xuất, đã qua sử dụng; 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Vivo S12, màu đen, số Imei 1: 862746069455272, số Imei 2: 862746069455264, đã qua sử dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 17.000.000 đồng, bị cáo nhất trí bồi thường toàn bộ số tiền trên, do vậy đề nghị áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 589 Bộ luật Dân sự buộc bị cáo phải bồi thường số tiền 17.000.000 đồng cho chị T7 và anh T4 đồng thời đề nghị tiếp tục phong toả số tiền 12.188.377 đồng có trong số tài khoản 0868230889, chủ tài khoản VU VAN TIEN, mở tại ngân hàng Thương mại cổ phần Q (M2) để đảm bảo thi hành án.
Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Bị cáo đồng ý với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có tranh luận gì.
Bị hại chị Nguyễn Thị T3 và anh Lê Quang T4 đều có đơn xin xét xử vắng mặt, yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 17.000.000 đồng và đề nghị xử phạt bị cáo theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, tỉnh Lai Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T tỉnh Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Vũ Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, HĐXX đủ cơ sở để kết luận:
Trong các ngày 26/01/2024 và ngày 27/01/2024, tại cửa hàng T8 do chị Nguyễn Thị T3 và anh Lê Quang T4 làm chủ, Vũ Văn T đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với tổng số tiền 8.380.000 đồng. Cụ thể:
Lần thứ nhất: Khoảng 01 giờ sáng ngày 26/01/2024, tại cửa hàng T8, Vũ Văn T đã thực hiện hành vi trộm cắp số tiền 7.080.000 đồng với mục đích để tiêu xài cá nhân.
Lần thứ hai: Khoảng 01 giờ 15 phút sáng ngày 27/01/2024, tại cửa hàng T8, Vũ Văn T đã thực hiện hành vi trộm cắp số tiền 1.300.000 đồng với mục đích để tiêu xài cá nhân thì bị lực lượng Công an huyện T và gia đình chị T3 phát hiện bắt giữ.
Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì lười lao động, muốn có tiền tiêu xài và sử dụng ma túy nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo là người có 03 tiền án, đã tái phạm nguy hiểm, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục cố ý thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên hành vi trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự an toàn xã hội, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân, do vậy cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
Về nhân thân: Bị cáo Vũ Văn T là đối tượng nghiện ma tuý và có nhân thân rất xấu, từ năm 2010 đến năm 2020, bị cáo T đã bị Toà án xét xử 05 lần trong đó có 02 bản án đã được xoá án tích, 03 bản án chưa được xoá án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thể hiện ý thức coi thường pháp luật, do vậy quá trình lượng hình Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, đảm bảo tính răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Vũ Văn T có hành vi trộm cắp tài sản 02 lần với số tiền lần thứ nhất là 7.080.000 đồng và lần thứ hai là 1.300.000 đồng, tuy lần trộm cắp thứ hai số tiền bị cáo trộm cắp chưa đủ 2.000.000 đồng nhưng do trước đó bị cáo đã có 02 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xoá án tích nên hành vi trộm cắp lần hai của bị cáo cũng đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản, do vậy bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy
định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo là lao động tự do không có việc làm và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử xem xét miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Nguyễn Thị T3 và anh Lê Quang T4 đều có đơn xin xét xử vắng mặt và yêu cầu bị cáo Vũ Văn T phải bồi thường cho gia đình anh chị số tiền 17.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo T nhất trí tự nguyện bồi thường thiệt hại toàn bộ số tiền trên nhưng hiện tại bị cáo không có tiền để trả cho gia đình chị T3 ngay, do vậy HĐXX xem xét buộc bị cáo T phải bồi thường cho chị T3 và anh T4 số tiền 17.000.000 đồng và tiếp tục duy trì lệnh phong toả tài khoản số 310/LPT-TK ngày 20/6/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và biên bản phong toả tài khoản ngày 21/6/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (M2), chi nhánh T9 – Phòng G đối với số tiền 12.188.377 đồng có trong số tài khoản 0868230889, chủ tài khoản VU VAN TIEN, mở tại ngân hàng Thương mại cổ phần Q (M2) để đảm bảo thi hành án.
[6] Về xử lý vật chứng:
- + Số tiền 1.968.000 đồng thu giữ trong quá trình bắt giữ Vũ Văn T, quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị T3 và anh Lê Quang T4. Ngày 02/4/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã trả lại số tiền trên cho gia đình chị Nguyễn Thị T3 là đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
- + 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại Sirius, màu sơn đỏ-đen, biển kiểm soát: 25B1-280.51, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Vũ Văn T5. Việc bị cáo Vũ Văn T sử dụng chiếc xe để thực hiện hành vi phạm tội thì anh T5 không biết. Ngày 19/02/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã trả lại chiếc xe nói trên cho anh T5 là đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
- + 01 chiếc điện thoại di động, màn hình cảm ứng, màu xám-đen, không rõ nhãn hiệu, có kiểu dáng giống Apple 15 Promax, số máy MQ982LL/A, số sereerri: J6HWWGR4FK7, số Imei 1: 353997896213968, số I 2: 353997896214285, do Trung Quốc sản xuất, đã qua sử dụng; 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Vivo S12, màu đen, số Imei 1: 862746069455272, số Imei 2: 862746069455264, đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Vũ Văn T trong quá trình điều tra đều không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần xem xét trả lại cho bị cáo.
- + 01 chiếc áo khoác, màu đen, không rõ size và nhãn hiệu; 01 chiếc quần vải, loại ống dài, màu vàng nâu, size 9, không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng bị thu giữ được bị cáo sử dụng trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội, tại phiên
toà bị cáo không có nguyện vọng lấy lại và chiếc áo, quần trên, xét thấy chiếc áo, chiếc quần trên không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.
[7] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[9] Về các vấn đề liên quan đến vụ án:
- - Theo lời khai của Vũ Văn T: T đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là tiền trong các ngày từ 18/01/2024 - 25/01/2024 tại cửa hàng T8, tuy nhiên không có căn cứ để xác định mỗi lần Vũ Văn T trộm cắp số tiền cụ thể là bao nhiêu. Ngoài lời khai của T ra không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh nên không có căn cứ để xử lý T về các lần trộm cắp này.
- - Đối với Vũ Văn T5 là chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại Sirius, màu sơn đỏ-đen, biển kiểm soát 25B1-280.51 đã cho Vũ Văn T mượn đi. Quá trình điều tra xác định anh T5 không biết việc bị cáo T sử dụng chiếc xe để thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy Cơ quan CSĐT Công an huyện T không đề cập xử lý đối với anh Vũ Văn T5 là đảm bảo đúng quy định.
- - Quá trình điều tra xác định sau khi trộm cắp tài sản là tiền tại cửa hàng T8, ngày 25/01/2024, Vũ Văn T đã nhờ anh Nguyễn Minh Đ chuyển số tiền 2.500.000 đồng vào số tài khoản của T. Ngày 26/01/2024 bị cáo T đã nhờ anh Đỗ Mạnh T6 chuyển số tiền 9.000.000 đồng vào số tài khoản của T, sau đó T đưa tiền mặt. Quá trình điều tra xác định anh Đ, anh T6 đều không biết số tiền đó do Vũ Văn T trộm cắp mà có. Vì vậy Cơ quan CSĐT Công an huyện T không đề cập xử lý đối với Nguyễn Minh Đ, Đỗ Mạnh T6 là đúng quy định của pháp luật.
- - Quá trình điều tra xác định mỗi lần sau khi trộm cắp tài sản là tiền tại cửa hàng T8, bị cáo Vũ Văn T đã dùng số tiền dao động từ 200.000 đồng - 500.000 đồng để mua H sử dụng và mỗi lần mua của một người đàn ông khác nhau, không rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan CSĐT Công an huyện T không có căn cứ để điều tra, xác minh, xử lý.
- - Đối với hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy của Vũ Văn T, ngày 01/02/2024 Công an huyện T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức Phạt cảnh cáo là đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về điều luật áp dụng và tội danh: Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Vũ Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Vũ Văn T 03 năm 08 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/01/2024.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- + Trả lại cho bị cáo Vũ Văn T: 01 (một) chiếc điện thoại di động, màn hình cảm ứng, màu xám - đen, không rõ nhãn hiệu, có kiểu dáng giống Apple 15 Promax, số máy MQ982LL/A, số sêri J6HWWGR4FK7, số Imei 1: 353997896213968; số Imei 2: 353997896214285, do Trung Quốc sản xuất, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo S12, màu đen, số Imeil: 862746069455272, số Imei2: 862746069455264, đã qua sử dụng.
- + Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) chiếc áo khoác màu đen, không rõ size và nhãn hiệu, phía ngực phải của áo có hình không xác định và chữ “KENZY” màu trắng, phía sau lưng của áo có dòng chữ “WORPLDWIDE” “Beten The Wask", “Vishie Aag”, “KENZY” và hình không xác định màu trắng, dọc mỗi ống tay áo có 02 đường dọc kẻ màu trắng, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc quần vải, loại ống dài, màu vàng nâu, size 9, không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng.
(Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng hồi 10 giờ 15 phút, ngày 26/7/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu).
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 589 Bộ luật Dân sự.
Buộc bị cáo Vũ Văn T phải có trách nhiệm bồi thường cho vợ chồng chị Nguyễn Thị T3, sinh năm 1990 và anh Lê Quang T4, sinh năm 1987, cùng trú tại: Tổ dân phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu số tiền 17.000.000 đồng (mười bảy triệu đồng chẵn).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp Cơ quan Thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại theo quy định tại Điều 357; Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
- hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về biện pháp cưỡng chế: Tiếp tục duy trì Lệnh phong toả tài khoản số 310/LPT-TK ngày 20/6/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và biên bản phong toả tài khoản ngày 21/6/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (M2), chi nhánh T9 – Phòng G đối với số tiền 12.188.377 đồng có trong số tài khoản 0868230889, chủ tài khoản VU VAN TIEN, mở tại ngân hàng Thương mại cổ phần Q (M2) để đảm bảo thi hành án. Hiện tài khoản bị phong tỏa trên đang do Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (M2), chi nhánh T9 – Phòng G, thuộc Quận H, Thành phố Hà Nội quản lý.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Vũ Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 850.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi ích hợp pháp của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Oanh |
Bản án số 88/2024/HS-ST ngày 30/08/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 88/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo phạm tội trộm cắp tài sản theo khoản 2 Điều 173 BLHS
