Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AN MINH

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 88/2024/HS-ST

Ngày 30-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Hoa

Ông Lưu Văn Bình

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Trang - Thư ký Toà án nhân dân

huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham

gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đông Hải - Kiểm sát viên

Ngày 30 tháng 8 năm 2024 tại Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 65/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Hữu L, sinh ngày 02 tháng 01 năm 2000 tại Kiên Giang; CCCD [...]; HKTT: ấp P, xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Lê Văn T và bà Lê Thị Q; vợ là Lê Thị Tuyết B và có 01 con sinh năm 2023; Tiền án: Ngày 27/11/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tại Bản án số 207/2019/HSST; Về nhân thân: Ngày 19/12/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản tại Bản án số 296/2023/HS-ST; tiền sự: không; Bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam M1; có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

  • + Nguyễn Hoàng K, sinh năm 1995. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
  • + Nguyễn Hoàng P, sinh năm 2001. Địa chỉ: ấp A, xã Đ, huyện G, tỉnh Kiên Giang (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 22/7/2023, anh Nguyễn Hoàng K, sinh năm 1995; HKTT: ấp T, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang đến chơi tại nhà bạn gái tên Bùi Diễm M ở ấp X, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Do có quen biết từ trước với bị can Lê Hữu L nên khi gặp bị can L anh K rủ L vào nhà của M nhậu thì bị can L đồng ý. Đến nơi, anh K đi vào nhà của M nấu mồi nhậu, lúc này bị can L hỏi K mượn chiếc xe mô tô hiệu Yamaha loại xe Exciter biển số 68M1-222.59 của K để đi mua lẩu dê và rước bạn về nhậu cùng thì được K đồng ý. Bị can L điều khiển chiếc xe của anh K về hướng Ngã 4 Xẻo Nhàu đến quán L1 thuộc ấp X, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang mua 01 phần lẩu dê. Khi đang đợi chủ quán làm lẩu dê để mang về, thì lúc này do cần tiền tiêu xài nên bị can L nảy sinh ý định mang chiếc xe của anh K đi bán, nên điều khiển chiếc xe chạy đến huyện H, thành phố Hồ Chí Minh bán cho một người tên Nguyễn T1 (không rõ nhân thân lại lịch) với giá 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm ngàn đồng). Số tiền bán xe được bị can Lê Hữu L tiêu xài cá nhân hết.

Mở rộng điều tra xác định, trước đó vào ngày 16/02/2023, anh Nguyễn Hoàng P, sinh năm 2001; HKTT: ấp A, xã Đ, huyện G, Kiên Giang đến nhà của bị can Lê Hữu L tại ấp P, xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang để nhậu. Tại đây, cả hai nhậu đến khoảng 13 giờ 30 cùng ngày thì bị can L rủ anh P đến quán N thuộc ấp A, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang để nhậu tiếp và có gọi 02 nữ tiếp viên vào nhậu cùng. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, bị can L hỏi anh P mượn chiếc xe hiệu Suzuky loại xe Raider màu đen trắng biển số 68S1-492.69 để đến chợ Thứ Mười Một có việc hai lần rồi quay lại quán trả cho P, đến lần thứ ba bị can L tiếp tục hỏi mượn chiếc xe của anh P để đi công việc thì anh P đồng ý, sau khi mượn xe đi công việc xong, do cần tiền tiêu xài cá nhân nên bị can Lê Hữu L nảy sinh ý định mang chiếc xe của anh P để bán lấy tiền tiêu xài, lúc này bị can L điều khiển chiếc xe trên đến quận B, Thành Phố Hồ Chí Minh bán cho một người lạ mặt với giá 9.000.000 đồng.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 30 ngày 05/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện A, tỉnh Kiên Giang kết luận: 01 (Một) xe hiệu Suzuky loại xe Raider màu đen trắng biển số 68S1-492.69 có giá trị còn lại 17.000.000 đồng.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 29 ngày 12/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện A, tỉnh Kiên Giang kết luận: 01 (Một) chiếc xe hiệu Yamaha loại xe Exciter biển số 68M1-222.59 có giá trị còn lại là 12.000.000 đồng.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện A đã ra Quyết định truy tìm tang vật nhưng chưa thu giữ được.

Về trách nhiệm dân sự, Người bị hại là anh Nguyễn Hoàng K yêu cầu bị can Lê Hữu L bồi thường số tiền 20.000.000 đồng. Người bị hại là anh Nguyễn Hoàng P yêu cầu bị can Lê Hữu L bồi thường số tiền 60.000.000 đồng. Bị can Lê Hữu L chưa bồi thường được khoản nào.

Tại Cáo trạng số 27/CT-VKS-AM ngày 18-3-2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang truy tố Lê Hữu Lợi về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản quy định tại khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa,

- Kiểm sát viên kết luận bị cáo Lê Hữu L phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 175, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Hữu L 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù; Về trách nhiệm dân sự: ghi nhận ý kiến tự nguyện bồi thường tại tòa.

- Bị cáo L trình bày: Thừa nhận thực hiện hành vi như cáo trạng truy tố và kết luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa, không tranh luận gì. Về trách nhiệm dân sự đồng ý bồi thường theo yêu cầu của các bị hại. Trong đó bồi thường cho anh K bằng 20 triệu đồng, cho anh P bằng 60 triệu đồng. Trong lời nói sau cùng bị cáo trình bày đã biết lỗi, hối hận về hành vi của bản thân gây ra, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

- Bị hại K: yêu cầu bị cáo bồi thường giá trị xe bằng 20 triệu đồng; trách nhiệm hình sự xử lý theo quy định.

- Bị hại P: yêu cầu bị cáo bồi thường giá trị xe bằng 60 triệu đồng; trách nhiệm hình sự xử lý theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó có đủ căn cứ để kết luận:

[2.1] Vào ngày 22/7/2023, tại ấp T, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang, Lê Hữu L mượn chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha loại xe Exciter, biển kiểm soát 68M1 - 222.59 của anh Nguyễn Hoàng K để đi mua đồ ăn và rước bạn về nhậu. Trong lúc đợi mua đồ ăn thì L nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe của anh K nên điều khiển chiếc xe đến huyện H, thành phố Hồ Chí Minh bán cho người tên Nguyễn T1, không rõ lai lịch, nhân thân với số tiền 4.500.000 đồng. Tại bản kết luận định giá tài sản số: 29/KL-HĐĐGTS ngày 12/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận chiếc xe có giá trị 12.000.000 đồng.

[2.2] Qua mở rộng điều tra, xác định ngày 16/02/2023, tại quán N thuộc ấp A, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang, Lê Hữu L mượn chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Suzuki, loại xe Raider, màu đen trắng, biển kiểm soát 68S1 - 492.69 của anh Nguyễn Hoàng P để đi công việc, do trước đó đã hai lần cho L mượn xe và L đều trả nên đến lần thứ ba hỏi mượn thì anh P tin tưởng và đồng ý cho L mượn. Sau khi đi công việc thì L nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe của anh P để bán lấy tiền tiêu xài nên điều khiển chiếc xe đến quận B, thành phố Hồ Chí Minh bán cho một người lạ mặt với số tiền 9.000.000 đồng. Tại bản kết luận định giá tài sản số: 30/KL-HĐĐGTS ngày 05/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận chiếc xe có giá trị 17.000.000 đồng.

[3] Về tội phạm: Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có đủ khả năng nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện là phạm tội với lỗi cố ý. Để chiếm đoạt được tài sản của bị hại, bị cáo lợi dụng sự tin tưởng của người khác giao xe cho bị cáo mượn, sau đó dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản nên là hành vi lạm dụng tín nhiếm chiếm đoạt tài sản. Bằng thủ đoạn trên, bị cáo đã liên tục chiếm đoạt 02 chiếc xe, gồm: theo kết luận định giá chiếc xe bị cáo chiếm đoạt của anh K có giá trị 12.000.000 đồng và chiếc xe chiếm đoạt của anh P có giá trị 17.000.000 đồng, tổng giá trị tài sản là 29.000.000 đồng. Do đó, Viện kiểm sát truy tố và kết luận bị cáo Lê Hữu L phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

[4] Về hình phạt:

[4.1] Về tình tiết tăng nặng, tính chất của vụ án: Bị cáo hai lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản và giá trị tài sản cả hai lần chiếm đoạt đều đủ định lượng truy cứu trách nhiệm hình sự nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên; đồng thời ngày 27/11/2019 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên thuộc trường hợp tái phạm, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và khả năng nhận thức được tài sản của người khác là bất khả xâm phạm, nhưng bị cáo vẫn thực hiện để chiếm đoạt tài sản hợp pháp của họ, hành vi này gây bức xúc trong dư luận và hoang mang, lo lắng trong nhân dân. Do đó, cần xử phạt bị cáo hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội bị cáo đã gây ra, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.

[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải. HĐXX xác định đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

[4.3] Về quyết định hình phạt, thấy rằng bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, gây hoang mang, lo lắng trong nhân dân, liên tiếp thực hiện hành vi phạm tội nên cần áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn để răn đe và giáo dục bị cáo. Khi quyết định mức hình phạt thấy bị cáo có nhân thân xấu; sau khi phạm tội trong vụ án này, tiếp tục đến phạm tội tại huyện H, thành phố Hồ Chí Minh và bị xử phạt 02 năm tù về tội trộm cắp tài sản. Do đó, cần xử phạt bị cáo hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo để có thời gian tiếp tục giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân tốt, sống tuân thủ pháp luật và nhằm phòng ngừa, răn đe, cảnh tỉnh chung.

Bị cáo đang chấp hành hình phạt 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án sơ thẩm số 296/2023/HS-ST ngày 19-12-2023 của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh nên hình phạt sẽ được tổng hợp theo quy định chung để buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của 02 bản án.

[5] Về trách nhiệm dân sự, bị hại yêu cầu được bị cáo thống nhất bồi thường về giá trị tài sản bị chiếm đoạt nên HĐXX ghi nhận. Theo đó bị cáo L có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho anh P bằng 60.000.000 đồng, cho anh K bằng 20.000.000 đồng.

[6] Về án phí, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng và 80.000.000 đồng x 5% = 4.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho bị hại. Tổng cộng bị cáo phải nộp 4.200.000 đồng tiền án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1- Tuyên bố: Bị cáo Lê Hữu L phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

1.1- Căn cứ khoản 1 Điều 175, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Hữu L 02 (hai) năm tù, thời điểm chấp hành hình phạt tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án.

1.2- Căn cứ Điều 56 Bộ luật Hình sự, tổng hợp với hình phạt 02 (hai) năm tù về tội Trộm cắp tài sản của bản án sơ thẩm số 296/2023/HS-ST ngày 19-12-2023 của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh.

Buộc bị cáo Lê Hữu L phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 04 (bốn) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam trong tội trộm cắp tài sản (ngày 27/7/2023).

2- Về trách nhiệm dân sự: căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; các điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự, Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, buộc bị cáo Lê Hữu L có trách nhiệm bồi thường cho anh Nguyễn Hoàng P bằng 60.000.000 đồng, bồi thường cho anh Nguyễn Hoàng K bằng 20.000.000 đồng.

Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3- Về án phí, căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo Lê Hữu L phải chịu tổng cộng 4.200.000 đồng tiền án phí, gồm: 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 4.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

4- Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 30-8-2024).

Trường hợp phần trách nhiệm dân sự trong bản án này được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - VKS huyện, tỉnh;
  • - Toà án tỉnh KG;
  • - Cơ quan THAHS huyện AM;
  • - Cơ quan THADS huyện AM;
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Sở TP tỉnh KG;
  • - Công an huyện, tỉnh;
  • - UBND X. Vân Khánh Đông, AM, KG;
  • - Lưu Văn phòng, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Lê Chí Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 88/2024/HS-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 88/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Hữu L phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger