TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 88/2023/HNGĐ
Ngày: 29/12/2023
Về việc: “Ly hôn, con chung”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồ Hòa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Công Thẩm – Ông Trần Quốc Đấu
Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Dương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vinh - tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền; Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 12 năm 2023 tại: Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 244/2023/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2023, về tranh chấp: Ly hôn, con chung. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2023/QĐST-HNGĐ ngày 04/12/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 56 ngày 19/12/2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Phan Thị S – sinh năm 1984 – có mặt
Nơi ĐKNKTT: K, phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An;
Bị đơn: Ông Phan Văn V – sinh năm 1975 – vắng mặt
Nơi ĐKNKTT: K, phường V, thành phố V, tỉnh, Nghệ An;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Căn cứ vào đơn xin ly hôn ngày 22/8/2023 và những lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay của bà Phan Thị S thì: Bà Phan Thị S và ông Phan Văn V kết hôn với nhau vào năm 2012, hôn nhân tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An vào ngày 09/02/2012. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không phù hợp, vợ chồng đã sống ly thân. Nay bà S thấy tình cảm vợ chồng thực sự không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên xin được ly hôn với ông V để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên là Phan Ngọc Huyền T, sinh ngày 10/10/2012 và Phan Hoàng V1, sinh ngày 15/01/2019. Khi ly hôn bà S có nguyện vọng xin được nuôi hai con chung và không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản: Bà Phan Thị S không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông Phan Văn V đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản nhưng vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án: Tuy nhiên, trong quá trình hòa giải đối thoại tại Tòa án thì ông V thừa nhận vợ chồng kết hôn như bà S trình bày. Quá trình chung sống vợ chồng không có mâu thuẫn gì lớn. Nay bà S làm đơn xin ly hôn thì ông V có nguyện vọng vợ chồng đoàn tụ để cùng chung sống, nhưng nếu như bà S vẫn kiên quyết ly hôn thì ông V cũng đồng ý; Về con chung: Vợ chồng có hai con chung như bà S đã trình bày, nếu ly hôn nguyện vọng ông V xin được nuôi hai con chung và không yêu cầu bà S cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản: Ông V không có yêu cầu giải quyết gì.
Qua xác minh chính quyền địa phương thì bà S và ông V kết hôn với nhau tại phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Quá trình chung sống vợ chồng mâu thuẫn như thế nào thì không biết cụ thể. Nay bà S xin ly hôn thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán đã tuân thủ đúng các quy định tại Điều 48 BLTTDS; việc thụ lý và giải quyết vụ án đúng quy định tại Điều 28, Điều 35 BLTTDS; xác định đúng tư cách đương sự, Thời hạn chuẩn bị xét xử đảm bảo đúng quy định tại Điều 203 BLTTDS. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử cũng đã tuân thủ đúng các quy định của BLTTDS.
Về nội dung vụ án: Về tình cảm vợ chồng đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn xử cho bà Phan Thị S được ly hôn với ông Phan Văn V.
Về con chung: Giao 02 con chung là Phan Ngọc Huyền T, sinh ngày 10/10/2012 và Phan Hoàng V1, sinh ngày 15/01/2019 cho bà S trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến khi con chung đủ tuổi trưởng thành. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho ông V do bà S không yêu cầu.
Về quan hệ tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên miễn xét.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Bà Phan Thị S làm đơn yêu cầu được ly hôn với ông Phan Văn V nên Tòa án thụ lý vụ án Hôn nhân và gia đình để xem xét, giải quyết là đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên toà ông Phan Văn V đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên căn cứ khoản 1 điều 207 và khoản 1 điều 228 BLTTDS để giải quyết vụ án. Nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về nội dung: Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại tại phiên tòa bà Phan Thị S giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Về quan hệ tình cảm: Bà Phan Thị S và ông Phan Văn V kết hôn với nhau vào năm 2012, hôn nhân tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An vào ngày 09/02/2012. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không phù hợp, hiện vợ chồng đã sống ly thân. Như vậy, có thể khẳng định cuộc sống hôn nhân giữa bà S và ông V trên thực tế không còn tồn tại, tình trạng hôn nhân của vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của bà S, xử cho bà Phan Thị S được ly hôn với ông Phan Văn V.
[2.2] Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên là Phan Ngọc Huyền T, sinh ngày 10/10/2012 và Phan Hoàng V1, sinh ngày 15/01/2019. Hiện tại con chung đang sống với bà S, bà S có nguyện vọng được chăm sóc nuôi dưỡng cả hai con chung và không yêu cầu ông V cấp dưỡng. Quá trình hòa giải tại Trung tâm H đối thoại ông V có nguyện vọng xin được nuôi cả hai con chung và không yêu cầu bà S cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, trong suốt quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án, ông V đã được triệu tập nhiều lần nhưng vắng mặt và không có ý kiến gì. Việc giao con chưa thành niên cho người nào trực tiếp nuôi dưỡng là tùy thuộc vào sự phát triển mọi mặt của con chung, cháu T cũng có nguyện vọng xin được ở với mẹ. Vì vậy cần giao 02 con chung tên là Phan Ngọc Huyền T, sinh ngày 10/10/2012 và Phan Hoàng V1, sinh ngày 15/01/2019 cho bà Phan Thị S trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng trưởng thành. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho ông V do bà S không yêu cầu.
[2.3] Về quan hệ tài sản: Bà S, ông V không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.
[2.4] Về án phí: Bà Phan Thị S phải chịu án phí ly hôn theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 207, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, X:
- Về quan hệ tình cảm: Xử cho bà Phan Thị S được ly hôn ông Phan Văn V.
- Về con chung: Giao con chung tên là Phan Ngọc Huyền T, sinh ngày 10/10/2012 và Phan Hoàng V1, sinh ngày 15/01/2019 cho bà Phan Thị S trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến khi con chung đủ tuổi trưởng thành. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho ông V do bà S không yêu cầu.
Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích con chung. Tòa án có thể ra quyết định thay đổi việc nuôi con hoặc mức cấp dưỡng khi có yêu cầu của một hoặc hai bên.
Trường hợp, bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bên trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- Về án phí: Bà Phan Thị S phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí LHST (nhưng được trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí tại chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh theo BL số 0001954 ngày 05/10/2023).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, điều 7 và điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn có mặt quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.
Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND thành phố Vinh; - Chi cục THADS thành phố Vinh; - Các đương sự; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồ Hòa |
Bản án số 88/2023/HNGĐ ngày 29/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH - TỈNH NGHỆ AN về ly hôn, con chung
- Số bản án: 88/2023/HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/12/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH - TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án HNGĐ số 87 ngày 28/12/2023
