|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 88/2023/HS-ST Ngày 29/11/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà: Bà Giáp Thị Loan
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Thụ
2. Ông Nguyễn Hữu Thái
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 91/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Xuân T, sinh ngày 14/02/1994; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: thôn B, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 08/12; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; Con ông Nguyễn Xuân T1, sinh năm 1961; Con bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1962; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ 02; Vợ : Chảo Xín H, sinh năm 1996 (đã ly hôn); Con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 92/2012/HSST ngày 21/11/2012 của Toà án nhân dân huyện Lục Nam xử phạt Nguyễn Xuân T 36 tháng tù về tội “Tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma tuý”, Nguyễn Xuân T đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/8/2015, chấp hành xong khoản án phí 200.000 đồng ngày 29/9/2015.
Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/9/2023 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện L, tỉnh Bắc Giang (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Lưu Văn H1, sinh năm 1992 (vắng mặt)
- Địa chỉ: Thôn B, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- - Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1968 (có mặt)
- Địa chỉ: Thôn B, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Người chứng kiến:
- - Ông Tạ Quang H2, sinh năm 1964 (vắng mặt)
- Địa chỉ: Thôn B, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- - Anh Nguyễn Xuân Đ, sinh năm 1974 (có mặt)
- Địa chỉ: Thôn B, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 08 giờ 16 phút ngày 07/9/2023 tổ công tác Công an huyện L phối hợp với Công an xã K tiến hành tuần tra, kiểm soát tại đoạn đường liên thôn thuộc địa phận B, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang phát hiện, bắt quả tang đối tượng Nguyễn Xuân T đang có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tang vật thu giữ: Thu tại vị trí bụi cỏ khô rìa đường bê tông ngay cạnh vị trí bắt giữ Nguyễn Xuân T có 01 bao diêm hình hộp chữ nhật màu xanh, có chữ trên bề mặt bao diêm “Diêm an toàn Thống Nhất” màu đỏ, bên trong bao diêm đựng 13 gói gấy bạc có mặt ngoài màu trắng, mặt trong màu vàng, bên trong mỗi gói đựng chất cục bột màu trắng (nghi là ma túy); 01 điện thoại diện thoại di động nhãn hiệu Realme màu xanh, có số emei: 86915005403260/01; 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave s màu đen BKS 98B1-732.98.
Cơ quan CSĐT Công an huyện L, tỉnh Bắc Giang thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp số 28/LKX-CQĐT ngày 07/9/2023, khám xét chỗ ở của Nguyễn Xuân T tại thôn B, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Kết quả khám xét không thu giữ đồ vật tài sản gì.
Ngày 07/9/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện L đã có Quyết định trưng cầu giám định số 241/QĐ-ĐCSMT, trưng cầu Phòng K Công an tỉnh B giám định số vật chứng nghi là chất ma tuý đã thu giữ.
Tại bản Kết luận giám định số 1688/KL-KTHS ngày 12/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Trong 01 phong bì thư ký hiệu “QT1” được niêm phong gửi giám định: “Chất cục bột màu trắng được đựng trong 13 gói giấy bạc đều có mặt ngoài mài trắng, mặt trong màu vàng, được đựng trong 01 bao diêm dạng hình hộp chữ nhật, một mặt màu xanh có chữ “Diêm an toàn thống nhất” màu đỏ là ma túy, có tổng khối lượng là 2,023 gam, loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetymorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định 57/2022/NĐ-CP của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Xuân T khai nhận:
Do bản thân Tại là người nghiện ma túy, nên khoảng 06 giờ 30 phút ngày 07/9/2023 Tại đến nhà anh Lưu Văn H1, sinh năm 1992, ở cùng thôn để nhờ anh H1 chở ra thành phố B (khi nhờ Tại không nói mục địch đi đến thành phố B để làm gì). Sau đó anh H1 dùng xe mô tô chở Tại đến khu vực đường tàu, gần sân vận động thành phố B thì Tại bảo H1 dừng xe chờ Tại ở ngoài đường. Tại một mình đi vào trong 01 con ngõ, giáp đường tàu, tại đây qua khe hở trên 01 bức tường, Tại gọi "anh ơi", thì có một người đàn ông đi ra, Tại đưa 1.300.000 đồng qua khe hở cho người đàn ông này, sau đó người đàn ông này đưa cho Tại 01 bao diêm Thống nhất, Tại kiểm tra bên trong có 13 gói gấy bạc, bên trong đựng ma túy Heroine. Sau đó tại quay lại chỗ anh H1 đứng chờ và lên xe mô tô bảo H1 chở về nhà. Khi đi đến đoạn đường liên thôn thuộc thôn B, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang thì bị lực lượng Công an kiểm tra, bắt quả tang. Do hoảng sợ nên Tại đã ném bao diêm đựng ma tuý xuống nền đường, gần vị trí Tại đứng thì bị lực lượng Công an thu giữ toàn bộ tang vật.
Cơ quan CSĐT Công an huyện L tiến hành kiểm tra việc sử dụng chất ma túy đối với Nguyễn Xuân T, kết quả Nguyễn Xuân T dương tính với ma túy Methamphetamine và H3. Ngày 24/10/2023, Công an huyện L đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 80/QĐ-XPHC đối với Nguyễn Xuân T về hành vi "Sử dụng trái phép chất ma túy".
Ngày 13/9/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện L, tỉnh Bắc Giang kiểm tra điện thoại di động đã thu giữ của Nguyễn Xuân T, kết quả: không phát hiện việc giao dịch mua bán chất ma tuý.
Đối với người đàn ông bán ma tuý cho Nguyễn Xuân T ngày 07/9/2023, quá trình điều tra Tại khai do chỉ nghe bạn bè nói chuyện rằng người này tên là G, khi mua ma tuý chỉ nhìn qua khe hở của bức tường, không nhìn rõ mặt người đàn ông bán ma tuý, bản thân Tại không nhớ rõ địa chỉ ngôi nhà T đã mua ma tuý nên việc Cơ quan CSĐT Công an huyện L không có căn cứ xác minh, xử lý là có căn cứ.
Đối với anh Lưu Văn H1, sinh năm 1992 (là người ở cùng thôn với Nguyễn Xuân T), khi chở T đi xuống thành phố B ngày 07/9/2023 không được Tại nhờ chở đi mua ma tuý hay nói cho biết việc T đi mua ma tuý nên hành vi của anh Lưu Văn H1 không đồng phạm với Nguyễn Xuân T.
Về vật chứng đã thu giữ, việc xử lý: Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave s màu đen BKS 98B1-732.98, số khung 1429391, số máy 169721 quá trình điều tra xác định là của bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1968, trú tại: thôn B, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang (là mẹ đẻ của Lưu Văn H1). Ngày 07/9/2023 bà N để xe mô tô trên ở nhà, không biết việc H1 lấy xe mô tô trên để chở Nguyễn Xuân T đi mua ma tuý; ngày 24/10/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện L đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại xe mô tô trên cho bà Nguyễn Thị N.
Đối với 01 phong bì thư được niêm phong dán kín ký hiệu “QT” là mẫu vật hoàn lại sau giám định của Phòng K Công an tỉnh B; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu 01 điện thoại diện thoại di động nhãn hiệu Realme màu xanh, có số emei: 869150054030278/01 Cơ quan CSĐT Công an huyện L bảo quản tại kho vật chứng, chờ xử lý theo quy định.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Xuân T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu ở trên.
* Tại bản Cáo trạng số: 91/CT-VKS ngày 09 tháng 11 năm 2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam đã truy tố bị cáo Nguyễn Xuân T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
* Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Xuân T khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo xác nhận Cáo trạng truy tố bị cáo không oan sai. Ngoài ra bị cáo còn trình bày: Trong quá trình điều tra bị cáo bị thu giữ 01 điện thoại nhãn hiệu Realme màu xanh không liên quan đến hành vi phạm tội, nên bị cáo có đề nghị được nhận lại chiếc điện thoại này.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố của bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 07/9/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo do bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư có ký hiệu “QT” là mẫu vật hoàn lại sau giám định bên trong là ma túy. Trả lại cho bị cáo Tại 01 điện thoại nhãn hiệu Realme màu xanh nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Về án phí: Bị cáo Tại phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị về quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
* Tranh luận với kết luận của đại diện Viện kiểm sát: Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.
* Bị cáo T nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét, đánh giá một cách khách quan, toàn diện, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập phiên tòa nhưng vắng mặt. Xét thấy quá trình điều tra những người này đã có đầy đủ lời khai tại hồ sơ vụ án nên việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử; Chủ tọa phiên tòa công bố lời khai của người vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa.
[2] Đánh giá tính hợp pháp về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó cần xác định các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam và Kiểm sát viên đã thực hiện là đúng pháp luật.
[3] Đánh giá chứng cứ:
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Xuân T khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với các lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, kết quả giám định, vật chứng thu giữ và phù hợp với các chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa. Vì vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Hồi 08 giờ 16 phút ngày 07/9/2023 tổ công tác Công an huyện L phối hợp với Công an xã K tiến hành tuần tra, kiểm soát tại đoạn đường liên thôn B, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang phát hiện, bắt quả tang đối tượng Nguyễn Xuân T đang có hành vi tàng trữ trái phép 2,023 gam ma tuý, loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetymorphine với mục đích để sử dụng.
Hành vi của Nguyễn Xuân T đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy được qui định tại Điều 249 của Bộ luật hình sự. Bị cáo tàng trữ chất ma túy là: Diacetymorphine, có khối lượng 2,023 gam. Do đó hành vi của bị cáo đã phạm vào điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Như vậy Bản Cáo trạng số: 91/CT-VKS ngày 09 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam truy tố bị cáo Nguyễn Xuân T là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
[4] Đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Xuân T là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự tại địa phương. Heroine là chất ma túy, gây nguy hại cho người sử dụng, ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của con người và là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn trong xã hội. Bị cáo chỉ vì động cơ, mục đích thỏa mãn nhu cầu cá nhân đã cố ý phạm tội. Chứng tỏ bị cáo là người rất coi thường pháp luật. Do đó, phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự và có hình phạt tù, phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
[5] Xét về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.
Do đó, cần áp dụng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự khi xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[6] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Nhân thân: Năm 2012 bị cáo Nguyễn Xuân T bị Toà án nhân dân huyện Lục Nam xử phạt 36 tháng tù về tội “Tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma tuý”, Nguyễn Xuân T đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/8/2015, chấp hành xong khoản án phí 200.000 đồng ngày 29/9/2015.
Căn cứ vào nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét thấy cần có hình phạt tù giam phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo mới đủ cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người tốt.
Do bị cáo đang bị tạm giam. Nên cần áp dụng khoản 1 và khoản 3 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án. Thời hạn tạm giam tính từ ngày tuyên án.
[7] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định, sống phụ thuộc vào bố mẹ nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo, cũng đủ giáo dục bị cáo trở thành người tốt.
[8] Về vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư có ký hiệu “QT” là mẫu vật hoàn lại sau giám định bên trong là ma túy.
- - Bị cáo bị thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme màu xanh, có số emei: 869150054030278/01. Trong quá trình điều tra đã làm rõ điện thoại này không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Tại phiên tòa bị cáo đề nghị được nhận lại điện thoại, nên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
[9] Các nội dung khác:
- - Đối với người đàn ông bán ma tuý cho Nguyễn Xuân T ngày 07/9/2023, quá trình điều tra Tại khai do chỉ nghe bạn bè nói chuyện rằng người này tên là G, khi mua ma tuý chỉ nhìn qua khe hở của bức tường, không nhìn rõ mặt người đàn ông bán ma tuý, bản thân Tại không nhớ rõ địa chỉ ngôi nhà T đã mua ma tuý nên việc Cơ quan CSĐT Công an huyện L không có căn cứ xác minh, xử lý là có căn cứ.
- - Đối với anh Lưu Văn H1, sinh năm 1992 (là người ở cùng thôn với Nguyễn Xuân T), khi chở T đi xuống thành phố B ngày 07/9/2023 không được Tại nhờ chở đi mua ma tuý hay nói cho biết việc T đi mua ma tuý nên hành vi của anh Lưu Văn H1 không đồng phạm với Nguyễn Xuân T.
Tại nhờ chở đi mua ma tuý hay nói cho biết việc T đi mua ma tuý nên hành vi của anh Lưu Văn H1 không đồng phạm với Nguyễn Xuân T.
- - Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave s màu đen BKS 98B1-732.98, số khung 1429391, số máy 169721 quá trình điều tra xác định là của bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1968, trú tại: thôn B, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang (là mẹ đẻ của Lưu Văn H1). Ngày 07/9/2023 bà N để xe mô tô trên ở nhà, không biết việc H1 lấy xe mô tô trên để chở Nguyễn Xuân T đi mua ma tuý; ngày 24/10/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện L đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại xe mô tô trên cho bà Nguyễn Thị N. Tại phiên tòa, bà N trình bày đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì, nên không đặt ra xem xét.
[10] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Xuân T phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T: 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo (ngày 07/9/2023).
Miễn hình phạt tiền cho bị cáo Nguyễn Xuân T.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư có ký hiệu “QT” là mẫu vật hoàn lại sau giám định bên trong là ma túy.
- - Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme màu xanh có số Emai 869150054030278/01 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136; Điều 23 của Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Nguyễn Xuân T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 7a và 9 Lụât Thi hành án dân sự; thời hiêụ thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Giáp Thị Loan |
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Nguyễn Văn Thụ | Giáp Thị Loan |
| Nguyễn Hữu Thái |
Bản án số 88/2023/HS-ST ngày 29/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG về hình sự sơ thẩm: tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 88/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Xuân T - Tàng trữ trái phép chất ma túy
