Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NINH

Bản án số: 88/2023/HS-PT

Ngày: 28/11/2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thúy Huyền
- Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thúy Hằng
Ông Phạm Duy Hải
Thư ký phiên toà: Ông Trịnh Đức Tâm, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Minh Hiền và ông Nguyễn Thành L, Kiểm sát viên.

Ngày 28/11/2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 83/2023/TLPT-HS ngày 11/10/2023 đối với bị cáo Hoàng Quỳnh A do có kháng cáo bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 187/2023/HSST ngày 24/8/2023 của Toà án nhân dân thành phố Hạ Long.

- Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Hoàng Quỳnh A (tên gọi khác: không), sinh ngày 17 tháng 9 năm 2004 tại tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: tổ A, khu A, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hoàng Minh T và bà Hồ Quỳnh T1; chưa có chồng, con; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo đầu thú ngày 09/03/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q. Có mặt tại phiên tòa.

Các bị cáo không có kháng cáo, không bị kháng nghị: Nguyễn Trung S, Nguyễn Văn T2, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Trung SNguyễn Văn T2, là bạn bè và đều sử dụng ma túy loại cần sa. Từ đầu tháng 01/2023, S nảy sinh ý định mua ma túy cần sa về bán kiếm lời nên thống nhất với T2, S có trách nhiệm mua ma túy cần sa, chia nhỏ, đóng gói, còn T2 bán, thu tiền đưa cho S. Từ đầu tháng 01/2023, qua mạng xã hội T3, S quen biết một người thanh niên có tài khoản “Lý Đao” và có số tài khoản ngân hàng V là 9923242995 mang tên Nguyễn Phước H. S đã thỏa thuận và nhiều lần mua cần sa của H bằng cách nhắn tin qua ứng dụng Telegram, mỗi lần S mua từ 100gam đến 300gam cần sa với giá 5.000.000 đồng/100 gam, S không trả tiền ngay mà khi nào bán được ma túy sẽ trả bằng hình thức chuyển khoản cho H. Mỗi lần mua được ma túy về S sẽ tự chia ma túy thành nhiều túi nhỏ bán với với giá từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng/1 túi. S thoả thuận chia 10% số tiền lãi và cho tiền ăn uống sinh hoạt hàng ngày cho T2, nếu bán túi ma túy với giá cao hơn thì T2 được hưởng. Sau mỗi lần bán được ma túy, T2 chuyển tiền cho S bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản đến tài khoản ngân hàng M của Hoàng Quỳnh A (là bạn gái S) số tài khoản là 0365175558. S đã nhờ Quỳnh A chuyển tiền mua ma túy vào số tài khoản của mang tên Nguyễn Phước H, cụ thể: Ngày 01/3/2023 chuyển 15.000.000 đồng, ngày 07/3/2023 chuyển 20.000.000 đồng, ngày 08/3/2023 chuyển 18.000.000 đồng, ngày 09/3/2023 chuyển 13.500.000 đồng, với nội dung chuyển tiền để mua quần áo để tránh bị phát hiện, đồng thời Quỳnh A cũng đã nhận tiền bán ma túy do T2 chuyển cho S thông qua tài khoản của Quỳnh A, cụ thể: Ngày 15/02/2023 nhận 15.500.000 đồng, ngày 18/02/2023 nhận 3.500.000 đồng, ngày 24/02/2023 nhận 4.910.000 đồng, ngày 28/02/2023 nhận 6.100.000 đồng, ngày 06/3/2023 nhận 11.380.000 đồng, ngày 09/3/2023 nhận 13.000.000 đồng. Về số lần mua được ma túy về chia nhỏ rồi đưa cho T2 mang đi bán, chụ thể:

Lần thứ nhất: Chiều ngày 15/02/2023 S cùng Hoàng Quỳnh A vào nhà của T2 tại tổ 22b, khu D, phường H, thành phố H để đưa ma túy cho T2 đi bán. Tại phòng ở có S, T2, Quỳnh A. ST2 đếm và chia ma túy mang đi bán nhưng không nhớ cụ thể số lượng bao nhiêu, T2 trả cho S 13.000.000 đồng tiền bán ma túy trước đó. Khách mua ma túy chủ yếu là khách của T2S nhưng S không trực tiếp bán ma túy mà có người mua liên hệ thì S cho số điện thoại của T2 để liên lạc mua ma tuý, khi bán được ma túy T2 thông báo cho S biết. Mỗi lần đi bán ma túy, T2 đều lấy tiền Ship từ 10.000 đồng đến 20.000 đồng.

Lần thứ hai: Vào ngày 01/3/2023, S tiếp tục đặt mua ma túy của người đàn ông tên H 01 lạng ma túy với giá 15.000.000 đồng và bảo gửi đến địa chỉ của T2, do ma túy chất lượng tốt hơn nên giá cao hơn. Nhận được ma túy, T2 gọi điện cho S đến nhà T2 và cả hai cùng chia nhỏ được 75 túi cần sa bán giá 300.000 đồng/01 túi và 70 túi cần sa bán với giá 250.000 đồng/01 túi và 45 túi cần sa bán giá 200.000 đồng/01 túi và một ít vụn ma túy cần sa gói trong một túi nilon. S tự lấy ra 02 túi ma túy để bán cho khách quen giá 200.000 đồng, số ma túy còn lại giao cho T2 quản lý, bán cho khách và dặn T2 nếu khách quen thì lấy ít vụn cho thêm khách. Sau đó T2 đưa cho S 12.330.000 đồng tiền mặt. Đến ngày 09/3/2023, T2 đã bán hết được 75 túi ma túy cần sa cho nhiều người trên thành phố H nhưng chỉ nhớ được cụ thể những người sau:

- Vào ngày 02/3/2023, T2 bán cho Phạm Quang D (sinh năm 1987, trú tại: Tổ B, khu A, phường H, thành phố H,) 01 túi ma túy cần sa với giá 250.000 đồng và 20.000 đồng tiền phí giao hàng. Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 08/3/2023, T2 tiếp tục bán cho D 01 túi ma túy cần sa với giá 300.000 đồng và 20.000 tiền phí giao hàng. Cả hai lần đều giao dịch tại khu vực gần quán rửa xe ôtô phố H, phường H, thành phố H.

- Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 17/02/2023 và 03/3/2023, T2 bán cho Nguyễn Mạnh H1 (sinh năm 1993, trú tại: Tổ C, khu A, phường Y, thành phố H) mỗi lần 01 túi ma túy cần sa với giá 200.000 đồng và giao dịch tại khu vực lối lên khu đèo sen đầu ngõ vào nhà T2 thuộc phường H, thành phố H.

2

- Vào khoảng 15 giờ 40 phút ngày 07/3/2023 và 08/3/2023, T2 bán cho Nguyễn Thanh T4 (sinh năm 2002, trú tại: Tổ E, khu D, phường C, thành phố H) mỗi lần 01 túi ma túy cần sa với giá 300.000 đồng và 10.000 đồng tiền phí giao hàng.

Đến khoảng 16 giờ 25 ngày 09/03/2023, T2 điều khiển xe môtô biển kiểm soát (BKS) 16M7-1668 mang theo 31 túi ma túy cần sa (trong đó có 10 túi bán với giá 300.000 đồng/01 túi và 21 túi bán với giá 200.000 đồng/01 túi) mục đích để tìm người mua thì bị Công an bắt quả tang. Vật chứng thu giữ: Trong túi áo khoác ngực phía trong bên phải T2 đang mặc 10 túi nilon có cùng kích thước (5x8,5) cm kí M1 - M10; Thu trong cốp xe máy BKS: 16M7-1668 01 túi đeo chéo bên trong có: 04 túi nilon có cùng kích thước (4x7)cm kí hiệu M11 - M14; 17 túi nilon có cùng kích thước (5x8,5)cm kí hiệu M15 - M31; T5 tại túi quần bên phải của T2 là 500.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen có gắn sim 0357.537.003; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius BKS 16M7-1668.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn T2 tại tổ B, khu D, phường H, thành phố H, Quảng Ninh, thu giữ dưới gầm bàn máy vi tính trong phòng có: 01 (một) hộp giấy hình chữ nhật có dòng chữ “Long Đỉnh trà o long” bên trong có 23 (hai mươi ba) túi nilon cùng kích thước khoảng (5x8)cm kí hiệu M32 - M54; 01 (một) hộp giấy loại bìa cát tông bên trong có 01 (một) gói nilon có chứa thực vật khô (nghi là ma túy) và 01 (một) túi nilon màu hồng bên trong có 61 (sáu mươi mốt) túi nilon cùng kích thước khoảng (5x8)cm kí hiệu M55 - M116; 01(một) cân điện tử mini màu bạc.

Cơ quan điều tra tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp và khám xét nơi ở của Nguyễn Trung S tại tổ A, khu C, phường H, tp.: Thu giữ trên mặt bàn máy tính trong phòng trọ 1 túi nilon và 01 (một) túi nilon kích thước (5x8)cm kí hiệu M117 – M118; Thu giữ trên ghế sofa 01 khẩu súng màu đen dài 20cm, nòng súng bằng kim loại dài 6,4cm, đường kính trong của nòng súng 7mm, trên súng có kí hiệu “SMITH & WESSON -ZP-5-MADE IN CHINA”, ốp báng súng (ốp tay cầm) bằng nhựa, ổ quay (ổ chứa đạn) kích thước (3,8x4)cm, có 06 lỗ đạn và 43 viên đạn bằng kim loại, hình trụ, có vỏ màu vàng dài 15,5mm, đầu đạn màu đen xám đường kính 5,6mm; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu trắng xanh, BKS 14N1-080.27.

Cũng trong ngày 09/3/2023, Hoàng Quỳnh A đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình. Thu giữ của Hoàng Quỳnh A 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh, lắp sim số 0365.175.558.

Tiến hành kiểm tra điện thoại thu giữ của Nguyễn Trung S gắn sim 0396.516.119 và điện thoại thu giữ của Nguyễn Văn T2 gắn sim 0357.537.003, xác định có các cuộc gọi, tin nhắn trong mục Messeger thể hiện nội dung trao đổi việc bán ma túy cho khách. Tiến hành kiểm tra tài khoản ngân hàng M1 có số tài khoản là 0365175558 trong máy điện thoại thu giữ của Quỳnh A, xác định có việc chuyển tiền từ số tài khoản của T2 cho tài khoản của Quỳnh A và có việc chuyển tiền từ số tài khoản của Quỳnh A cho người đàn ông bán ma túy tên H.

Kết luận giám định số 315/KL-KTHS ngày 17/3/2023 của phòng K Công an tỉnh Q kết luận: Mẫu vật gửi giám định kí hiệu từ M –M118 là ma túy, loại Cần sa, có tổng khối lượng lần lượt là: M1 – M10 là: 9,895 gam; M11 – M14 là: 4,006 gam; M15 – M31 là: 17,373 gam; M32 – M54 là: 18,423 gam; M55 – M116 là: 50,67 gam; M117 – M118 là: 5,887 gam.

3

Kết luận giám định số 359/KL-KTHS ngày 27/3/2023 của phòng K Công an tỉnh Q kết luận: 01 khẩu súng cần giám định là súng kiểu ổ quay đã được sửa chữa, thay thế một số bộ phận so với nhà sản xuất để bắn được đạn cỡ 5,6x15,5mm, hiện tại súng còn sử dụng để bắn được, thuộc vũ khí quân dụng; 43 viên đạn cần giám định là đạn thể thao cỡ 5,6x15,5mm, không phải vũ khí quân dụng, hiện tại còn sử dụng để bắn được cho khẩu súng cần giám định.

Quá trình điều tra Nguyễn Văn T2, Nguyễn Trung SHoàng Quỳnh A khai nhận hành vi đã thực hiện như nội dung nêu trên. Ngoài ra:

- Nguyễn Văn T2 khai thêm: T2 không nói với Quỳnh A về việc mua bán ma túy nhưng nghĩ Quỳnh Anh biết do đã chứng kiến T2S chia, đếm ma túy cần sa và bàn bạc thống nhất về giá cả mua bán ma túy. T2 đã bán ma túy cho nhiều người, nhiều lần nhưng đa số không quen biết. Nguyễn Trung S khai thêm: Mỗi lần Quỳnh A nhận được tiền bán ma tuý từ tài khoản của T2 đều báo lại cho S biết. Quỳnh A không tham gia trực tiếp đi bán ma túy nhưng cho mượn tài khoản để giao dịch mua bán ma túy nên S cho Quỳnh A tự do sử dụng số tiền trong tài khoản ngân hàng có được nhờ bán ma túy để dùng vào việc sinh hoạt, ăn uống cá nhân,... Quỳnh A đã khuyên S dừng việc bán ma túy nhưng S không đồng ý, sau đó thì Quỳnh A vẫn giúp S nhận tiền bán ma túy từ T2 và chuyển tiền mua ma túy cho H.

Hoàng Quỳnh A khai: biết ST2 bàn bạc, thống nhất mua ma túy cần sa về bán kiếm lời trong đó S là người mua ma túy, chia nhỏ đóng gói rồi đưa cho T2 mang đi bán. Qúa trình sinh hoạt, Quỳnh A nhiều lần nghe S nói chuyện qua điện thoại với T2 và những người khác về việc bán ma túy cần sa nhưng không biết cụ thể. Quỳnh A biết S sử dụng tài khoản để mua bán ma túy khi lần đầu tiên T2 chuyển tiền đến tài khoản. S bảo Quỳnh A khi có tiền chuyển đến thì thông báo cho S hoặc S nhờ chuyển tiền đến tài khoản khác thì chuyển giúp. Quỳnh A không tham gia vào việc chia, mua bán ma túy nhưng được S cho ăn uống và mua đồ dùng cá nhân. Quỳnh A trực tiếp quản lý tài khoản, nhận tiền bán ma túy T2, khi S cần tiền chi tiêu thì rút tiền đưa lại cho S hoặc S cần chuyển tiền thì sẽ trực tiếp thực hiện giao dịch. S nhiều lần bảo Quỳnh A chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng V số 9923242995 mang tên “Nguyen Phuoc Hai” với nội dung chuyển tiền mua quần áo, Lần đầu tiên không biết S chuyển tiền để mua ma túy nhưng biết S không kinh doanh quần áo và nhiều lần chuyển số tiền lớn nên Quỳnh A biết S nhờ chuyển tiền để mua ma túy cần sa về bán.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 187/2023/HS-ST ngày 24/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long quyết định:

Căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Trung SNguyễn Văn T2;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung S 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt 09/3/2023.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T2 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt 09/3/2023

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự;

4

Xử phạt bị cáo Hoàng Quỳnh A 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/3/2023

Ngoài ra, Bản án còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và báo quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 04/9/2023 bị cáo Hoàng Quỳnh A kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Hoàng Quỳnh A giữ nguyên quan điểm kháng cáo và trình bày nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt: bị cáo không sử dụng ma túy, chỉ tham gia với vai trò đồng phạm, bị cáo đã nhận ra hành vi vi phạm pháp luật nên đã khai báo thành khẩn, giúp cơ quan chức năng nhanh chóng giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh trình bày quan điểm về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng Hình sự; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Quỳnh A, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm hình phạt cho bị cáo, xử phạt bị cáo mức án từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm tù.

Bị cáo Hoàng Quỳnh A không tranh luận; lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: đơn kháng cáo của bị cáo Hoàng Quỳnh A làm trong hạn luật định nên chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về tội danh: quá trình điều tra, xét xử sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Hoàng Quỳnh A đã khai nhận hành vi như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của của các bị cáo khác đã bị xét xử trong cùng vụ án, vật chứng thu giữ; lời khai của những người làm chứng, người chứng kiến. Do đó, việc Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xét xử bị cáo Hoàng Quỳnh A về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp luật.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm bị cáo Hoàng Quỳnh A thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo tuổi đời còn trẻ, bản thân không sử dụng trái phép chất ma túy, không tham gia trực tiếp chia ma túy, bán ma túy cùng các bị cáo khác, chỉ tham gia với vai trò đồng phạm giúp sức khi để S dùng tài khoản cá nhân của bị cáo để chuyển đi, nhận đến tiền mua bán trái phép chất ma túy; bị cáo phạm tội là do yêu S nên nể nang, dẫn tới hành vi vi phạm pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, gia đình bị cáo nộp cho Hội đồng xét xử tài liệu thể hiện bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, ông nội, ông ngoại bị cáo đều là những người có công với cạch mạng, được tặng huân chương kháng chiến.

Do đó, hội đồng xét xử thấy có căn cứ để chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Hoàng Quỳnh A, giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.

5

[4] Về án phí phúc thẩm: do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Hoàng Quỳnh A không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 điều 357 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Quỳnh A. Sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm hình phạt cho bị cáo.

[1] Tuyên bố: bị cáo Hoàng Quỳnh A phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự

Xử phạt bị cáo Hoàng Quỳnh A 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/3/2023.

[2] Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBNTQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án

Bị cáo Hoàng Quỳnh A không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thúy Hằng

Nguyễn Thị Thúy Huyền

Phạm Duy Hải

6

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Q.Ninh;
  • - CA, VKS, TA tp Hạ Long;
  • - Bị cáo; Cq THAHS tp Hạ Long;
  • - THA;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Thị Thúy Huyền

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 88/2023/HS-PT ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về hình sự

  • Số bản án: 88/2023/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Quỳnh A
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger