Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 88/2024/DS-ST

Ngày: 28 - 8 - 2024

V/v: “Tranh chấp về quyền sử dụng đất (lối đi chung) và yêu cầu tháo dỡ, di dời công trình trên đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Hoài Ân

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Võ Văn Trường
  2. Ông Nguyễn Văn Bỉnh

Thư ký phiên tòa: Bà Võ Bích Trăm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang. Tòa án nhân dân huyện Châu Thành công khai xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 215/2023/TLST-DS ngày 18 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2024/QĐXXST - DS ngày 02 tháng 8 năm 2024 về việc: “Tranh chấp về quyền sử dụng đất (lối đi chung) và yêu cầu tháo dỡ, di dời công trình trên đất” giữa:

Nguyên đơn: Ông Dương Văn H, sinh năm 1970

Trú tại: ấp P, thị trấn N, huyện C, tỉnh Hậu Giang.

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Chị Dương Ngọc Q, sinh năm 1989 (có mặt)

Trú tại: ấp P, thị trấn N, huyện C, tỉnh Hậu Giang.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Thế S - Văn phòng L1, Đoàn luật sư thành phố C.

Bị đơn:

  1. Ông Trần Chí T, sinh năm 1977 (có mặt)
  2. Trú tại: ấp P, thị trấn N, huyện C, tỉnh Hậu Giang.

    Chỗ ở hiện nay: Ấp Đ, xã N, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.

  3. Ông Nguyễn Thanh S1, sinh năm 1973 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
  4. Trú tại: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang.

  5. Ông Nguyễn Hữu T1, sinh năm 1976 (có mặt)
  6. Trú tại: ấp T, thị trấn N, huyện C, tỉnh Hậu Giang.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị Mỹ H1, sinh năm 1978 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
  2. Trú tại: ấp T, thị trấn N, huyện C, tỉnh Hậu Giang.

  3. Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1964 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
  4. Ông Võ Văn B, sinh năm 1934 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
  5. Ông Nguyễn Văn B1, sinh năm 1942 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
  6. Ông Nguyễn Văn S2, sinh năm 1948 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
  7. Anh Võ Văn Kiệm E, sinh năm 1977 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
  8. Anh Võ Văn K (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
  9. Cùng trú tại: ấp P, thị trấn N, huyện C, tỉnh Hậu Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 04/01/2022, đơn khởi kiện bổ sung ngày 28/6/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn và người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày:

Nguồn gốc phần đất tranh chấp là của ông Nguyễn Văn M (đã chết). Nguyên đơn nhận chuyển nhượng đất của ông Nguyễn Văn M1 vào năm 1994, không nhớ diện tích, khi mua ông Nguyễn Văn M1 đảm bảo đường nước, đường nước là phần đất tranh chấp đất của ông Nguyễn Văn M. Đường nước ngang 2m dài khoảng 92m, ngoài đường nước này thì không còn đường nước nào để đất của nguyên đơn dẫn nước vào phần đất của nguyên đơn và vận chuyển nông sản. Phần đất tranh chấp được chuyển nhượng qua nhiều chủ các lần chuyển nhượng nguyên đơn không biết. Hiện tại phần đất tranh chấp là đường nước nằm trong phần đất của ông Nguyễn Hữu T1 đã nhận chuyển nhượng từ ông Trần Chí T, ông Trần Chí T nhận chuyển nhượng từ ông Nguyễn Thanh S1. Hiện tại đường nước ngang qua phần đất của ông Nguyễn Hữu T1 vẫn sử dụng mục đích dẫn nước được, nhưng không thể dụng ghe, xuồng để vận chuyển nông sản được, do ông Nguyễn Hữu T1 đã làm hàng rào bao quanh phần đất cả ông Nguyễn Hữu T1, trong đó một đoạn hàng rào làm trên đường nước này. Nguyên đơn yêu cầu mở đường nước, mở hàng rào để nguyên đơn sử dụng đường nước để dẫn nước và dùng phương tiện để vận chuyển nông sản. Nguyên đơn không đồng ý mua lại đường nước.

Bị đơn Nguyễn Thanh S1 trình bày: Nguồn gốc đất tranh chấp là của ông Nguyễn Văn M (đã chết) là ông bà của ông Nguyễn Thanh S1 để lại cho ông Nguyễn Thanh S1, diện tích 4200m² đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 1992. Anh của Nguyễn Thanh S1 là Nguyễn Văn H2 (đã chết) đứng ra chuyển nhượng phần đất này cho ông Nguyễn Văn L, nội dung chuyển nhượng là chuyển nhượng hết đất, khi ông Nguyễn Thanh H3 chuyển nhượng đất cho ông Nguyễn Văn L ông Nguyễn Thanh S1 biết và đồng ý cho ông Nguyễn Thanh H3 chuyển nhượng đất cho ông Nguyễn Văn L. Phần đất của nguyên đơn nằm bên trong phần đất của ông Nguyễn Thanh S1, thời điểm ông Nguyễn Văn L canh tác nguyên đơn vẫn sử dụng đường nước đi ngang qua đất của Nguyễn Văn L. Thời điểm ông Nguyễn Thanh S1 và ông Nguyễn Văn L canh tác nguyên đơn vẫn sử dụng đường nước này. Ông S1 trình bà và thống nhất phần đất tranh chấp diện tích 186.6m² là lối đi chung. Yêu cầu ông T1 mở đường nước cho nguyên đơn không rào hàng rào.

Bị đơn Trần Chí T trình bày: Nguồn gốc đất tranh chấp nguyên đơn yêu cầu mở đường nước, là ông Trần Chí T nhận chuyển nhượng đất từ ông Nguyễn Văn L, diện tích 4401m² đất, nhận chuyển nhượng vào năm 2000. Ông Trần Chí T đã giao đủ tiền và đã nhận đất canh tác. Ông Trần Chí T canh tác phần đất này, thì nguyên đơn vẫn sử dụng đường nước trong đất của ông Trần Chí T, ngoài đường nước này thì nguyên đơn không còn đường nước nào khác. Hiện tại ông Trần Chí T đã chuyển nhượng đất lại cho ông Nguyễn Hữu T1, chuyển nhượng vào năm 2021. Ông Trần Chí T đã giao đất cho ông Nguyễn Hữu T1 quản lý canh tác.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn L trình bày: Nguồn gốc đất tranh chấp là của ông Nguyễn Văn M (đã chết) để lại cho ông Nguyễn Thanh S1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không rõ diện tích. Khi ông Nguyễn Thanh H3 chuyển nhượng đất cho ông Nguyễn Văn L vào năm 1988. Ông Nguyễn Văn L đã nhận đất canh tác và đã chuyển nhượng lại cho ông Trần Chí T, khi chuyển nhượng là có đo đạc tới ranh của ông Nguyễn Văn S2. Thời điểm ông Nguyễn Văn L sử dụng đất thì nguyên đơn sử dụng đường nước này, ngoài đường nước này ra thì không còn đường nước nào khác. Ông L thống nhất phần đất tranh chấp diện tích 186.6m² là lối đi chung, còn việc chuyển nhượng giữa ông với ông T và ông T1 khi nào có tranh chấp thì sẽ yêu cầu giải quyết thành vụ án khác.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hữu T1 trình bày: Ông Nguyễn Hữu T1 nhận chuyển nhượng đất từ ông Trần Chí T vào năm 2021. Khi nhận chuyển nhượng là 4401m² theo 04 trụ ranh giáp với các hộ giáp ranh. Ông Nguyễn Hữu T1 đã nhận đất quản lý và canh tác, khi nhận đất ông Trần Chí T không có nói nguyên đơn đi đường nước. Hiện tại đường nước vẫn còn chiều ngang 2m và chiều dài khoảng 90m. Khi ông Nguyễn Hữu T1 nhận chuyển nhượng đất từ ông Trần Chí T thì không có làm hợp đồng theo quy định của pháp luật. Hiện tại ông Nguyễn Hữu T1 có rào lại đường nước và chưa có làm cửa do nguyên đơn có tranh chấp. Ông T1 thống nhất phần đất tranh chấp diện tích 186.6m² là lối đi chung trong trường hợp ông vẫn giữ lại hàng rào, ông sẽ làm cửa và đưa chìa khoá cho nguyên đơn sử dụng nếu nguyên đơn đồng ý. Trường hợp nguyên đơn không đồng ý thì ông T1 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Về phần thủ tục từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo trình tự tố tụng. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Công nhận phần đất tranh chấp tại trí số I diện tích 186.6m² theo Mảnh trích đo địa chính số 134/2022 ngày 30/3/2022 của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ1 thuộc thửa đất số 353, tờ bản đồ số 08, thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000205 cấp ngày 26/10/1992 cho ông Nguyễn Thanh S1 làm lối đi chung

Về án phí dân sự sơ thẩm, chi phí thẩm định, định giá bị đơn phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án ngày 18/10/2023 đến ngày 28/6/2024, nguyên đơn có đơn khởi kiện bổ sung khởi kiện ông Nguyễn Hữu T1 với tư cách bị đơn. Xét thấy, theo mảnh trích đo địa chính số 134- 2022 ngày 01/04/2022 của Công ty TNHH Đ1 thì người đang quản lý sử dụng phần đất tranh chấp là ông Trần Chí T. Bởi lẽ thởi điểm xem xét thẩm định tại chỗ thì ông T chưa chuyển nhượng cho ông Nguyễn Hữu T1. Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, bị đơn thống nhất với kết quả đo đạc và định giá trước đó, không yêu cầu Toà án thẩm định, định giá lại và thống nhất người đang quản lý sử dụng là ông T1. Do đó đưa ông Nguyễn Hữu T1 tham gia tố tụng với tư cách là bị đơn và vợ ông T1 là Nguyễn Thị Mỹ H1 tham gia với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là phù hợp. Đồng thời Toà án đã đưa ông Võ Văn B là người trước đó cùng sử dụng chung phần đất tranh chấp và hiện tại người đang canh tác đất trực tiếp là Võ Văn K1 Em và Võ Văn K (con ông B) tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[2] Trong quá trình giải quyết vụ án đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn xác định yêu cầu ông T1 tháo dở hàng rào để cho nguyên đơn thuận lợi đi lại dùng làm lối đi chung cho nhiều hộ lân cận chứ không phải yêu cầu mở lối đi cho riêng nguyên đơn nên xác định quan hệ pháp luật là Tranh chấp quyền sử dụng đất (lối đi chung) và yêu cầu tháo dỡ, di dời công trình trên đất.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn thấy rằng:

Về nguồn gốc và quá trình chuyển nhượng phần đất tranh chấp đã được các đương sự thừa nhận là của ông Nguyễn Văn M là ông ngoại của ông Nguyễn Thanh S1 tặng cho lại ông S1 đứng tên vào năm 1992 có 02 thửa, trong đó có thửa 353 diện tích 4.200m² đang tranh chấp. Năm 1998, anh của ông S1 là ông Nguyễn Văn H2 (đã chết) đứng ra chuyển nhượng thửa 353 diện tích 4.200m² cho ông Nguyễn Văn L, thỏa thuận miệng, hai bên giao đủ tiền, nhận giấy và nhận đất. Ông L canh tác được 02 năm đến năm 2000 chuyển nhượng lại cho ông Trần Chí T thửa 353 đã nhận đủ tiền và giao đất. Năm 2001 ông T chuyển nhượng cho ông Nguyễn Hữu T1 thửa đất tranh chấp. Ông L, ông T, ông T1 đều thừa phần đất có đường nước tranh chấp đã có từ rất lâu khi các ông nhận chuyển nhượng đã có đường nước này làm đường nước sử dụng chung những hộ dân phía sau. Tại biên bản đối chất ngày 30/12/2022 của Toà án nhân dân tỉnh Hậu Giang ông Nguyễn Hữu T1 trình bày: “Tôi đồng ý tháo dỡ hàng rào hai đầu diện tích 02 mét ngang để các hộ sử dụng đường nước chung từ trước đến nay và không yêu cầu nhận tiền bồi thường”. Tại biên bản hoà giải ngày 02/8/2024 của Toà án nhân dân huyện Châu Thành, ông T1 trình bày: Ông thống nhất là lối đi chung tuy nhiên vẫn để hàng rào để bảo vệ vườn tránh bị trộm, nếu nguyên đơn thống nhất thì ông đưa chìa khoá cho nguyên đơn sủ dụng. Từ những nội dung trình bày của ông T1 đã thể hiện ông đã thừa nhận phần đất tranh chấp là lối đi chung.

Theo Công văn số 1472/UBND ngày 06/7/2022 của Ủy ban nhân dân huyện C đã xác định phần đất tranh chấp diện tích 186,6m² nằm thuộc thửa 353 nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000205 cấp ngày 26/10/1992 cấp cho ông Nguyễn Thanh S1. Mặc dù ông S1 cho rằng phần đất tranh chấp không nằm trong giấy chứng nhận của ông tuy nhiên Ủy ban nhân dân huyện C là cơ quan cấp giấy và đã xác định phần đất tranh chấp thuộc thửa 353. Việc phần đất của ông S1 đứng tên theo đo đạc thực tế có dư 229,2m² so với diện tích trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp là không có gì là không hợp lý vì thời điểm cấp giấy cho ông S1 là năm 1992 chưa đo đạc chính quy nên thời điểm hiện tại việc đo đất dư ra hoặc thiếu đi thì cũng là bình thường, không thể thấy rằng đất dư ra mà cho rằng không nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nguyên đơn là không phù hợp. Bởi lẽ, Ủy ban nhân dân huyện C là cơ quan chuyên môn có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã xác định rõ.

Trong quá trình giải quyết ông Nguyễn Thanh S1 có tờ tự thuận ngày 17/9/2022 thì ông S1 đã có lời khai: ông Nguyễn Văn M là ông ngoại của ông khi còn sống trước khi tặng cho có lời dặn phần đất có đường nước không sang bán, không làm gì khác ngoài làm đường đi và đường nước, liên thông các thửa đất trong ngoài liền kề làm lối đi chung (kênh công cộng) vĩnh viễn. Lời trình bày của ông S1 phù hợp với lời khai của ông L cũng khẳng định lối đi đã tồn tại từ rất lâu và ông M có nguyện vọng sử dụng làm lối đi chung. Theo tờ tự thuận thì ông S1 không yêu cầu bất kỳ quyền lợi nào, không nhận giá trị từ phần đất tranh chấp. Do ông S1 hiện là người đang đứng tên chủ sở hữu phần đất tranh chấp, mặc dù giữa ông L, ông T, ông T1 có làm giấy tay chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng hiện ông T1 chưa được làm thủ tục sang tên và chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định. Ông S1 vẫn đứng tên quyền sử dụng đất và tự nguyện dành phần đất tranh chấp làm lối đi chung, làm đường nước chung cũng là theo nguyện vọng của ông ngoại ông là ông Nguyễn Văn M. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Thanh S1. Ông S1 đã tự nguyện dành phần đất tranh chấp 186,6m² làm lối đi chung vì vậy không công nhận phần đất tranh chấp cho riêng bất kỳ người nào, cũng không công nhận chung cho ông T1 và ông H. Bởi lẽ, khi xảy ra tranh chấp thì những hộ trước đó cùng sử dụng lối đi chung như hộ ông B, do đó để đảm bảo quyền lợi cho các hộ lân cận, những hộ sử dụng từ trước khi tranh chấp. Do đó, Hội đồng xét xử công nhận theo sự tự nguyện của Nguyễn Thanh S1, công nhận phần đất 186,6m² làm lối đi chung.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm, chi phí thẩm định, định giá: Bị đơn phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 245, Điều 254 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 166, Điều 167, Điều 168 của Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Dương Văn H.

Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Thanh S1 về việc thống nhất dành phần đất tranh chấp diện tích 186.6m² làm lối đi chung.

Công nhận phần đất tranh chấp tại trí số I diện tích 186.6m² theo Mảnh trích đo địa chính số 134/2022 ngày 30/3/2022 của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ1 thuộc thửa đất số 353, tờ bản đồ số 08, thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000205 cấp ngày 26/10/1992 cho ông Nguyễn Thanh S1 làm lối đi chung (không ai được cản trở hoặc xây dựng công trình, trồng cây trên phần đất được công nhận làm lối đi chung).

Buộc ông Nguyễn Hữu T1 tháo dỡ, di dời hàng rào trên phần đất tại trí số I, diện tích 186.6m² theo Mảnh trích đo địa chính số 134/2022 ngày 30/3/2022 của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ1, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai cập nhật ngày 01/4/2022, để trả lại hiện trạng đường nước và lối đi chung.

Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn Trần Chí T, bị đơn Nguyễn Hữu T1 mỗi người phải chịu 300.000 đồng. Ông T và ông T1 được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí kháng cáo đã đóng theo B2 lại thu tiền số 00106338 và 0010639 ngày 29/9/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang. Ông Nguyễn Thanh S1 phải chịu là 150.000 đồng.

Nguyên đơn ông Dương Văn H được nhận lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0010156 ngày 20/01/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang. Ông Nguyễn Văn L được nhận lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí kháng cáo theo biên lai thu tiền số 0010637 ngày 29/9/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.

Chi phí thẩm định, định giá bị đơn Trần Chí T và Nguyễn Hữu T1 phải chịu 6.000.000 đồng. Nguyên đơn được nhận lại chi phí thẩm định, định giá 6.000.000 đồng sau khi bị đơn nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.

Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Dương Hoài Ân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 88/2024/DS-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp về quyền sử dụng đất (lối đi chung) và yêu cầu tháo dỡ, di dời công trình trên đất

  • Số bản án: 88/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sử dụng đất (lối đi chung) và yêu cầu tháo dỡ, di dời công trình trên đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger