TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 88/2024/HS-ST
Ngày 28 - 6 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Việt Hưng
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Dinh và Bà Vũ Thị Thúy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Dương – Kiểm sát viên
Ngày 28 tháng 6 năm 2022; tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 70/2024/TLST-HS ngày 28/5/2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 77/2024/QĐXXST-HS ngày 20/6/2024 đối với các bị cáo:
1. Họ tên: Hoàng Thị N; sinh ngày 10/8/1975 tại: huyện T, tỉnh Thái Bình; giới tính: Nữ. Nơi cư trú: Thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không. Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Số định danh cá nhân: 034175020045. Con ông: Hoàng Văn H, sinh năm 1950; con bà: Nguyễn Thị N1, sinh năm 1950. Có chồng: Bùi Đức Ẩ, sinh năm 1971. Bị cáo có 03 con, con lớn sinh năm 1999, con nhỏ sinh năm 2008.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/3/2024 đến ngày 05/3/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
2. Họ tên: Lê Thị T; sinh ngày: 18/6/1975 tại: huyện T, tỉnh Thái Bình. Giới tính: Nữ. Nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 9/12. Nghề nghiệp: lao động tự do; Số định danh cá nhân: 034175016298. Con ông: Lê Bá K (Đã chết); con bà: Đỗ Thị T1, sinh năm 1938. Có chồng: Nguyễn Văn T2, sinh năm 1971. Bị cáo có 03 con, con lớn sinh năm 1994, con nhỏ sinh năm 2010.
Tiền án: Bản án số 51/2019/HSST ngày 02/7/2019 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm về tội Đánh bạc. Chấp hành xong hình phạt ngày 27/02/2021, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng ngày 21/8/2019, chấp hành xong hình phạt bổ sung số tiền 3.000.000 đồng ngày 04/3/2024.
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Bản án số 47/2020/HSST ngày 15/6/2020 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy xử phạt T 07 tháng tù về tội danh Đánh bạc, tổng hợp bản án số 51/2019/HSST ngày 02/7/2019, buộc chấp hành hình phạt chung 01 năm 01 tháng tù. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/02/2021, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng, phạt bổ sung 3.000.000 đồng ngày10/8/2020. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/3/2024, chuyển tạm giam ngày 05/3/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt tại phiên tòa.
3. Họ tên: Phạm Thế S, sinh ngày: 26/9/1982 tại: huyện T, tỉnh Thái Bình.Giới tính: Nam. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không. Trình độ học vấn: 9/12. Nghề nghiệp: lao động tự do; Số định danh cá nhân: 03482007233. Con ông: Phạm Thế B (đã chết); con bà: Hồ Thị T3, sinh năm 1957. Có vợ: Cao Mỹ D, sinh năm 1991. Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2020.
Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Bản án số 21/2005/HSST ngày 17/5/2005 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ. Bị cáo chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 24/7/2006. Bản án số 24/2005/HSST ngày 20/9/2005 của Tòa án nhân dân huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên xử phạt 01 năm 6 tháng tù về tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ. Tổng hợp bản án số 21/2005/HSST ngày 17/5/2005 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, buộc chấp hành hình phạt chung 02 năm 6 tháng tù. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/01/2008, chấp hành xong án phí hình sự, dân sự sơ thẩm ngày 24/7/2006, đối với khoản tiền mai táng phí và bồi thường tổn thất về tinh thần, bị cáo đã bồi thường cho Đại diện hợp pháp của người bị hại ngày 20/01/2010.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/3/2024 đến ngày 05/3/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.Có mặt tại phiên tòa.
4. Họ tên: Nguyễn Thị H1, sinh ngày 26/11/1983 tại: huyện T, tỉnh Thái Bình.Giới tính: Nữ. Nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không. Trình độ học vấn: 9/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Số định danh cá nhân: 034183005990. Con ông: Nguyễn Viết H2, sinh năm 1956; con bà: Hoàng Thị L, sinh năm 1961. Có chồng: Lê Văn S1, sinh năm 1973. Bị cáo có 04 con, con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2017.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/3/2024 đến ngày 05/3/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
5. Họ tên: Phùng Thị V, sinh ngày 06/10/1984 tại: huyện T, tỉnh Thái Bình. Giới tính: Nữ. Nơi cư trú: Khu E, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Nơi ở hiện tại: thôn X, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không. Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Số định danh cá nhân: 034184003953. Con ông: Phùng Văn M, sinh năm 1961; mẹ đẻ: Bùi Thị V1, sinh năm 1961. Có chồng: Hà Trọng D1, sinh năm 1982. Bị cáo.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
6. Họ tên: Hồ Thị Thu T4, sinh ngày 28/5/1982 tại: huyện T, tỉnh Thái Bình. Giới tính: Nữ. Nơi cư trú: Tổ dân phố B, thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không. Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: lao động tự do. Số định danh cá nhân: 034182009299. Con ông: Hồ Hữu C, sinh năm 1951; con bà: Hồ Thị D2, sinh năm 1954. Có chồng: Đào Trọng N2, sinh năm 1977. Bị cáo có 03 con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2014.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/3/2024 đến ngày 05/3/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
7. Họ tên: Hồ Thị B1, sinh ngày 02/8/1986; tại: huyện T, tỉnh Thái Bình; Giới tính: Nữ. Nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không. Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Số định danh cá nhân: 034186010488. Con ông: Hồ Hữu C, sinh năm 1951; con bà: Hồ Thị D2,sinh năm 1954. Có chồng: Đỗ Hữu T5, sinh năm 1985. Bị cáo có 01 con sinh năm 2014.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/3/2024 đến ngày 05/3/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
8. Họ tên: Đào Thị H3, sinh ngày 01/12/1979 tại: huyện T, tỉnh Thái Bình. Giới tính: Nữ. Nơi cư trú: Thôn M, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không. Trình độ học vấn: 5/12; Nghề nghiệp: lao động tự do. Số định danh cá nhân: 034179015298. Con ông: Đào Quang S2; con bà: Nguyễn Thị G (đều đã chết). Có chồng: Lê Bá Đ, sinh năm 1973. Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 1999, con nhỏ sinh năm 2007.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/3/2024 đến ngày 05/3/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
9. Họ tên: Nguyễn Thị N3; sinh ngày: 04/5/1975 tại: huyện T, tỉnh Thái Bình. Giới tính: Nữ. Nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không. Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; Số định danh cá nhân: 034175016368. Con ông: Nguyễn Viết C1 (đã chết); con bà: Hà Thị L1, sinh năm 1938, Có chồng: Nguyễn Viết T6, sinh năm 1972. Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 1994, con nhỏ sinh năm 2003.
Tiền án: Bản án số 47/2020/HSST ngày 15/6/2020 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy xử phạt 04 tháng tù về tội Đánh bạc. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/7/2020, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng ngày 20/8/2020, chưa chấp hành hình phạt bổ sung số tiền 3.000.000 đồng và 300.000 đồng tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
10. Họ tên: Nguyễn Thị T7, sinh ngày 16/9/1972 tại: huyện T, tỉnh Thái Bình. Giới tính: Nữ. Nơi cư trú: Thôn M, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không. Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: lao động tự do. Số định danh cá nhân: 034172008571. Con ông: Nguyễn Sỹ T8, sinh năm 1945, con bà: Đoàn Thị T9 (đã chết). Có chồng: Nguyễn Văn C2, sinh năm 1967 (đã chết). Bị cáo có 03 con, con lớn sinh năm 1993, con nhỏ sinh năm 2001
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Quyết định số 2838/QĐ-XPVPHC ngày 06/8/2018 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.000.000 đồng về hành vi Đánh bạc, đã chấp hành xong ngày 09/8/2018.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/3/2024 đến ngày 05/3/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
11. Họ tên: Nguyễn Thị T10, sinh ngày 08/6/1978 tại: huyện T, tỉnh Thái Bình. Giới tính: Nữ. Nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không. Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: lao động tự do. Số định danh cá nhân: 034178015762. Con ông: Nguyễn Văn N4, sinh năm 1952, con bà: Nguyễn Thị T11 (đã chết). Có chồng: Nguyễn Văn T12, sinh năm 1971. Bị cáo có 03 con, con lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh năm 2011.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/3/2024 đến ngày 05/3/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 13 giờ ngày 02/3/2024, Lê Thị T, Phạm Thế S, Phùng Thị V, Hồ Thị Thu T4, Nguyễn Thị T10, Nguyễn Thị H1, Hồ Thị B1, Đào Thị H3, Nguyễn Thị T7, Nguyễn Thị N3 lần lượt đến nhà đến nhà Hoàng Thị N tại thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình ngồi uống nước, nói chuyện tại phòng ngủ tầng 2 nhà N. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, 10 người gồm: Thư, Sáng, V, T4, T10, H1, B1, H3, T7, N3 rủ nhau đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền dưới hình thức chơi ba cây, cả nhóm đồng ý. Ngần chuẩn bị 01 chiếc chiếu tre trải xuống nền nhà và chuẩn bị 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân để xuống chiếu. Mọi người thống nhất cách chơi như sau: sử dụng 36 quân bài của bộ bài tú lơ khơ 52 quân, từ quân A đến quân 9 dùng để đánh bạc. Mỗi người bốc 01 lá bài ngẫu nhiên trong 36 quân bài, người nào có quân bài cao nhất sẽ cầm chương và chia bài. Người cầm chương sử dụng 36 quân bài chia đều cho những người chơi, mỗi người 03 quân bài (Có 7 người được chia bài, riêng T10 ngồi sau T; T7, N3 ngồi sau H3 để gửi tiền cược theo cửa mỗi ván bài). Sau đó mọi người chơi đặt tiền cược xuống chiếu bạc với mức đặt thấp nhất là 50.000 đồng cao nhất là 200.000 đồng với người cầm chương rồi người chơi cộng điểm bài của mình so sánh điểm với người cầm chương (Thấp nhất là 1 điểm, cao nhất là 10 điểm, nếu từ 11 trở lên thì chỉ tính điểm ở hàng đơn vị). Nếu người chơi cộng ba quân bài của mình thấp hơn điểm của người cầm chương thì người cầm chương sẽ thắng và thu số tiền người chơi đã đặt cược. Nếu người chơi cộng ba quân bài của mình cao hơn điểm của người cầm chương thì người cầm chương phải trả số tiền bằng số tiền người chơi đã đặt cược. Trường hợp số điểm hai người bằng nhau thì thứ tự được tính theo chất là rô - cơ - nhép - bích của quân bài từ lớn đến nhỏ. Quá trình đánh bạc, người nào có tổng số điểm là 10 thì người đó được cầm chương, nếu có 2 người được 10 điểm thì sẽ tính theo chất và ai có chất của quân bài lớn hơn sẽ được cầm chương. Các đối tượng thống nhất sau khi kết thúc buổi đánh bạc tại nhà N, mỗi người chơi đánh bạc sẽ nộp cho Ngần 100.000 đồng. Đến 15 giờ cùng ngày khi đang đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền thì bị lực lượng Công an huyện T bắt quả tang. Thu giữ tại phòng ngủ tầng 2 nhà Ngần 01 bộ bài tú lơ khơ 52 cây, 01 chiếu tre và 11.300.000 đồng là số tiền 10 bị can sử dụng để đánh bạc. Quá trình bắt quả tang Nguyễn Thị N3 đã bỏ chạy. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hoàng Thị N, không phát hiện thu giữ gì khác.
Quá trình điều tra xác định số tiền các bị cáo mang theo dùng toàn bộ để đánh bạc và để tại dưới chiếu bạc, không ai nhớ rõ thắng thua như thế nào trong đó: Nguyễn Thị H1 sử dụng khoảng 2.200.000 đồng, Phùng Thị V sử dụng khoảng 2.000.000 đồng, Hồ Thị Thu T4 sử dụng khoảng 2.000.000 đồng, Phạm Thế S sử dụng 2.000.000 đồng, Lê Thị T sử dụng 1.200.000 đồng, Hồ Thị B1 sử dụng khoảng 1.000.000 đồng, Đào Thị H3 sử dụng khoảng 1.000.000 đồng, Nguyễn Thị T10 sử dụng khoảng 500.000 đồng, Nguyễn Thị N3 sử dụng khoảng 500.000 đồng, Nguyễn Thị T7 sử dụng khoảng 500.000 đồng.
Bản cáo trạng số 75/CT-VKSTT ngày 28 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy và Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân huyện T vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố theo cáo trạng
* Về tội danh: Đề nghị hội đồng xét xử tuyên bố:
Bị cáo Hoàng Thị N về tội “Gá bạc” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự.
Các bị cáo Lê Thị T, Phạm Thế S, Nguyễn Thị H1, Phùng Thị V, Hồ Thị Thu T4, Hồ Thị B1, Đào Thị H3, Nguyễn Thị N3, Nguyễn Thị T7 và Nguyễn Thị T10 về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
* Về hình phạt:
1.1. Áp dụng khoản 1 khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự; điểm s, khoản 1, Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 50; Điều 17; Điều 35; Điều 58 Bộ luật hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Xử phạt bị cáo Lê Thị Thư t 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù về tội “ Đánh bạc”. thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 02 tháng 3 năm 2024).
Phạt bổ sung từ 7.000.000 đồng đồng đến 10.000.000 đồng.
1.2. Áp dụng khoản 1 khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự; điểm s, khoản 1, Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 50; Điều 17; Điều 35; Điều 58 Bộ luật hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N3 từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù về tội “ Đánh bạc”. thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt tù.
Phạt bổ sung từ 7.000.000 đồng đồng đến 10.000.000 đồng.
1.3. Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 35; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Thế S từ 01 năm đến 1 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt tù được khấu trừ thời hạn tạm giữ 02/3/2024 đến ngày 05/3/2024.
Phạt bổ sung từ 7.000.000 đồng đồng đến 10.000.000 đồng.
1.4. Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17; Điều 35; Điều 38; Điều 50; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H1 từ 09 tháng tù đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 06 tháng đến 02 năm. Tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Phạt bổ sung từ 5.000.000 đồng đồng đến 7.000.000 đồng.
1.5. Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17; Điều 35; Điều 38; Điều 50; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phùng Thị V từ 09 tháng tù đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 06 tháng đến 02 năm. Tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Phạt bổ sung từ 5.000.000 đồng đồng đến 7.000.000 đồng.
1.6. Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17; Điều 35; Điều 38; Điều 50; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hồ Thị Thu T4 từ 09 tháng tù đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 06 tháng đến 02 năm. Tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Phạt bổ sung từ 5.000.000 đồng đồng đến 7.000.000 đồng.
1.7. Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17; Điều 35; Điều 38; Điều 50; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T7 từ 09 tháng tù đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 06 tháng đến 02 năm. Tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Phạt bổ sung từ 5.000.000 đồng đồng đến 7.000.000 đồng.
1.8. Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17; Điều 35; Điều 38; Điều 50; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hồ Thị B1 từ 09 tháng tù đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 06 tháng đến 02 năm. Tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Phạt bổ sung từ 5.000.000 đồng đồng đến 7.000.000 đồng.
1.9. Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17; Điều 35; Điều 38; Điều 50; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đào Thị H3 từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm đến 01 năm 06 tháng. Tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Phạt bổ sung từ 5.000.000 đồng đồng đến 70.000.000 đồng.
1.10. Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 17; Điều 35; Điều 38; Điều 50; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T10 từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm đến 01 năm 06 tháng. Tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Phạt bổ sung từ 5.000.000 đồng đồng đến 70.000.000 đồng.
1.11. Áp dụng điểm b khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17; Điều 35; Điều 38; Điều 50; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Thị N từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 năm đến 03 năm 6 tháng. Tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Phạt bổ sung từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
2/ Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
2.1.Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 11.300.000 đồng các bị cáo dùng vào việc đánh bạc là vật chứng vụ án.
2.2. Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân; 01 chiếc chiếu tre màu cánh gián kích thước 1.95m x 1.5m là vật chứng vụ án.
* Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo không có ý kiến và không tranh luận gì về bản Luận tội của Viện kiểm sát.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Thái Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về căn cứ kết tội các bị cáo: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo khai nhận: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 02 tháng 3 năm 2024, Hoàng Thị N có hành vi sử dụng phòng ngủ tầng 2 nhà ở của mình tại thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình để cho 10 người đánh bạc trái phép trong cùng một lúc mục đích thu tiền hồ mỗi người sau khi chơi xong phải nộp số tiền 100.000 đồng, gồm Lê Thị T, Phạm Thế S, Phùng Thị V, Hồ Thị Thu T4, Nguyễn Thị T10, Nguyễn Thị H1, Hồ Thị B1, Đào Thị H3, Nguyễn Thị T7, Nguyễn Thị N3 đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền dưới hình thức đánh ba cây với tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 11.300.000 đồng bị Công an huyện T bắt quả tang. Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, quá trình đánh bạc các bị cáo không lắp đặt trang thiết bị phục vụ cho việc đánh bạc, không sử dụng phương tiện để trợ giúp cho việc đánh bạc, không phân công người canh gác, phục vụ khi đánh bạc. Bị can Hoàng Thị N dùng nhà ở của mình cho 10 bị cáo khác đánh bạc với số tiền 11.300.000 đồng nên phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Gá bạc. Các bị cáo khác trong vụ án trực tiếp tham gia đánh bạc nên đồng phạm về tội Đánh bạc. Các bị cáo đều là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự đều nhận thức rõ hành vi đánh bạc sát phạt lẫn nhau tạo thu nhập bất hợp pháp là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của các bị cáo còn được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Công an huyện T lập hồi 15 giờ 10 phút ngày 02/3/2024 tại nhà của Hoàng Thị N. Biên bản xác định hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T lập hồi 10 giờ 30 phút ngày 03/3/2024 tại thôn V, xã T, huyện T. Bản kết luận giám định số 406/KL-KTHS ngày 29/3/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: 49 tờ tiền cần giám định là tiền thật. Biên bản ghi lời khai của người liên quan anh Bùi Đức Á cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Điều 322. Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc
“1. Người nào tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trái phép thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) ...
b) Sử dụng địa điểm thuộc quyền Sở hữu hoặc quản lý của mình để cho 10 người đánh bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên hoặc cho 02 chiếu bạc trở lên trông cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên;
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Điều 321. Tội đánh bạc
“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.
Hành vi nêu trên của bị cáo Hoàng Thị N đã phạm tội “Gá bạc” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự.
Các bị cáo Lê Thị T, Phạm Thế S, Nguyễn Thị H1, Phùng Thị V, Hồ Thị Thu T4, Hồ Thị B1, Đào Thị H3, Nguyễn Thị N3, Nguyễn Thị T7 và Nguyễn Thị T10 đã phạm tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
[3] Khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự. Tội đánh bạc. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Các bị cáo đã chơi bạc sát phạt nhau bằng tiền nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo là phù hợp.
[3.1] Khoản 3 Điều 322 Bộ luật hình sự. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Bị cáo sử dụng địa điểm thuộc quyền Sở hữu hoặc quản lý của mình để cho 10 người đánh bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 11.300.000 đồng sát phạt nhau bằng tiền nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo N là phù hợp.
[4] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng hành vi phạm tội của các bị cáo thấy đánh bạc là tệ nạn của xã hội dẫn đến các hậu quả nghiêm trọng khác như: Phát tán tài sản, làm tan vỡ hạnh phúc gia đình và có thể là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội mà Nhà nước đã có nhiều chính sách pháp luật nhằm phòng chống và đẩy lùi tệ nạn xã hội trong đó có tệ nạn cờ bạc. Các bị cáo thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý, nhằm thu lời bất chính. Hành vi của các bị cáo trực tiếp xâm phạm trật tự công cộng, nếp sống văn minh của xã hội, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an, vì vậy cần phải xử mức án nghiêm minh tương xứng với hành vi, mức độ phạm tội của các bị cáo nhằm răn đe giáo dục phòng ngừa tội phạm chung.
[5.] Trên cơ sở đánh giá tính chất của đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia của từng đồng phạm, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thấy:
[5.1]. Về vai trò hành vi đánh bạc. Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều tự cùng nhau chơi bạc, quá trình đánh bạc các bị cáo không lắp đặt trang thiết bị phục vụ cho việc đánh bạc, không sử dụng phương tiện để trợ giúp cho việc đánh bạc, không phân công người canh gác, phục vụ khi đánh bạc.
[5.2.]. Các bị cáo Nguyễn Thị H1 sử dụng khoảng 2.200.000 đồng, Phùng Thị V sử dụng khoảng 2.000.000 đồng, Hồ Thị Thu T4 sử dụng khoảng 2.000.000 đồng, Phạm Thế S sử dụng 2.000.000 đồng chơi bạc nên giữ vai trò đầu.
[5.2.]. Các bị cáo Lê Thị T sử dụng 1.200.000 đồng, Hồ Thị B1 sử dụng khoảng 1.000.000 đồng, Đào Thị H3 sử dụng khoảng 1.000.000 đồng giữ vai trò thứ hai.
[5.3.]. Các bị cáo Nguyễn Thị T10 sử dụng khoảng 500.000 đồng, Nguyễn Thị N3 sử dụng khoảng 500.000 đồng, Nguyễn Thị T7 sử dụng khoảng 500.000 đồng nên giữ vai trò cuối.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lê Thị T, Nguyễn Thị N3 đã bị kết án, chưa được xóa án tích lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Các bị cáo khác không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
[6.1] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Hoàng Thị N, Lê Thị T, Phạm Thế S, Nguyễn Thị H1, Phùng Thị V, Hồ Thị Thu T4, Hồ Thị B1, Đào Thị H3, Nguyễn Thị N3, Nguyễn Thị T7, Nguyễn Thị T10 trong quá trình điều tra, truy tố đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội do vậy được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo H1, V, T4, B1, H3, T10, T7 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo B1 hiện đang mang thai nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điển n khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo N có bố đẻ là ông Hoàng Văn H được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh T13 Bằng khen có thành tích trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, bị cáo T10 có bố đẻ được Chủ tịch nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhì, bị cáo T7 thờ cúng liệt sỹ do vậy được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự
[7] Xét nhân thân: Bị cáo Lê Thị T, Nguyễn Thị N3 đã bị kết án chưa được xóa án tích đều về tội đánh bạc. Bị cáo Phạm Thế S có nhân thân xấu. Bản án số 21/2005/HSST ngày 17/5/2005 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ. Bị cáo chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 24/7/2006. Bản án số 24/2005/HSST ngày 20/9/2005 của Tòa án nhân dân huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên xử phạt 01 năm 6 tháng tù về tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ. Tổng hợp bản án số 21/2005/HSST ngày 17/5/2005 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, buộc chấp hành hình phạt chung 02 năm 6 tháng tù đều do lỗi vô ý tuy đã bị xét xử 02 bản án bị cáo không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục phạm tội vì vậy nên cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để bị cáo nhận thức được sai lầm của bản thân, tu dưỡng, rèn luyện để sớm trở thành công dân tốt sống có ích cho gia đình và xã hội.
[7.1]. Bị cáo Nguyễn Thị H1, Phùng Thị V, Hồ Thị Thu T4, Hồ Thị B1, Đào Thị H3, Nguyễn Thị T7 và Nguyễn Thị T10, Hoàng Thị N có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội nhưng cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội nên trả tự do cho bị cáo L2 tại phiên tòa là phù hợp.
[8]. Trong vụ án này: ông Bùi Đức Á, sinh năm 1971 là chồng bị cáo N, không biết các bị cáo đánh bạc tại nhà mình, không có hành vi giúp sức cho các bị cáo đánh bạc. Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện T không xử lý đối với ông Á là đúng quy định.
[9]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[9.1]. Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 11.300.000 đồng để trên chiếu bạc là vật chứng vụ án.
[9.2]. Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân; 01 chiếc chiếu tre màu cánh gián kích thước 1.95m x 1.5m là vật chứng vụ án.
[10] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[11] Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Về tội danh: Tuyên bị cáo Hoàng Thị N phạm tội “Gá bạc”.
Các bị cáo Lê Thị T, Phạm Thế S, Nguyễn Thị H1, Phùng Thị V, Hồ Thị Thu T4, Hồ Thị B1, Đào Thị H3, Nguyễn Thị N3, Nguyễn Thị T7 và Nguyễn Thị T10 phạm tội “Đánh bạc”.
* Về hình phạt:
1.1. Áp dụng khoản 1 khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự; điểm s, khoản 1, Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 50; Điều 17; Điều 35; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Thị T 01 năm 03 tháng tù. thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ. Ngày 02 tháng 3 năm 2024.
Phạt bổ sung 10.000.000 đồng.
1.2. Áp dụng khoản 1 khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự; điểm s, khoản 1, Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 50; Điều 17; Điều 35; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N3 01 năm tù. Thời hạn thụ hình tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt tù.
Phạt bổ sung 10.000.000 đồng.
1.3. Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 35; Điều 38; Điều 50; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Thế S 01 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt tù được khấu trừ thời hạn tạm giữ 02/3/2024 đến ngày 05/3/2024.
Phạt bổ sung 10.000.000 đồng.
1.4. Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17; Điều 35; Điều 38; Điều 50; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H1 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 01 năm 06 tháng. Tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 28 tháng 6 năm 2024.
Phạt bổ sung 10.000.000 đồng.
1.5. Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17; Điều 35; Điều 38; Điều 50; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phùng Thị V 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 01 năm 06 tháng. Tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 28 tháng 6 năm 2024.
Phạt bổ sung 10.000.000 đồng.
1.6. Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17; Điều 35; Điều 38; Điều 50; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hồ Thị Thu T4 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 01 năm 06 tháng. Tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 28 tháng 6 năm 2024.
Phạt bổ sung 10.000.000 đồng.
1.7. Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17; Điều 35; Điều 38; Điều 50; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T7 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 01 năm 06 tháng. Tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 28 tháng 6 năm 2024.
Phạt bổ sung 7.000.000 đồng.
1.8. Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s, n khoản 1 Điều 51, Điều 17; Điều 35; Điều 38; Điều 50; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hồ Thị B1 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 01 năm 06 tháng. Tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 28 tháng 6 năm 2024..
Phạt bổ sung 7.000.000 đồng.
1.9. Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17; Điều 35; Điều 38; Điều 50; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đào Thị H3 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 01 năm 06 tháng. Tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 28 tháng 6 năm 2024.
Phạt bổ sung 7.000.000 đồng.
1.10. Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm 1, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 17; Điều 35; Điều 38; Điều 50; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T10 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 01 năm. Tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 28 tháng 6 năm 2024.
Phạt bổ sung 5.000.000 đồng.
1.11. Áp dụng điểm b khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17; Điều 35; Điều 38; Điều 50; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Thị N 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 03 năm. Tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 28 tháng 6 năm 2024.
Phạt bổ sung 10.000.000 đồng.
Giao bị các bị cáo Hoàng Thị N, Nguyễn Thị H1, Phùng Thị V, Hồ Thị B1, Đào Thị H3, Nguyễn Thị T7 và Nguyễn Thị T10 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình nơi các bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục. Trường hợp bị cáo Hoàng Thị N, Nguyễn Thị H1, Phùng Thị V, Hồ Thị B1, Đào Thị H3, Nguyễn Thị T7 và Nguyễn Thị T10 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.
Giao bị cáo Hồ Thị Thu T4 cho Ủy ban nhân dân thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục. Trường hợp bị cáo Hồ Thị Thu T4 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu các bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 1 điều 106, Bộ luật tố tụng hình sự.
2.1.Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 11.300.000 đồng.
2.2. Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân; 01 chiếc chiếu tre màu cánh gián kích thước 1.95m x 1.5m.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an huyện T, tỉnh Thái Bình và Chi cục thi hành án dân sự huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình ngày 31 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình).
[3] Về án phí: Áp dụng các Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Hoàng Thị N, Lê Thị T, Phạm Thế S, Nguyễn Thị H1, Phùng Thị V, Hồ Thị Thu T4, Hồ Thị B1, Đào Thị H3, Nguyễn Thị N3, Nguyễn Thị T7 và Nguyễn Thị T10 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
[4] Về quyền kháng cáo: Áp dụng 136, 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Các bị cáo Hoàng Thị N, Lê Thị T, Phạm Thế S, Nguyễn Thị H1, Phùng Thị V, Hồ Thị Thu T4, Hồ Thị B1, Đào Thị H3, Nguyễn Thị N3, Nguyễn Thị T7 và Nguyễn Thị T10 có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 28/6/2024.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Việt Hưng |
Bản án số 88/2024/HS-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH về vụ án hình sự về tội đánh bạc và gá bạc
- Số bản án: 88/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Đánh bạc và Gá bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: đánh bạc
