TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH Bản án số: 88/2024/HS-PT Ngày: 26 - 11 - 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Viết Hải
Các thẩm phán: Ông Trần Trung Thanh và bà Hoàng Thị Thanh Nhàn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Bích Đào - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 124/2024/HSPT ngày 29/10/2024 đối với bị cáo Trần Tiến Đ, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 39/2024/HS-ST, ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2024/QĐXX-PT ngày 07 tháng 11 năm 20024.
Bị cáo có kháng cáo: Trần Tiến Đ, sinh ngày 18 tháng 10 năm 2006, tại T, Quảng Bình (đến ngày thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị cáo 17 tuổi 06 tháng 15 ngày); nơi cư trú: thôn T, xã S, huyện T, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Bá T và bà Nguyễn Thị Đ1; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 03/5/2024 đến ngày 10/5/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay, có mặt.
Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Trần Tiến Đ: Ông Trần Bá T, sinh năm 1975, địa chỉ: thôn T, xã S, huyện T, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo Trần Tiến Đ: Ông Nguyễn Bá T1 - Trợ giúp viên, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Q, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ ngày 03/5/2024, Trần Tiến Đ đi xe ô tô khách đến khu vực cầu C thuộc xã Đ, huyện T để tìm mua ma túy. Tại đây, Đ gặp và hỏi mua được từ một người phụ nữ không rõ tên tuổi, địa chỉ mua được 07 viên ma túy, với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Đ tiếp tục đi xe ô tô khách đến xã M, huyện T, để tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 17 giờ 05 phút cùng ngày, khi Đ đang đi bộ trên đường thuộc địa phận thôn T, xã M, huyện T, thì bị Tổ công tác Công an huyện T, phát hiện, bắt quả tang, thu giữ tại bàn tay trái của Đ 01 gói nilon màu đen, bên trong có mảnh nilon trong suốt chứa 07 viên nén hình tròn, màu hồng, dạng thuốc tân dược (nghi là ma túy tổng hợp). Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ toàn bộ tang vật liên quan.
Tại kết luận giám định số 513/KL-KTHS ngày 08/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: 07 viên nén hình tròn, màu hồng thu giữ từ Trần Tiến Đạt là chất ma túy, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng 0,682g. Sau giám định còn lại 0,488gam, được đóng gói niêm phong vào 01 phong bì, có chữ ký của những người tham gia, hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q, ngoài cùng dán băng dính trong suốt.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 39/2024/HS-ST, ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Trần Tiến Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 90, Điều 91; Điều 101 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Tiến Đ 12 tháng tù được trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/5/2024 đến ngày 10/5/2024. Thời gian chấp hành hình phạt tù kể ngày bị cáo đi thi hành án.
Án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 19/9/2024, bị cáo Trần Tiến Đ kháng cáo xin được hưởng án treo vì thời điểm phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi, nhận thức pháp luật hạn chế, bị cáo từ nhỏ đến lớn sinh sống với ông bà nội, ông bà nội của bị cáo có Huân chương kháng chiến hạng nhất.
Tại phiên tòa phúc thẩm
Bị cáo Trần Tiến Đ thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố và Bản án sơ thẩm đã quyết định. Bị cáo giữ nguyên đơn kháng cáo và cho rằng bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên nhận thức và hiểu biết pháp luật còn hạn chế. Hiện nay bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội nên rất ăn năn hối hận và đã thành khẩn khai báo. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được cải tạo giáo dục tại địa phương, để có điều kiện được tiếp tục làm việc giúp đở bố mẹ, ông bà và hòa nhập cộng đồng để làm lại cuộc đời.
Người bào chữa cho bị cáo phát biểu quan điểm bào chữa: Khi phạm tội bị cáo là người chưa thành niên, nên nhận thức và hiểu biết pháp luật còn hạn chế. Tại phiên tòa bị cáo cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ cứu giúp người bị tai nạn được chính quyền địa phương xác nhận, bị cáo từ nhỏ sống cùng ông bà nội và ông bà nội là người có công với cách mạng. Vì vậy, Đề nghị HĐXX xem xét áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 và Điều 65 BLHS để chuyển hình phạt tù và cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có điều kiện được cải tạo, giáo dục tại địa phương, giúp đở bố mẹ, ông bà và làm công dân có ích cho xã hội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình phát biểu quan điểm: Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 12 tháng tù là phù hợp và tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ cứu giúp người bị tai nạn được chính quyền địa phương xác nhận và ông bà nội của bị cáo là người có công với cách mạng, đây là các tình tiết mới phát sinh tại cấp phúc thẩm, nên cần áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội chưa đủ 18 tuổi nên sự hiểu biết và nhận thức pháp luật còn hạn chế, phạm tội lần đầu, là người chưa có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo hoàn cảnh gia đình khó khăn, sống cùng ông bà từ nhỏ, có nơi cư trú rõ ràng, ổn định, nên cần áp dụng Điều 65 BLHS chưa cần thiết phải bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù, mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục và răn đe bị cáo. Vì vậy, Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Tiến Đ, sửa bản án sơ thẩm số 39/2024/HS-ST ngày 12/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo. Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận, nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: đơn kháng cáo của bị cáo Trần Tiến Đ đảm bảo về người kháng cáo, thời hạn kháng cáo, hình thức, nội dung kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét nội dung kháng cáo của bị cáo theo trình tự, thủ tục phúc thẩm.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Trần Tiến Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, đúng như nội dung bản Cáo trạng và bản án sơ thẩm đã quyết định. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, tang vật bị thu giữ, cũng như các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận: Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 16 giờ ngày 03/5/2024, Trần Tiến Đ đi ô tô khách đến khu vực cầu C thuộc xã Đ, huyện T để tìm mua ma túy. Tại đây, Đ gặp và hỏi mua được từ một người phụ nữ không rõ tên tuổi, địa chỉ mua 07 viên ma túy, với giá 500.000 đồng. Đến khoảng 17 giờ 05 phút cùng ngày, khi đang đi bộ trên đường thuộc địa phận thôn T, xã M, huyện T tìm chổ để sử dụng thì bị Tổ công tác Công an huyện T, phát hiện, bắt quả tang, thu giữ tại bàn tay trái của Đ 01 gói nilon màu đen, bên trong có mảnh nilon trong suốt chứa 07 viên ma túy loại Methamphetamine, có tổng khối lượng 0,682g. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Ngoài ra, còn trực tiếp đe doạ nghiêm trọng đến sức khỏe và sự phát triển của bản thân, gây thiệt hại về kinh tế cho gia đình và làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự trị an. Vì vậy, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã tuyên bố bị cáo Trần Tiến Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Khi lượng hình đối với bị cáo, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã xem xét bị cáo là người chưa thành niên phạm tội, không có tình tiết tăng nặng; quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự, để xử phạt bị cáo mức án 12 tháng tù là có căn cứ, tương xứng với mức độ, tính chất hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được áp dụng.
Tuy nhiên, tại phiên tòa bị cáo cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ cứu giúp người bị nạn được chính quyền địa phương xác nhận; bị cáo sống từ nhỏ với ông bà nội và ông bà nội là người có công với cách mạng, đây là các tình tiết mới phát sinh tại cấp phúc thẩm, nên cần áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội là người chưa thành niên (17 tuổi 06 tháng 15 ngày) nên nhận thức và hiểu biết về pháp luật còn hạn chế, phạm tội lần đầu, là người chưa có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn sống cùng ông bà nội từ nhỏ, có nơi cư trú rõ ràng, ổn định, nên chưa cần thiết phải bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù, mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục và răn đe bị cáo. Việc cho bị cáo được hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Tiến Đ. Sửa bản án sơ thẩm số 39/2024/HS-ST ngày 12/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo Trần Tiến Đ.
[4] Về án phí: Kháng cáo của bị cáo Trần Tiến Đ được Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận, nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 65, 91, 101 Bộ luật hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Tiến Đ. Sửa Bản án sơ thẩm số số 39/2024/HS-ST ngày 12/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quáng Bình.
Tuyên bố bị cáo Trần Tiến Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Trần Tiến Đ 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (Hai bốn) tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Trần Tiến Đ cho Ủy ban nhân dân xã S, huyện T, tỉnh Quảng Bình phối hợp với gia đình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Trần Tiến Đ không phải chịu.
- Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ đã ký |
Bản án số 88/2024/HS-PT ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH về hình sự phúc thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 88/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự Phúc thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Tiến Đ
