Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂN UYÊN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 88/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 26/8/2024

Về việc ly hôn, tranh chấp về

nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Hương Diệp.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Thị Mộng Thu;
  2. Ông Nguyễn Văn Thảo.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Giáp, Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 245/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2024 về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 54/2024/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị K, sinh năm 1993; thường trú: ấp M, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau, tạm trú: tổ C, khu phố P, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn xin giải quyết vắng mặt.

Bị đơn: Ông Trần Hữu T, sinh năm 1993; thường trú: ấp M, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau, tạm trú: tổ C, khu phố P, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Huỳnh Thị K trình bày:

Bà K và ông Trần Hữu T sống chung với nhau vào năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện K, tỉnh Sóc Trăng vào ngày 27/02/2015. Sau khi cưới, bà K, ông T chung sống hạnh phúc, đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vấn đề về kinh, bất đồng quan điểm sống. Khi mâu thuẫn xảy ra, bà K và ông T đã tìm cách giải quyết nhưng không có kết quả, vợ chồng đã sống ly thân hơn 01 năm. Do tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn trầm trọng không thể giải quyết nên bà K khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông T.

Về con chung: Trong quá trình sống chung bà K và ông T có 01 con chung tên Trần Thị Quỳnh T1, sinh ngày 25/01/2011. Khi ly hôn, bà K yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Trần Hữu T được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ về việc bị khởi kiện nhưng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị K.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm tại phiên toà sơ thẩm như sau:

Về tố tụng: quá trình Tòa án giải quyết vụ án, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị K với bị đơn ông Trần Hữu T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Nguyên đơn bà Huỳnh Thị K có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn ông Trần Hữu T được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Bà Huỳnh Thị K và ông Trần Hữu T tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện K, tỉnh Sóc Trăng vào ngày 27/02/2015, là hôn nhân hợp pháp.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị K, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo lời trình bày của bà K thì trong thời gian chung sống giữa bà và ông T phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vấn đề về kinh tế gia đình, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng đã sống ly thân. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án triệu tập ông T tham gia tố tụng nhưng ông T vắng mặt không có lý do, không có văn bản trình bày ý kiến trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Việc ông T vắng mặt không có lý do, là tự từ bỏ quyền, nghĩa vụ tham gia tố tụng, nghĩa vụ chứng minh của mình. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ lời trình bày

của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập có đủ căn cứ xác định mâu thuẫn giữa bà K và ông T là thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, bà K yêu cầu được ly hôn với ông T là có căn cứ chấp nhận.

[4] Về con chung: Bà K và ông T có 01 con chung tên Trần Thị Quỳnh T1, sinh ngày 25/01/2011. Xét yêu cầu nuôi con của K, Hội đồng xét xử xét thấy: Cháu T1 đã trên 7 tuổi, có nguyện vọng sống với bà K, bà K có đủ điều kiện để nuôi dưỡng con chung. Do đó, Hội đồng xét xử giao con chung cho bà K nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[5] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà K không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[6] Về tài sản chung, nợ chung: các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[7] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận.

[8] Về án phí sơ thẩm: nguyên đơn bà Huỳnh Thị K phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • Các điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Các điều 56, 81, 82, 83, 84 và 85 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị K đối với bị đơn ông Trần Hữu T về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” như sau:

- Về hôn nhân: Bà Huỳnh Thị K được ly hôn với ông Trần Hữu T.

- Về con chung: Giao con chung tên Trần Thị Quỳnh T1, sinh ngày 25/01/2011 cho bà Huỳnh Thị K trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc.

Hai bên đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định của pháp luật. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Nếu người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc

trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người được trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Trần Hữu T không phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra giải quyết.

2. Về án phí: Bà Huỳnh Thị K phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001606 ngày 07/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Tân Uyên;
  • - Chi cục THA dân sự thành
  • phố Tân Uyên;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phạm Thị Hương Diệp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 88/2024/HNGĐ-ST ngày 26/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 88/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuoi con Huỳn Thị Kiều - Trần Hứu Toán
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger