TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 88/2024/HS-ST
Ngày: 26-7-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Thanh Tiền
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Tô Tấn Chương
Bà Trần Thị Tuyết
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Tùng Lâm – Thư ký Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Đẩu - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 84/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2024, quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 94/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Lý Trần Diệp T, sinh ngày 12 tháng 01 năm 1986 tại Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Không có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Chỗ ở: A Lô B đường P, Phường D, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lý Minh T; con bà: Võ Ngọc L; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không;
Tiền án: Ngày 14/9/2019 bị Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo; Ngày 16/3/2021 bị Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 ( chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (tài sản trộm cắp dưới 2.000.000 đồng); Ngày 28/9/2002 bị Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 08 (tám) tháng 12 (mười hai) ngày tù về tội “Trộm cắp tài sản” (tài sản trộm cắp dưới 2.000.000 đồng); Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/10/2023 (có mặt tại phiên tòa)
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Trần Văn T1 sư Công ty Llộc Đoàn Luật sư Thành phố H chỉ: A (lầu C) N, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Ông Lý M T Nơi cư trú: A Lô B,
Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
Bị hại: Ông Lê Quang T2 Nơi cư trú: I H, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Với mục đích trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài nên khoảng 04 giờ 45 phút ngày 25/10/2023, Lý Trần D T một mình điều khiển xe đạp chạy lòng vòng qua nhiều tuyền đường Q và Quận E người có tài sản hơ sở để trộm cắp. Khi đến trước cổng trường L1 địa chỉ B N, Phường D, Quận E thấy cửa phòng bảo vệ bên trong trường đang mở nên T dựng xe đạp bên ngoài rồi trèo qua cổng trường để vào trong sân trường rồi đi tới phòng bảo vệ. Tại đây, T thấy có 01 cái điện thoại di động màu xanh dương hiệu Realme Note 11 của ông Lê Quang T2(bảo vệ trường L2 trên bếp ăn trong phòng nên T dùng tay phải trộm chiếc điện thoại trên rồi đi bộ về hướng cổng trường để tẩu thoát. Khi đang trèo lên cổng trường để ra ngoài thì bị ông T2 phát hiện bắt giữ cùng vật chứng đưa về trụ sở Công an P1, Quận E biên bản bắt người phạm tội quả tang. Vụ việc sau đó được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q để thụ lý theo thẩm quyền.
Vật chứng thu giữ: 01 (một) chiếc xe đạp màu xanh dương, thân xe có dòng chữ “ACT100”; 01 (một) cái áo thun ngắn tay, màu xanh đen trắng; 01 (một) cái quần Jean ống ngắn, màu xanh; 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia 105, màu đen, số Seri: 35310117144823; 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia 230, màu đen bạc, số Seri1:356900073 272909, số S356900073272917; 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo, màu đỏ (không mở khóa được); 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi Note 11 màu xanh dương.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 112/KL-HĐĐGTS ngày 30/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân nhân Q1 kết luận: 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi Note 11 màu xanh dương, đã qua sử dụng, tỷ lệ mới 80% tại thời điểm định giá tháng 10 năm 2023 có giá 2.100.000 đồng (Hai triệu một trăm nghìn đồng).
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 11/KL-HĐĐGTS ngày 07/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân nhân Q1 kết luận: 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia 105, màu đen đã qua sử dụng, tỷ lệ mới 50% tại thời điểm định giá tháng 10/2023 có trị giá 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng); 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO, đã qua sử dụng, tỷ lệ mới 70% tại thời điểm định giá tháng 10 năm 2023 có giá 450.000 đồng (Bốn trăm năm mươi nghìn đồng).
Tại bản Kết luận giám định pháp y tâm thần số: 2209/KLGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2024 của Trung tâm P H kết luận như sau:
1.1 Về y học: Trước, trong, sau khi thực hiện hành vi Trộm cắp tài sản ngày 25/10/2023 cho đến hiện tại, Đối tượng Lý Trần D T có chậm phát triển tâm thần mức độ nhẹ (F70-ICD10).
1.2 Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Trước, trong, sau khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ngày 25/10/2023 cho đến hiện tại, Đối tượng Lý Trần Diệp Trung hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Lê Quang T2 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường.
Bản cáo trạng số: 83/CT-VKS ngày 17/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lý Trần D T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lý Trần D T về tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 173; điểm s, q Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Lý Trần D T với mức án từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù; về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu nên đề nghị không xem xét giải quyết; về vật chứng xử lý theo quy định pháp luật.
Luật sư T5 chữa cho bị cáo trình bày: Về tội danh và điều luật áp dụng thì thống nhất với Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 đã truy tố, đề nghị xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như: Bị cáo phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội tài sản đã thu hồi trả lại cho bị hại xem như chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn; bị cáo là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử bị cáo với mức án tù bằng thời gian tạm giam và trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 ý kiến: Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Luật sư bào chữa nêu thì đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 vẫn giữ nguyên quan điểm đã đề nghị về mức hình phạt.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo không có ý kiến bào chữa cho bị cáo và cũng không tranh luận.
Bị cáo không có ý kiến bào chữa, không tranh luận và nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q1 Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa công khai, bị cáo Lý Trần Diệp T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận, bị cáo Lý Trần Diệp T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi Note 11 màu xanh dương, đã qua sử dụng, có giá 2.100.000 đồng (Hai triệu một trăm nghìn đồng) của ông Lê Q T2. Như vậy, hành vi của bị cáo T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xét bị cáo là người trưởng thành, tuy có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nhưng bị cáo cũng có khả năng nhận biết được hành vi của mình, biết hành vi trộm cắp là vi phạm pháp luật, nhưng vì tham lam mà bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bản thân bị cáo có nhân thân rất xấu, từng bị Tòa án xét xử nhiều lần về hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác nhưng khi chấp hành xong hình phạt bị cáo lại tiếp tục phạm tội, thể hiện ý thức chấp hành pháp luật không tốt.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự xã hội ở địa phương. Do đó, cần phải có một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo; nhằm mục đích giáo dục bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội có 03 tiền án chưa được xóa án tích, tuy nhiên trong đó có 02 tiền án là dấu hiệu định tội nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội tài sản đã thu hồi trả lại cho bị hại xem như chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn; bị cáo là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình. Do đó, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, q, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[5] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo phạm tội có nhân thân xấu, nhiều lần bị Tòa án xét xử về hành vi chiếm đoạt tài sản, các lần xét xử trước đây đã áp dụng hình phạt đối với bị cáo nhưng chưa đủ sức răn đe, giáo dục đối với bị cáo nên cần thiết bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù với một thời gian nhất định để có thể cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo phạm tội nhưng khó khăn về kinh tế và bị bệnh hạn chế về khả năng nhận thức nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố để xét xử và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai.
[8] Về lời trình bày bào chữa của Luật sư bào chữa nêu các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là có cơ sở nên Hội đồng xét xử xem xét. Riêng về hình phạt áp dụng đối với bị cáo thì Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo sau khi chấp hành hình phạt tù thì lại tiếp tục phạm tội, nên các hình phạt của các bản án trước đây chưa đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo và gia đình bị cáo cũng không có giải pháp nào để giáo dục và giám sát bị cáo để bị cáo không phạm tội nữa nên cần phải buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định để có thể giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội.
[9] Về vật chứng:
Xét 01 (một) chiếc xe đạp màu xanh dương, thân xe có dòng chữ “ACT100” là tài sản cá nhân của bị cáo, sử dụng làm phương tiện đi thực hiện hành vi phạm tội nện Hội đồng xét xử tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Xét 01 (một) cái áo thun ngắn tay, màu xanh đen trắng; 01 (một) cái quần Jean ống ngắn, màu xanh là trang phục cá nhân của bị cáo, tại phiên tòa bị cáo không yêu cầu nhận lại số trang phục nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy không còn giá trị sử dụng nữa nên tịch thu tiêu hủy.
Xét 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia 230, màu đen bạc, số Seril: 356900073272909, số S356900073272917 là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội nên Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo T
Xét 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia 105, màu đen, số Seri: 35310117144823; 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo, màu đỏ (không mở khóa được) thu giữ của bị cáo T, T khai trộm cắp của người khác và Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng không có ai khai báo bị mất trộm và không xác định được bị bại, đồng thời Cơ quan điều tra đã thông báo truy tìm chủ sở hữu của 02 chiếc điện thoại di động nêu trên nhưng vẫn chưa có người đến nhận. Do đó, tiếp tục giao Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng tìm chủ sở hữu hợp pháp của 02 chiếc điện thoại nêu trên trong thời gian nhất định, hết thời hạn trên không ai đến nhận thì tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Xét 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi Note 11 màu xanh dương là tài sản của bị hại Lê Quang T2, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu hồi trả lại cho ông T2 nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[10] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Lê Q T2 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Luật phí và lệ phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 173; điểm h, q, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52; Khoản 1 Điều 53; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Lý Trần Diệp T 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 25 tháng 10 năm 2023.
Căn cứ điểm c Khoản 2, điểm a Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (một) chiếc xe đạp màu xanh dương, thân xe có dòng chữ “ACT100”.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cái áo thun ngắn tay, màu xanh đen trắng; 01 (một) cái quần Jean ống ngắn, màu xanh;
Trả lại cho bị cáo Lý Trần Diệp T4 (một) điện thoại di động hiệu Nokia 230, màu đen bạc, số Seril: 356900073272909, số S.
Giao cho Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh thông báo tìm chủ sở hữu hợp pháp của 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia 105, màu đen, số Seri: 35310117144823; 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo, màu đỏ (không mở khóa được) trong thời gian 01 (một) năm, hết thời hạn trên không ai đến nhận thì tịch thu sung ngân sách nhà nước.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/01/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh).
Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Luật phí và lệ phí.
Bị cáo chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo; người bào chữa của bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt
được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lâm Thanh Tiền |
Bản án số 88/2024/HS-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 88/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lý Trần Diệp T-Trộm cắp tài sản
