Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI

TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 88/2024/HS-ST

Ngày: 21/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Kim Loan.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đỗ Thanh Đình

Bà Nguyễn Thị Bình.

- Thư ký phiên tòa: Tại điểm cầu trung tâm: Bà Lê Thị Quỳnh Nương, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.

- Thư ký phiên tòa: Tại điểm cầu thành phần: Ông Lưu Quốc T, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Cường – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại Hội trường xử án Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 50/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 217/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2024, Thông báo về việc chuyển ngày xét xử số 67/TB-TA ngày 06/6/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trịnh Văn V, sinh ngày 12 tháng 10 năm 1996, tại Quảng Ngãi;

Nơi cư trú: Thôn T, xã N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Làm biển; trình độ văn hoá (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh M và bà Lê Thị H; vợ, con chưa có. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/02/2024 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Trịnh Văn T1, sinh năm 1992; nơi cư trú: Thôn T, xã N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; có đơn xin vắng mặt.

1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trịnh Văn V là người thường xuyên sử dụng trái phép chất ma tuý và không có nghề nghiệp ổn định. Để có tiền tiêu xài, V nảy sinh ý định mua ma túy về để sử dụng và bán lại cho người khác kiếm tiền lời. Thông qua bạn bè quen biết ngoài xã hội giới thiệu, Trịnh Văn V biết đối tượng tên T2 (Vỹ không rõ nhân thân, lai lịch ở đâu) có bán ma túy. Chiều ngày 14/02/2024, Trịnh Văn V sử dụng điện thoại số 0971.540.xxx liên lạc đến số điện thoại của đối tượng T2 hỏi mua “nửa hộp năm ma túy đá” (V không biết nhân thân, lai lịch và không nhớ số điện thoại của đối tượng T2), đối tượng T2 đồng ý bán ma tuý cho Trịnh Văn V với số tiền là 2.000.000 đồng và hẹn V đến khu vực xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi (Vỹ không nhớ địa chỉ cụ thể) để giao ma túy và nhận tiền. Khi Trịnh Văn V đến địa điểm hẹn và gặp một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch), V đưa số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) cho người đàn ông và nhận “nửa hộp năm ma túy đá”. Sau đó, V đem số ma tuý vừa mua được về phòng ở của mình tại thôn T, xã N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, phân thành 15 (mười năm) “tép ma túy đá” (V còn gọi “tép ma túy đá” là “thùng bia”). Sau khi phân chia ma tuý xong Trịnh Văn V lấy 05 (năm) “tép ma tuý đá” sử dụng một mình tại phòng ở của mình và bán lại 09 (chín) “tép ma túy đá” cho nhiều người khác (V không biết nhân thân, lai lịch; các đối tượng mua ma túy liên lạc vào số điện thoại của V, sau khi liên lạc mua ma túy xong thì V xóa số điện thoại của người mua). Số tiền thu lợi từ việc bán ma tuý của V là 1.000.000 đồng V đã tiêu xài cá nhân hết.

Đến khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 18/02/2024, Trịnh Văn V đang ở nhà tại thôn T, xã N, thành phố Q, một người nam (V không biết nhân thân, lai lịch) sử dụng số điện thoại 0353.407.xxx gọi đến số điện thoại 0971.540.xxx của Trịnh Văn V hỏi mua 01 (một) “thùng bia” (Trịnh Văn V hiểu người này hỏi mua 01 (một) “tép ma túy đá”), V đồng ý bán với giá tiền 400.000 đồng, Trịnh Văn V hẹn người mua ma tuý đến khu vực cầu T (thuộc xã N, thành phố Q, tỉnh quảng Ngãi) để giao ma túy và lấy tiền, người mua ma tuý đồng ý. Trịnh Văn V lấy 01 (một) tép ma túy “đá” cất giấu trong phòng ở của mình, rồi bỏ vào lỗ vặn gương tay lái phía bên trái của xe mô tô mang biển kiểm soát 76E1-138.71 rồi điều khiển xe mô tô này đi đến khu vực cầu T để bán ma túy. Khi Trịnh Văn V đang điều khiển xe trên tuyến đường thuộc T, xã N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi theo hướng đi đến khu vực cầu T, thì bị Tổ tuần tra Công an thành phố Q phát hiện và kiểm tra. Trịnh Văn V tự nguyện lấy 01 (một) tép ma tuý “đá” được cất giấu trong lỗ vặn gương tay lái phía bên trái xe mô tô mang biển kiểm soát 76E1-138.71 và giao nộp cho Tổ tuần tra Công an thành phố Q. Công an thành phố Q tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trịnh Văn V về hành vi “Mua bán trái phép chất ma tuý” và tạm giữ, niêm phong chất nghi là ma túy thu giữ của Trịnh Văn V, cùng với một số đồ vật, tài liệu liên quan.

* Kết quả trưng cầu giám định chất ma túy:

Ngày 22/02/2024, Phòng K Công an tỉnh Q ra kết luận giám định số 186/KL-KTHS, kết luận:

2

Chất rắn màu trắng gửi giám định là ma tuý; loại: Methamphetamine; khối lượng mẫu: 0,12 gam. (Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ).

H1 lại khối lượng giám định: không (M1 đã sử dụng hết trong quá trình giám định)

Tại bản Cáo trạng số: 52/CT-VKSTPQN ngày 08 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi truy tố Trịnh Văn V về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trịnh Văn V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trịnh Văn V từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù và đề nghị xử lý vật chứng.

Ý kiến tranh luận của bị cáo: Thống nhất không có ý kiến tranh luận gì.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo cải tạo, sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Trịnh Văn V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như tại phần tóm tắt nội dung vụ án. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án nên có cơ sở kết luận:

Khoảng 20 giờ 20 phút ngày 18/02/2024, có một nam thanh niên sử dụng số điện thoại 0353.407.xxx liên lạc cho Trịnh Văn V (số điện thoại 0971.540.xxx) hỏi mua 01 (một) “thùng bia” (Trịnh Văn V hiểu người này hỏi mua 01 (một) “tép ma túy đá”), V đồng ý bán với giá tiền 400.000 đồng và hẹn người mua ma tuý đến khu vực cầu T (thuộc xã N, thành phố Q, tỉnh quảng Ngãi) để giao ma túy và lấy tiền. Khi V mang theo 01 tép ma túy “đá” được cất giấu trong lỗ vặn gương tay lái phía bên trái của xe mô tô mang biển kiểm soát 76E1-138.71, V điều khiển xe mô tô này đi đến khu vực cầu T để bán ma túy, thì bị Công an thành phố Q bắt quả tang

3

với tổng khối lượng ma tuý là 0,12 gam Methamphetamine.

Hành vi của bị cáo Trịnh Văn V đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi đã truy tố bị cáo Trịnh Văn V về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Bị cáo Trịnh Văn V là người có năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được việc mua bán trái phép chất ma túy là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, xâm phạm chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, sức khỏe, làm cho quần chúng Nhân dân hoang mang lo sợ nên cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định để bị cáo có ý thức tuân thủ pháp luật.

Khi quyết định hình phạt cho bị cáo, Hội đồng xét xử xét các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, có ông nội là Trịnh B được Nhà nước tặng Huy chương kháng chiến hạng nhì nên áp dụng điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự.

[4] Về vật chứng trong vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • 01 điện thoại hiệu Oppo, bị cáo dùng để liên lạc mua bán ma tuý nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
  • Số tiền 700.000 đồng Cơ quan điều tra thu giữ đây là tiền cá nhân của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên tuyên trả lại cho bị cáo.
  • 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 76E1 – 138.71, nhãn hiệu YAMAHA, số máy: 55P1174389; số khung: RLCE55P10CY174378. Quá trình điều tra, xác định: Xe mô tô trên là của anh Trịnh Văn T1 là anh ruột của bị cáo Trịnh Văn V đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Sáng ngày 18/02/2024, anh Trịnh Văn T1 đi đánh bắt hải sản, bị cáo V tự ý lấy xe mô tô của anh T1 để làm phương tiện đi lại, anh Trịnh Văn T1 không biết bị cáo V sử dụng xe mô tô biển kiểm soát 76E1 – 138.71 để đi bán ma túy, nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Trịnh Văn T1.

[5] Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự.

Ngoài hành vi phạm tội của bị cáo bị bắt quả tang đã được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát làm rõ, bị cáo còn khai trước đó có mua bán ma tuý nhiều lần với số tiền thu lợi bất chính 1.000.000 đồng. Cơ quan tiến hành điều tra xác minh nhưng vẫn chưa làm rõ được bị cáo mua bán ma tuý nhiều lần, theo Điều 98 của Bộ luật Tố tụng hình sự quy định không được dùng lời nhận tội của bị cáo làm chứng cứ duy nhất để buộc tội, kết tội. Nên Hội đồng xét xử chưa đủ căn cứ xác định bị cáo phạm tội 02 lần trở lên. Bị cáo thừa nhận có thu lợi bất chính 1.000.000 đồng, tại

4

phiên toà, bị cáo đồng ý nộp lại số tiền này nên Hội đồng xét xử truy thu số tiền 1.000.000 đồng sung vào ngân sách nhà nước. Do đó, cần phải tiếp tục tạm giữ số tiền 700.000 đồng được nhận định tại mục [4] để đảm bảo thi hành án.

[6] Các đối tượng khác có liên quan:

6.1. Đối với đối tượng tên T2 (là người bán ma túy cho bị cáo Trịnh Văn V): Bị cáo V không biết về nhân thân, lai lịch và số điện thoại của đối tượng T2. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa có cơ sở để xác minh và tiếp tục xác minh, điều tra xử lý sau.

6.2. Đối với những người mua 09 tép ma túy “đá” của bị cáo V. Bị cáo Trịnh Văn V khai nhận sau khi bán ma túy xong, bị cáo V đã xóa số điện thoại những người mua ma túy này. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra không đủ thông tin để xác minh nhân thân, lai lịch các đối tượng mua ma túy của bị cáo V.

6.3. Đối với người có số điện thoại 0353.407.xxx (là người liên lạc mua ma túy của bị cáo V vào tối ngày 18/02/2024). Ngày 22/03/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Q có văn bản yêu cầu cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu số: 1045/YC-ĐCSMT gửi Viettel tỉnh Q đề nghị cung cấp thông tin của chủ thuê bao số điện thoại 0353.407.xxx, nhưng đến nay Viettel tỉnh Q chưa có kết quả trả lời. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa có đủ thông tin để xác minh nhân thân, lai lịch của đối tượng mua ma túy và Cơ quan Cảnh sát điều tra sẽ tiếp tục xác minh làm rõ và đề nghị xử lý sau.

[7] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi tại phiên tòa về tội danh, mức hình phạt, xử lý vật chứng và các vấn đề khác là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, được chấp nhận.

[8] Về án phí: Bị cáo Trịnh Văn V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; Điều 50, điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38, 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Điều 106, 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trịnh Văn V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trịnh Văn V 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam là ngày 18/02/2024.
  3. Về vật chứng trong vụ án: Tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại Oppo.
  4. Về biện pháp tư pháp: Truy thu số tiền 1.000.000 đồng sung vào ngân sách nhà nước. Tiếp tục tạm giữ 700.000 đồng để đảm bảo thi hành án.

5

(Tiền, vật chứng theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 15/4/2024, Giấy uỷ nhiệm chi ngày 22/4/2024).

  1. Về án phí: Buộc bị cáo Trịnh Văn V phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trịnh Văn V có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ngãi;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ngãi;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi;
  • - VKSND Tp. Quảng Ngãi;
  • - CQCSĐT Công an Tp. Quảng Ngãi;
  • - Đội Điều tra tổng hợp Công an Tp. Quảng Ngãi;
  • - Cơ quan THAHS và HTTP Công an Tp. Quảng Ngãi;
  • - Chi Cục THADS Tp. Quảng Ngãi;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lê Thị Kim Loan

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 88/2024/HS-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI về hình sự - mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 88/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trịnh Văn V, Mua bán trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger