|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 88/2024/HS-PT Ngày: 25-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Liên.
Các Thẩm phán: Ông Trần Bá Nguyên.
Ông Lê Văn Duy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Khánh Nhi là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Hồ Kim Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh Bình Định xét xử trực tuyến công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 81/2024/TLPT-HS ngày 21 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Tiến N do có kháng cáo của bị cáo, kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 96/2024/HSST ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Q.
Bị cáo có kháng cáo, bị kháng nghị:
Nguyễn Tiến N, sinh ngày 18/4/1979 tại tỉnh Bình Định; nơi ĐKHKTT: Tổ B, khu phố D, phường K, thành phố Q, tỉnh Bình Định; chỗ ở hiện nay: 195/2B T, phường I, thành phố Q, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Minh U (chết) và bà Lê Thị C, sinh năm 1950; có vợ: Trần Thị Diễm T, sinh năm 1981 (đã ly hôn), có 02 con (lớn nhất 23 tuổi, nhỏ nhất 19 tuổi); tiền án: Có 02 tiền án. Ngày 30/8/2010, bị Toà án nhân dân tỉnh Bình Định xử phạt 07 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 21/9/2015; Ngày 08/12/2020, bị Toà án nhân dân thành phố Q xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 17/4/2021, chưa được xoá án tích; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/12/2023, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Giữa Nguyễn Thị H, sinh năm 1987; Trú Xóm 3, X, Y, Hà Tĩnh và Nguyễn Tiến N có quan hệ quen biết với nhau. H thường xuyên đến thành phố Q để kinh doanh buôn bán quần áo. Chiều ngày 04/9/2023, trong lúc N và H ngồi chơi tại nhà của Nguyễn Thị M, sinh năm 1997 - là bạn của H và N, tại: 5 B, phường T, thành phố Q, N hỏi mượn H 200.000 đồng, nhưng H không cho. Lúc này N thấy H có để chiếc túi xách (loại túi xách có dây đeo, màu vàng - trắng - đen, có hoa văn da rắn) trên sàn nhà, bên cạnh chỗ H ngồi nên nảy sinh ý định lấy tiền trong túi xách của H. Lợi dụng việc H đang nghe điện thoại, không chú ý nên N đi ra phía sau lưng của H, lén lút lấy túi xách của H đi lại chỗ mình ngồi trước đó, cách vị trí H ngồi khoảng 01 mét. N để túi xách dưới sàn nhà, rồi dùng tay mở túi xách của H lấy 200.000 đồng trong túi xách bỏ vào túi quần của mình rồi để túi xách lại vị trí bên cạnh H. Đến khoảng 17 giờ 00 cùng ngày, M nhận đơn hàng chuyển phát nhanh đến, với số tiền cần thanh toán là 2.100.000 đồng, nhưng M chỉ còn tiền mặt là 1.700.000 đồng, nên hỏi mượn của H 400.000 đồng. H mở túi xách ra định lấy 400.000 đồng đưa cho M thì phát hiện bị mất tiền. H nói mất khoảng 200 - 300 nghìn đồng. Do nghi ngờ trước đó N có hỏi mượn tiền, nhưng H không cho, nên H hỏi N có trộm tiền của mình không, thì N nói không lấy. H tiếp tục hỏi nhiều lần, thì N thừa nhận có lén lút lấy trộm của H 200.000 đồng trong túi xách, rồi lấy từ túi quần của mình ra 200.000 đồng đã lấy trước đó, trả lại cho H, có sự chứng kiến của M. Trong quá trình điều tra, Nguyễn Tiến N đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 96/2024/HSST ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Q đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tiến N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến N 18 (mười tám) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/12/2023.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về bồi thường thiệt hại, về xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng.
Ngày 20 tháng 5 năm 2024, bị cáo Nguyễn Tiến N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 01/QĐ-VKS Ngày 28 tháng 5 năm 2024, Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q đã kháng nghị Bản án hình sự sơ thẩm nói trên và đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm vụ án theo hướng sửa bản án sơ thẩm, giảm hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Tiến N và không áp dụng Luật phí và lệ phí để quyết định án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định và đề nghị: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tiến N, kháng nghị của Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q - Sửa bản án sơ thẩm, giảm cho bị cáo Nguyễn Tiến N 09 tháng tù và không áp dụng Luật phí và lệ phí để quyết định án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Tiến N k nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định: Giữa Nguyễn Thị H và Nguyễn Tiến N có quan hệ quen biết với nhau. Ngày 04/9/2023 tại nhà của vợ chồng anh Nguyễn Xuân L và chị Nguyễn Thị M ở 5 B, phường T, thành phố Q. Bị cáo Nguyễn Tiến N đã lợi dụng sự sơ hở của chị H, lén lút chiếm đoạt 200.000 đồng của chị H. Bị cáo Nguyễn Tiến N có 02 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích, nhưng lại tiếp tục trộm cắp tài sản. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Tiến N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[2] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Tiến N, kháng nghị của Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ như bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện khắc phục hậu quả quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù và việc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội là cần thiết. Tuy nhiên, tài sản bị cáo chiếm đoạt không lớn, đã được trả lại cho bị hại, Tòa án cấp sơ thẩm quá nhấn mạnh việc bị cáo có 02 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích, nhưng lại tiếp tục trộm cắp tài sản và tuyên phạt bị cáo 18 tháng tù là quá nghiêm khắc, không tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Do đó, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tiến N, kháng nghị của Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q, sửa bản án sơ thẩm, giảm cho bị cáo một phần hình phạt cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo.
[3] Về án phí: Theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH4 ngày 30/12/2016 thì kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tiến N được chấp nhận, nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ Luật phí và lệ phí để quyết định về án phí hình sự sơ thẩm là không đúng quy định. Do đó. Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm về phần này.
[4] Tại phiên tòa phúc thẩm: Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định và đề nghị: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tiến N, kháng nghị của Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q - Sửa bản án sơ thẩm, giảm cho bị cáo Nguyễn Tiến N 09 tháng tù và không áp dụng Luật phí và lệ phí để quyết định án phí hình sự sơ thẩm là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.
[5] Phần quyết định còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH4 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tiến N, chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 01/QĐ-VKS Ngày 28 tháng 5 năm 2024 của Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q, sửa bản án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến N 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/12/2023.
2. Về án phí:
- Bị cáo Nguyễn Tiến N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Không căn cứ Luật phí và lệ phí để quyết định án phí hình sự sơ thẩm.
3. Phần quyết định còn lại của bản án sơ không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận :
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thúy Liên |
Bản án số 88/2024/HS-PT ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 88/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tiến N lén lút trộm cắp tài sản của chị Nguyễn Thị H
