|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 88/2024/HSST Ngày: 23/9/2024 |
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI - THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Chu Thị Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Mã Siêu.
Bà Tạ Thị Minh Huệ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Yến - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 84/2024/TLST- HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Bùi Văn S, sinh ngày 26/5/1993 tại xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình.
Nơi cư trú: Thôn B, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn N (đã chết) và bà Đinh Thị N1; vợ là Vũ Thị M (Đã ly hôn) và có 02 con; tiền án: không; tiền sự: có 01 tiền sự: Quyết định áp dụng biên pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” số 15 ngày 25/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải đối với Bùi Văn S thời hạn là 01 năm 06 tháng. Bị cáo chấp hành xong Quyết định ngày 01/12/2023. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 15/7/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, được trích xuất có mặt tại phiên tòa.
+ Bị hại: Công ty Cổ phần C1
Địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Nguyên P - Giám đốc Công ty (Vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền: Anh Phạm Văn T, sinh năm 1988 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc.
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chị Bùi Thị H, sinh năm 1983 (Vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình.
+ Người làm chứng:
- Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 2000 (Vắng mặt)
- Nơi cư trú: Xóm E, xã B, huyện G, tỉnh Nam Định.
- Anh Hoàng Văn T1, sinh năm 1990 (Vắng mặt)
- Nơi cư trú: Khu G, xã L, huyện T, TP Hải Phòng.
- Anh Vũ Đình N2, sinh năm 1996 (Vắng mặt)
- Nơi cư trú: Phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.
- Anh Phạm Ngọc D, sinh năm 1992 (Vắng mặt)
- Nơi cư trú: Tổ G, phường P, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Cuối tháng 12/2023, Bùi Văn S được tuyển làm công nhân lắp đặt các thiết bị điện nước tại công trường xây dựng của Công ty Cổ phần C1 thuộc thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Khi làm việc tại công trường, S được cấp thẻ ra vào, áo và mũ bảo hộ lao động. Đến giữa tháng 03/2024 do lượng công việc ít, S được cho nghỉ tạm thời đợi đến khi có việc sẽ gọi sau nên S vẫn còn giữ thẻ ra vào và áo, mũ bảo hộ lao động. Do không có tiền tiêu xài cá nhân nên khoảng 11 giờ 00 phút ngày 09/4/2024, S mặc quần áo công nhân của công ty, đội mũ công nhân màu xanh, đeo thẻ ra vào trên cổ, rồi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, BKS 17B8-062.61 mang theo 01 lưỡi cưa sắt được quấn băng dính đen- đỏ - trắng ở một đầu; 01 kìm cắt kim loại có cán được bọc cao su màu vàng - đen, 01 dao gọt hoa quả có cán bằng nhựa màu nâu đi vào bên trong công trường xây dựng của Công ty Cổ phần C1 với mục đích trộm cắp tài sản. S điều khiển xe đi quanh công trường để tìm kiếm tài sản, khi đi đến khu vực nhà ăn (giáp với đường Đ) thấy nhà ăn đã xây dựng xong phần thô và không có công nhân làm việc ở đây. S dựng xe đi bộ vòng quanh khu vực nhà ăn thì thấy phía sau nhà ăn có 01 đường ống màu trắng bằng nhựa là ống bảo vệ bên ngoài của dây cáp tiếp địa thoát sét bọc P1, đường kính 12,5mm, lõi bằng kim loại đồng, vỏ dây cáp bằng nhựa màu vàng xanh dài khoảng 20 mét được nối từ đất đến cột thu lôi đặt trên mái của nhà ăn nên S nảy sinh ý định trộm cắp dây cáp tiếp địa bán lấy tiền. S đi theo lối cầu thang sắt lên trên mái nhà ăn, thấy đoạn dây cáp tiếp địa dài nên nghĩ nếu lấy hết số dây cáp khi đi qua cổng công trình sẽ bị bảo vệ phát hiện nên sẽ lấy trước một phần của đoạn dây cáp này, đoạn còn lại S sẽ lấy sau. S đi đến đường ống sát bờ tường của mái chỗ có gen kết nối rồi dùng tay giật mạnh làm bung ống gen ra rồi dùng lưỡi cưa mang theo cưa được 01 đoạn dây cáp tiếp địa dài khoảng 08 mét. S cầm đoạn dây cáp đi đến cuối mái nhà và dùng dao mang theo tách vỏ nhựa màu vàng - xanh vứt xuống đường ống dẫn nước từ mái nhà xuống đất sau đó dùng cưa cắt đôi đoạn dây kim loại và dùng kìm gấp nhỏ số lõi kim loại kia thành 02 cuộn, mỗi cuộn dài khoảng 25cm. S mang 02 cuộn dây kim loại giấu vào trong phần đầu của chiếc xe mô tô để không bị bảo vệ phát hiện rồi mang về nhà cất giấu. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, S tiếp tục mang theo những công cụ trên và điều khiển xe mô tô quay lại khu vực nhà ăn cắt tiếp 01 đoạn dây cáp tiếp địa dài khoảng 10 mét sau đó tách vỏ nhựa đoạn dây cáp lấy lõi đồng rồi chia ra làm 03 đoạn. S dùng kìm gấp nhỏ số lõi kim loại kia thành 03 cuộn, mỗi cuộn dài khoảng 25- 30cm cất giấu vào bên trong phần đầu xe rồi điều khiển xe đi về nhà. Sau đó, S bán 05 cuộn lõi thép trộm cắp được cho một người phụ nữ khoảng 40 tuổi thu mua phế liệu dong tại khu vực cầu T cũ thuộc xã T, T được số tiền 1.480.000 đồng, số tiền này S tiêu xài cá nhân hết.
Tại Bản kết luận định giá tài sản ngày 14/6/2024 của Hội đồng Định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: 18 mét dây cáp tiếp địa thoát sét bọc P1, đường kính 12,5mm, lõi bằng kim loại đồng, vỏ dây cáp bằng nhựa màu vàng xanh có giá trị 3.150.000 đồng (Ba triệu một trăm năm mươi nghìn đồng).
Tại bản cáo trạng số 92/CT-VKS ngày 29/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình truy tố Bị cáo Bùi Văn S về tội: “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải đã truy tố đối với Bị cáo.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải thực hành quyền công tố nhà nước tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s, điểm i khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Văn S từ 09 (Chín) tháng tù đến 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 15/7/2024.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về trách nhiện dân sự: Áp dụng Điều 584, Điều 585 và Điều 589 Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo Bùi Văn S phải bồi thường cho Công ty Cổ phần C1 số tiền 3.150.000 đồng (Ba triệu một trăm năm mươi nghìn đồng).
- Về vật chứng: - Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc kìm điện, chiều dài 18cm, phần tay cầm bọc cao su màu vàng đen; 01 chiếc lưỡi cưa hai mặt bàng kim loại, chiều dài 30cm, bản lưỡi cưa rộng 1,9cm, phần lưỡi cưa quấn băng dính màu đỏ đen; 01 chiếc áo công nhân dài tay, màu xám- cam, lưng áo có dòng chữ màu trắng “CÔNG TY CỔ PHẦN CƠ ĐIỆN HỢP LỰC” ; 01 mũ bảo hiểm mặt ngoài màu xanh; 01 chiếc thẻ ra vào dự án công ty cổ phần C1 mang tên Bùi Văn S.
- - Trả lại chị Bùi Thị H 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave s màu nâu BKS: 17B8- 062.61.
- Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với Kiểm sát viên về bản luận tội.
Kết thúc phần tranh luận bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố vụ án được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Bị cáo, Bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng không khiếu nại hay có ý kiến gì. Nên các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án này là hợp pháp.
[2]. Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Xét thấy tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi trộm cắp tài sản của Công ty Cổ phần C1 vào ngày 09/4/2024. Tổng giá trị tài sản bị cáo trộm cắp là 3.150.000 đồng. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra, truy tố và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án như:
- - Đơn trình báo và lời khai của đại diện Công ty Cổ phần C1 là anh Phạm Văn T - Kỹ sư quản lý, phụ trách lĩnh vực cơ điện tại Công trường xây dựng Công ty Cổ phần C1;
- - Sơ đồ và biên bản khám nghiệm hiện trường do Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện T lập ngày 14/6/2024;
- - Biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T lập ngày 15/7/2024;
- - Bản kết luận định giá tài sản ngày 14/6/2024 của Hội đồng Định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T;
- - Biên bản ghi lời khai của những người làm chứng là anh Nguyễn Văn C, anh Hoàng Văn T1, anh Nguyễn Đức S1, anh Vũ Đình N2 và anh Phạm Ngọc D.
- - Biên bản ghi lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Bùi Thị H.
Từ những tình tiết và chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ và 13 giờ ngày 09/4/2024, tại Công ty cổ phần C1 thuộc địa phận thôn N, xã T, huyện T, lợi dụng sơ hở trong việc quản lý, trông coi tài sản, Bùi Văn S đã có hành vi trộm cắp 18 mét dây cáp tiếp địa thoát sét bọc P1, đường kính 12,5mm, lõi bằng kim loại đồng, vỏ dây cáp bằng nhựa màu vàng xanh của Công ty cổ phần C1 trị giá 3.150.000 đồng (Ba triệu một trăm năm mươi nghìn đồng).
Hành vi của bị cáo Bùi Văn S đã phạm tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải đã truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tội phạm thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.
Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định tội "Trộm cắp tài sản":
"1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
- Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
- Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng".
[3]. Đánh giá tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương và công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.
[4]. Đánh giá về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo có 01 tiền sự, ngày 25/5/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” với thời hạn 01 năm 06 tháng.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng cho bị cáo theo quy định tại điểm s, điểm i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5]. Về hình phạt:
[5.1]. Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo, xét thấy bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ khả năng nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có nhân thân xấu. Vì vậy hành vi của bị cáo cần thiết phải xử phạt bằng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội do bị gây ra mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ một phần mức hình phạt tù cho bị cáo thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.
[5.2]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo không có việc làm ổn định, nuôi hai con nhỏ, hoàn cảnh gia đình có nhiều khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là Công ty Cổ phần C1 yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho Công ty giá trị tài sản bị cáo trộm cắp là 3.150.000 đồng. Bị cáo chưa bồi thường thiệt hại cho Công ty. Căn cứ vào Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 589 Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo Bùi Văn S phải bồi thường thiệt hại cho Công ty Cổ phần C1 số tiền 3.150.000 đồng (Ba triệu một trăm năm mươi nghìn đồng).
[7]. Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã quản lý 01 chiếc kìm điện, chiều dài 18cm, phần tay cầm bọc cao su màu vàng đen; 01 chiếc lưỡi cưa hai mặt bàng kim loại, chiều dài 30cm, bản lưỡi cưa rộng 1,9cm, phần lưỡi cưa quấn băng dính màu đỏ đen; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave s màu nâu BKS: 17B8- 062.61; 01 chiếc áo công nhân dài tay, màu xám- cam, lưng áo có dòng chữ màu trắng “CÔNG TY CỔ PHẦN CƠ ĐIỆN HỢP LỰC” ; 01 mũ bảo hiểm mặt ngoài màu xanh và 01 chiếc thẻ ra vào dự án công ty cổ phần C1 mang tên Bùi Văn S. Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave s màu nâu BKS: 17B8- 062.61 là tài sản của chị Bùi Thị H là chị gái của S, chị H cho S mượn xe để đi làm, chị H không biết S sử dụng xe để đi trộm cắp tài sản. Vì vậy cần trả chiếc xe trên cho chị H. Số vật chứng còn lại là công cụ, phương tiện phạm tội không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[8]. Về các vấn đề khác của vụ án: Trong vụ án có chị Bùi Thị H là chị gái của S đã cho S mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave s màu nâu BKS: 17B8- 062.61 để đi làm. Chị H không biết S sử dụng xe của chị H để đi trộm cắp tài sản. Do đó Cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với chị H là có căn cứ.
[9]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm i, điểm s khoản 1Điều 51, Điều 50, Điều 38, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 584,Điều 585, Điều 586 và Điều 589 Bộ luật Dân sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn S phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt: Xử phạt Bị cáo Bùi Văn S 10 (Mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 15/7/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Bùi Văn S phải bồi thường thiệt hại cho Công ty Cổ phần C1 số tiền 3.150.000 đồng (Ba triệu một trăm năm mươi nghìn đồng).
- Về vật chứng: - Trả lại chị Bùi Thị H 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave s màu nâu BKS: 17B8-062.61.
- Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc kìm điện, chiều dài 18cm, phần tay cầm bọc cao su màu vàng đen; 01 chiếc lưỡi cưa hai mặt bàng kim loại, chiều dài 30cm, bản lưỡi cưa rộng 1,9cm, phần lưỡi cưa quấn băng dính màu đỏ đen; 01 chiếc áo công nhân dài tay, màu xám- cam, lưng áo có dòng chữ màu trắng “CÔNG TY CỔ PHẦN CƠ ĐIỆN HỢP LỰC” ; 01 mũ bảo hiểm mặt ngoài màu xanh và 01 chiếc thẻ ra vào dự án công ty cổ phần C1 mang tên Bùi Văn S.
(Vật chứng của vụ án đã được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiền Hải theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/8/2024 giữa Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiền Hải).
- Về án phí: Bị cáo Bùi Văn S phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (23/9/2024).
Bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Chu Thị Linh |
Bản án số 88/2024/HSST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH về hình sự - trộm cắp tài sản
- Số bản án: 88/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn S phạm tội
