Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 88/2024/HSST

Ngày 23 -7 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Bích Phượng

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Nguyễn Văn Thiện

Bà Nguyễn Minh Hằng

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thu Trang- Thư ký Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải An, Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 77/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Bùi Ngọc T, sinh ngày 10 tháng 11 năm 1990 tại Hải Phòng; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn F, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Tổ F, thôn V, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Cán bộ phòng Hạ tầng kỹ thuật - Sở Xây dựng; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Hữu T1 và bà Trần Thị H; có vợ là Cao Thị Huyền T2 và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 16/3/2024 đến ngày 21/3/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  2. Nguyễn Tiến Q, sinh ngày 03 tháng 7 năm 1985 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn G, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tiến X và bà Phạm Thị L (đã chết); chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 16/3/2024 đến ngày 21/3/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  3. Vũ Quý K, sinh ngày 22 tháng 10 năm 1977 tại Hải Phòng; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm G, thôn L, xã L, huyện A, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Số G đường Đ, phường V, quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Giám đốc Xí nghiệp thoát nước Lê C thuộc Công ty TNHH MTV T11; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Quý P (đã chết) và bà Nguyễn Thị T3; có vợ là Nguyễn Thu H1 và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 16/3/2024 đến ngày 21/3/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  4. Trần Văn H2, sinh ngày 01 tháng 12 năm 1984 tại Hải Dương; nơi cư trú: Số B Tập thể T, Tổ dân phố số C, phường C, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Cán bộ Xí nghiệp cấu kiện bê tông thuộc Công ty TNHH MTV T11; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn V và bà Nguyễn Thị H3; có vợ là Nguyễn Thị H4 và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 16/3/2024 đến ngày 21/3/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  5. Nguyễn Văn P1, sinh ngày 11 tháng 01 năm 1980 tại Hải Phòng; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số C T, phường H, quận H, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Số E H, phường L, quận K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Cán bộ Xí nghiệp xử lý nước thải thuộc Công ty TNHH MTV T11; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh L1 và bà Trần Thị L2; có vợ là Lê Thị Thùy L3 và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 16/3/2024 đến ngày 21/3/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  6. Nguyễn Quốc H5, sinh ngày 30 tháng 8 năm 1978 tại Tuyên Quang; nơi cư trú: Số B đường L, Đ, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quốc H6 (đã chết) và bà Vũ Thị C1; có vợ là Đoàn Thị P2 và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 16/3/2024 đến ngày 21/3/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  7. Tạ Thế T4, sinh ngày 14 tháng 5 năm 1984 tại Hải Phòng; nơi đăng ký thường trú: Số B N, phường K, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Số B đường T, phường K, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Giám đốc Xí nghiệp thoát nước An Lão thuộc Công ty TNHH MTV T11; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tạ Văn T5 và bà Bùi Thị S; có vợ là Đinh Thị Hồng H7 và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 16/3/2024 đến ngày 21/3/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  8. Bùi Ngọc K1, sinh ngày 11 tháng 3 năm 1978 tại Hải Dương; nơi cư trú: Số A đường P, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Phó phòng Kế toán - Thống kê Công ty TNHH MTV T11; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Ngọc L4 và bà Đào Thị T6; có vợ là Hoàng Thị Thúy L5 (đã ly hôn) và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 16/3/2024 đến ngày 21/3/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  9. Lê Văn T7, sinh ngày 02 tháng 01 năm 1985 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn S1 và bà Nguyễn Thị T8; có vợ là Hoàng Thị T9 và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 16/3/2024 đến ngày 21/3/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  10. Lê Minh H8, sinh ngày 09 tháng 11 năm 1995 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn V, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Đ và bà Trần Thị N; có vợ là Trần Thị Khánh C2 và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 16/3/2024 đến ngày 21/3/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

Người làm chứng: Anh Cáp Văn D; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 15/3/2024, Nguyễn Tiến Q, Nguyễn Quốc H5, Lê Văn T7, Tạ Thế T4, Bùi Ngọc T, Trần Văn H2, Nguyễn Văn P1, Lê Minh H8, Vũ Quý K và Cáp Văn D, sinh năm: 1975; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện Â, tỉnh Hưng Yên ngồi uống bia tại quán số 774 N, TDP số G, phường T, quận H, Hải Phòng và nảy sinh ý định chơi bài được thua bằng tiền (hiện không xác định được ai là người khởi xướng). Khoảng 20 giờ cùng ngày, K có việc nên đi về trước. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, Q mở cửa cho H5, T7, T4, T, H2, P1, H8 và D vào nhà mình tại số G đường N, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng (Nhà do Q mượn của ông Phạm Ngọc R, sinh năm 1956; ĐKHKTT: Số G N, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng để sinh hoạt, đứng tên chủ sở hữu của con trai ông R là anh Phạm Ngọc L6. Sau đó, Q ở dưới dọn dẹp còn Hiệu, T7, T4, T, H2, P1, H8, D đi lên tầng 2. Tại đây, D nằm ngủ; H5, T7, T4, T, H2, P1 bắt đầu ngồi đánh bạc với hình thức chơi bài ba cây được thua bằng tiền. Cách thức chơi như sau: Sử dụng 01 bộ bài tú lơ khơ có sẵn ở trong phòng gồm 36 quân bài (các quân bài A và từ 2 đến 9) để chơi;

đặt cược mức thấp nhất là 50.000 đồng, cao nhất là 200.000 đồng; người cầm chương của ván bài đó sẽ chia bài, mỗi người ba quân bài, sau đó tiến hành đặt cược, mở bài, cộng điểm và so điểm với người cầm chương; người nào thấp điểm hơn người cầm chương sẽ phải mất tiền cược cho người cầm chương, trường hợp người cầm chương thấp điểm hơn sẽ phải trả cho người có số điểm cao hơn số tiền mà người đó cược; ai được 10 điểm thì người cầm chương sẽ phải trả cho người đó gấp đôi số tiền đã đặt cược, còn người cầm chương được 10 điểm thì tất cả phải trả gấp đôi số tiền đã đặt cược trước đó; ai được sáp (03 quân bài cùng số với nhau) thì người cầm chương sẽ phải trả cho người đó gấp ba số tiền đã đặt cược, còn người cầm chương được sáp thì tất cả phải trả gấp ba số tiền đã đặt cược trước đó. Tất cả đồng ý, H2 lấy bộ bài tú lơ khơ 36 quân có sẵn ở trong phòng do Q mua từ trước và chia cho mỗi người một quân để xác định ai là có điểm cao nhất là người cầm chương. Sau khi so sánh điểm, T là người cầm chương đầu tiên và tất cả bắt đầu chơi ván đầu tiên. H8 ngồi sau lưng H5 vừa xem mọi người đánh bạc vừa chơi điện tử. Sau khi chơi được khoảng 2-3 ván thì H5 nói với H8 “Có chung không?”. H8 đồng ý và nói “Cứ chơi đi” (H8 hiểu ý H5 rủ mình chung tiền đánh bạc để H5 trực tiếp chơi, cả hai nếu thắng hay thua sẽ cùng chấp nhận và thanh toán sau). Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, Bùi Ngọc K1 đến và tham gia đánh bạc cùng. Hiệu, T7, T4, T, H2, P1, K1 đánh bạc được khoảng 10 phút thì Vũ Quý K quay lại nhà Q. Lúc này, H5 không chơi nữa và K vào thay chân cho H5 tham gia đánh bạc cùng với T7, T4, T, H2, P1, K1. Khi đó, H5 đứng lên kiểm tiền thấy thắng 600.000 đồng, H5 để 300.000 đồng cạnh chỗ H8 ngồi và nói: “Phần của chú đây”. Hiệu quay ra ngồi xem mọi người đánh bạc được một lúc thì đến ngồi phía sau lưng P1 nói “P1 ơi cho anh ké cửa với” (ý H5 rủ P1 cho H5 chung tiền để P1 trực tiếp đánh bạc, được thua sẽ chia đôi). P1 đồng ý và nói “Vầng”. Hiệu đưa cho P1 100.000 đồng do ván đó P1 thắng nên H5 được nhận lại 200.000 đồng và H5 đưa tiếp cho P1 100.000 đồng để đánh ván tiếp theo thì bị thua; sau đó H5 quay ra nghỉ không chơi tiếp nữa. Khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày, sau khi dọn dẹp xong Q đi lên tầng 2 ngồi xem Kết, H2, T, T4, T7, K, P1 đánh bài. Hiếu lúc này vẫn ngồi ngoài vừa xem mọi người đánh bạc vừa chơi điện tử. Khi thấy P1 đang thua và ván bài này H5 đang chung cửa với P1 thì H8 cầm số tiền 300.000 đồng mà H5 vừa để xuống đặt vào chỗ của P1 ngồi mục đích để P1 với H5 dùng số tiền này để đánh bạc tiếp, thắng hay thua H8 đều chấp nhận. Thấy H8 để 300.000 đồng vào vị trí để tiền của mình nhưng không nói gì, P1 nghĩ H8 muốn chung tiền để chơi đánh bạc nên cũng không hỏi lại nữa. Tất cả đánh bạc đến khoảng 0 giờ 10 phút ngày 16 tháng 3 năm 2024 thì tổ công tác Công an quận H vào kiểm tra: Thu giữ trên chiếu bạc 01 bộ bài tú lơ khơ 36 quân bài gồm các quân bài A và từ 2 đến 9; số tiền 23.700.000 đồng; cụ thể (Bùi Ngọc T có 6.000.000 đồng; Vũ Quý K có 4.300.000 đồng; Trần Văn H2 có 4.200.000 đồng; Nguyễn Văn P1 có 2.400.000 đồng;

Nguyễn Quốc H5 có 2.300.000 đồng; Tạ Thế T4 có 2.200.000 đồng; Bùi Ngọc K1 có 1.600.000 đồng; Lê Văn T7 có 700.000 đồng). Ngoài ra còn tạm giữ 36.560.000 đồng (gồm 2.000.000 đồng trong túi quần sau bên phải của Bùi Ngọc K1, 3.935.000 đồng trong túi quần sau bên phải của Tạ Thế T4, 10.000.000 đồng trong túi quần sau bên phải của Bùi Ngọc T, 525.000 đồng trong túi quần trước bên phải của Trần Văn H2, 2.500.000 đồng trong túi quần sau bên phải của Nguyễn Văn P1, 16.600.000 đồng trong túi áo trước bên trái của Vũ Quý K, 1.000.000 đồng trong túi quần sau bên phải của Lê Minh H8). Sau đó, tổ công tác đưa các đối tượng liên quan về trụ sở Công an quận H lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Quá trình điều tra tại Cơ quan điều tra, các bị cáo Nguyễn Tiến Q, Bùi Ngọc K1, Lê Văn T7, Tạ Thế T4, Bùi Ngọc T, Trần Văn H2, Nguyễn Văn P1, Vũ Quý K, Nguyễn Quốc H5, Lê Minh H8 khai nhận. Về số tiền sử dụng đánh bạc: Trước khi chơi T bỏ ra 3.900.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt quả tang T có 6.000.000 đồng, T được 2.100.000 đồng; K bỏ ra khoảng 5.400.000 để đánh bạc, khi bị bắt quả tang K có 4.300.000 đồng, K thua khoảng 1.200.000 đồng; H2 bỏ ra khoảng 5.000.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt quả tang H2 có 4.200.000 đồng, H2 thua khoảng 800.000 đồng; P1 bỏ ra khoảng 500.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt quả tang P1 có 2.400.000 đồng, P1 được khoảng 1.900.000 đồng; H5 bỏ ra khoảng 2.000.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt quả tang H5 có 2.300.000 đồng, H5 được khoảng 300.000 đồng; T4 bỏ ra 1.500.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt quả tang T4 có 2.200.000 đồng, T4 được 700.000 đồng; Kết bỏ ra 3.000.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt quả tang K1 có 1.600.000 đồng, K1 thua 1.400.000 đồng; T7 bỏ ra khoảng 1.600.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt quả tang T7 có 700.000 đồng, T7 thua khoảng 900.000 đồng. Đối với số tiền 36.560.000 đồng tạm giữ trên người của các bị cáo K1, T4, T, H2, P1, K, H8 các bị cáo khai là tiền sử dụng vào việc chi tiêu cá nhân không sử dụng vào mục đích đánh bạc. Nguyễn Tiến Q khai khi cho các bị cáo khác sử dụng nhà mình làm địa điểm đánh bạc, Q không không thu lợi bất cứ một khoản tiền nào; không có các hành vi tổ chức việc cầm cố tài sản cho người tham gia đánh bạc; không lắp đặt trang thiết bị phục vụ cho việc đánh bạc hoặc phân công người canh gác, người phục vụ khi đánh bạc.

- Về vật chứng của vụ án: Thu giữ 01 bộ bài tú lơ khơ 36 quân bài gồm các quân bài A và từ 2 đến 9; số tiền 60.260.000 đồng gồm 23.700.000 đồng là số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc và 36.560.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 79/CT- VKS ngày 14/6/2024, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng truy tố các bị cáo Nguyễn Tiến Q, Ngọc T, Vũ Quý K, Trần Văn H2, Nguyễn Văn P1, Nguyễn Quốc H5, Tạ Thế T4, Bùi Ngọc K1, Lê Văn T7, Lê Minh H8 phạm tội về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà:

Các bị cáo Bùi Ngọc T, Nguyễn Tiến Q, Vũ Quý K, Trần Văn H2, Nguyễn Văn P1, Nguyễn Quốc H5, Tạ Thế T4, Bùi Ngọc K1, Lê Văn T7, Lê Minh H8 khai nhận toàn bộ hành vi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức chơi ba cây được thua bằng tiền với tổng số tiền đánh bạc là 23.700.000 đồng phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố và luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng; căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử:

  • + Phạt tiền bị cáo Bùi Ngọc T từ 32.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước về tội “Đánh bạc”;
  • + Phạt tiền bị cáo Nguyễn Tiến Q từ 29.000.000 đồng đến 32.000.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước về tội “Đánh bạc”;
  • + Phạt tiền bị cáo Vũ Quý K từ 29.000.000 đồng đến 32.000.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước về tội “Đánh bạc”;
  • + Phạt tiền bị cáo Trần Văn H2 từ 29.000.000 đồng đến 32.000.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước về tội “Đánh bạc”;
  • + Phạt tiền bị cáo Nguyễn Văn P1 từ 26.000.000 đồng đến 29.000.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước về tội “Đánh bạc”;
  • + Phạt tiền bị cáo Nguyễn Quốc H5 từ 26.000.000 đồng đến 29.000.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước về tội “Đánh bạc”;
  • + Phạt tiền bị cáo Tạ Thế T4 từ 26.000.000 đồng đến 29.000.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước về tội “Đánh bạc”;
  • + Phạt tiền bị cáo Bùi Ngọc K1 từ 23.000.000 đồng đến 26.000.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước về tội “Đánh bạc”;
  • + Phạt tiền bị cáo Lê Văn T7 từ 20.000.000 đồng đến 23.000.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước về tội “Đánh bạc”;
  • + Phạt tiền bị cáo Lê Minh H8 từ 20.000.000 đồng đến 23.000.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước về tội “Đánh bạc”;

- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo do hình phạt tiền đã được áp dụng là hình phạt chính.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở khẳng định: Từ khoảng 21 giờ ngày 15/3/2024 đến 0 giờ 10 phút ngày 16/3/ 2024, tại nhà ở địa chỉ số G đường N, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng do Nguyễn Tiến Q quản lý, các bị cáo Bùi Ngọc T, Nguyễn Tiến Q, Vũ Quý K, Trần Văn H2, Nguyễn Văn P1, Nguyễn Quốc H5, Tạ Thế T4, Bùi Ngọc K1, Lê Văn T7, Lê Minh H8 đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức chơi ba cây được thua bằng tiền. Tổng số tiền đánh bạc thu giữ là 23.700.000 đồng. Như vậy, hành vi của các bị cáo Bùi Ngọc T, Nguyễn Tiến Q, Vũ Quý K, Trần Văn H2, Nguyễn Văn P1, Nguyễn Quốc H5, Tạ Thế T4, Bùi Ngọc K1, Lê Văn T7, Lê Minh H8 đồng phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

[3] Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng truy tố đối với các bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật.

- Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:

[4] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, làm mất trật tự an toàn xã hội, gây dư luận xấu trong cộng đồng dân cư, nên cần xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.

[5] Các bị cáo cùng nhau thực hiện tội phạm nên phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm theo quy định tại Điều 17 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, khi quyết định hình phạt cần xem xét vai trò của từng bị cáo trong đồng phạm và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo để phân hóa tội phạm cũng như áp dụng một mức hình phạt tương xứng theo quy định tại Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

- Xét về vai trò của các bị cáo:

[6] Đây là vụ án đồng phạm có tính chất giản đơn. Các bị cáo không có sự bàn bạc, thống nhất cùng thực hiện hành vi đánh bạc. Bị cáo Bùi Ngọc T có vai trò tích cực là người cầm chương và có số tiền khi tham gia đánh bạc là 6.000.000 đồng nên vai trò cao nhất; bị cáo Q là người có nhà, tuy không thu lợi nhưng đã cho các bị cáo vào nhà đánh bạc nên có vai trò ngang với các bị cáo Vũ Quý K có số tiền tham gia đánh bạc là 4.300.000 đồng và bị cáo Trần Văn H2 có số tiền tham gia đánh bạc là 4.200.000 đồng ; bị cáo Nguyễn Văn P1 có số tiền tham gia đánh bạc là 2.400.000 đồng; Nguyễn Quốc H5 có số tiền tham gia đánh bạc 2.300.000 đồng; Tạ Thế T4 có số tiền tham gia đánh bạc 2.200.000 đồng nên vai trò thấp hơn; bị cáo Bùi Ngọc K1 có số tiền tham gia đánh bạc 1.600.000 đồng nên K1 phải chịu hình phạt cao hơn so với bị cáo Lê văn T10 có số tiền đánh bạc 700.000 đồng; bị cáo Lê Minh H8 được H5 rủ H8 đồng ý tham gia và H5 đưa cho H8 300.000 đồng nên vai trò thấp nhất.

- Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[7] Các bị cáo Bùi Ngọc T, Nguyễn Tiến Q, Vũ Quý K, Trần Văn H2, Nguyễn Văn P1, Nguyễn Quốc H5, Tạ Thế T4, Bùi Ngọc K1, Lê Văn T7, Lê Minh H8 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[8] Xét nhân thân các bị cáo Bùi Ngọc T, Nguyễn Tiến Q, Vũ Quý K, Trần Văn H2, Nguyễn Văn P1, Nguyễn Quốc H5, Tạ Thế T4, Bùi Ngọc K1, Lê Văn T7, Lê Minh H8 chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[9] Xét các bị cáo Bùi Ngọc T, Nguyễn Tiến Q, Vũ Quý K, Trần Văn H2, Nguyễn Văn P1, Nguyễn Quốc H5, Tạ Thế T4, Bùi Ngọc K1, Lê Văn T7, Lê Minh H8 được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng. Đến nay hành vi vi phạm của các bị cáo không còn gây nguy hiểm cho xã hội. Vì vậy, không cần thiết phải áp dụng mức hình phạt cải tạo cách ly xã hội mà cho các bị cáo Bùi Ngọc T, Nguyễn Tiến Q,Vũ Quý K, Trần Văn H2, Nguyễn Văn P1, Nguyễn Quốc H5, Tạ Thế T4, Bùi Ngọc K1, Lê Văn T7, Lê Minh H8 được áp dụng hình phạt chính là phạt tiền theo quy định tại Điều 35 của Bộ luật Hình sự, cũng đảm bảo tính răn đe và phù hợp với quy định của pháp luật.

- Về xử lý vật chứng:

[10] Đối với 01 bộ bài tú lơ khơ 36 quân bài gồm các quân bài A và từ 2 đến 9 là phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội cần tịch thu tiêu hủy; số tiền 23.700.000 đồng là số tiền các bị cáo dùng vào việc phạm tội cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[11] Đối với số tiền 36.560.000 đồng thu giữ của các bị cáo (trong đó: Bùi Ngọc K1 có 2.000.000 đồng; Tạ Thế T4 có 3.935.000 đồng; Bùi Ngọc T có 10.000.000 đồng; Trần Văn H2 có 525.000 đồng; Nguyễn Văn P1 có 2.500.000 đồng; Vũ Quý K có 16.600.000 đồng; Lê Minh H8 có 1.000.000 đồng) là tiền cá nhân của các bị cáo không liên quan đến việc phạm tội cần trả lại cho các bị cáo, nhưng cần được giữ lại để đảm bảo thi hành án).

[12] Đối với Nguyễn Tiến Q cho các bị cáo đánh bạc tại nhà mình, tài liệu điều tra chứng minh được Q không thu lợi bất chính, không có các hành vi tổ chức đánh bạc nên Cơ quan điều tra không đề nghị truy tố Q về tội Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc mà xử lý về tội đánh bạc với vai trò đồng phạm với các bị can khác trong vụ án là có căn cứ.

[13] Đối với ông Phạm Ngọc R, anh Phạm Ngọc L6 không biết việc Nguyễn Tiến Q cho các bị cáo đánh bạc tại nhà của mình Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H không xử lý.

- Về án phí:

[14] Buộc các bị cáo Bùi Ngọc T, Nguyễn Tiến Q, Vũ Quý K, Trần Văn H2, Nguyễn Văn P1, Nguyễn Quốc H5, Tạ Thế T4, Bùi Ngọc K1, Lê Văn T7, Lê Minh H8 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo:

[15] Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố các bị cáo Bùi Ngọc T, Nguyễn Tiến Q, Vũ Quý K, Trần Văn H2, Nguyễn Văn P1, Nguyễn Quốc H5, Tạ Thế T4, Bùi Ngọc K1, Lê Văn T7, Lê Minh H8 đồng phạm tội “Đánh bạc”. Xử:

  • + Phạt tiền bị cáo Bùi Ngọc T 32.000.000 (ba mươi hai triệu) đồng sung vào ngân sách Nhà nước.
  • + Phạt tiền bị cáo Nguyễn Tiến Q 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng sung vào ngân sách Nhà nước.
  • + Phạt tiền bị cáo Vũ Quý K 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng sung vào ngân sách Nhà nước.
  • + Phạt tiền bị cáo Trần Văn H2 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng sung vào ngân sách Nhà nước.
  • + Phạt tiền bị cáo Nguyễn Văn P1 27.000.000 (hai mươi bảy triệu) đồng sung vào ngân sách Nhà nước.
  • + Phạt tiền bị cáo Nguyễn Quốc H5 27.000.000 (hai mươi bảy triệu) đồng sung vào ngân sách Nhà nước.
  • + Phạt tiền bị cáo Tạ Thế T4 27.000.000 (hai mươi bảy triệu) đồng sung vào ngân sách Nhà nước.
  • + Phạt tiền bị cáo Bùi Ngọc K1 23.000.000 (hai mươi ba triệu) đồng sung vào ngân sách Nhà nước.
  • + Phạt tiền bị cáo Lê Văn T7 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng sung vào ngân sách Nhà nước.
  • + Phạt tiền bị cáo Lê Minh H8 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng sung vào ngân sách Nhà nước.

- Căn cứ khoản 2 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các bị cáo Bùi Ngọc T, Nguyễn Tiến Q, Vũ Quý K, Trần Văn H2, Nguyễn Văn P1, Nguyễn Quốc H5, Tạ Thế T4, Bùi Ngọc K1, Lê Văn T7, Lê Minh H8 kể từ ngày tuyên án.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • + Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tú lơ khơ 36 quân bài gồm các quân bài từ A và từ 2 đến 9 là phương tiện dùng vào việc phạm tội.
  • + Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 23.700.000 (hai mươi ba triệu, bảy trăm nghìn) đồng là số tiền các bị cáo dùng vào việc phạm tội.
  • + Trả lại cho các bị cáo tổng số tiền là 36.560.000 (ba mươi sáu triệu, năm trăm sáu mươi nghìn) đồng. Cụ thể: Bị cáo Bùi Ngọc K1 2.000.000 (hai triệu) đồng; Tạ Thế T4 3.935.000 (ba triệu, chín trăm ba mươi lăm nghìn) đồng; Bùi Ngọc T 10.000.000 (mười triệu) đồng; Trần Văn H2 525.000 (năm trăm hai mươi lăm nghìn) đồng; Nguyễn Văn P1 2.500.000 (hai triệu năm trăm nghìn) đồng; Vũ Quý K 16.600.000 (mười sáu triệu sáu trăm nghìn) đồng; Lê Minh H8 1.000.000 (một triệu) đồng. Nhưng số tiền này cần được giữ lại để đảm bảo thi hành án.

(Theo biên lai thu tiền số 0004817 ngày 24/6/2024 và theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An, thành phố Hải Phòng).

- Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc: Mỗi bị cáo Bùi Ngọc T, Nguyễn Tiến Q, Vũ Quý K, Trần Văn H2, Nguyễn Văn P1, Nguyễn Quốc H5, Tạ Thế T4, Bùi Ngọc K1, Lê Văn T7, Lê Minh H8 phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo đối với bản án:

Các bị cáo Bùi Ngọc T, Nguyễn Tiến Q, Vũ Quý K, Trần Văn H2, Nguyễn Văn P1, Nguyễn Quốc H5, Tạ Thế T4, Bùi Ngọc K1, Lê Văn T7, Lê Minh H8 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND quận Hải An;
  • - VKSND TP. Hải Phòng;
  • - TAND TP. Hải Phòng;
  • - CQCSĐT- Công an quận Hải An;
  • - CQTHAHS- Công an quận Hải An;
  • - Phòng PV06- Công an TP. Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp TP. Hải Phòng;
  • - Chi cục THA DS quận Hải An;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Bích Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 88/2024/HSST ngày 23/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự (đánh bạc)

  • Số bản án: 88/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tiến Q cùng đồng bọn Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger