Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMĐộc lập – Tự do – Hạnh phúc
THÀNH PHỐ MỸ THO
TỈNH TIỀN GIANG

Bản án số: 88 /2024/HSST

Ngày: 22 - 7 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa : Ông Nguyễn Song Bình

Các hội thẩm nhân dân : 1/ Bà Lê Thị Thu Yến

2/ Ông Nguyễn Kim Huy Bằng

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Cường - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phước – Kiểm sát viên

Ngày 22 tháng 7 năm 2024, Tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 74/2024/HSST ngày 23 tháng 5 năm 20 24 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Hoàng N

  • - Nơi cư trú: ấp T, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang
  • - SỐ CMND/CCCD/Hộ chiếu: [...], cấp ngày 07/02/2022, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.
  • - Nghề nghiệp: Đi xà lang; trình độ học vấn: 9/12; Giới tính: nam
  • - Dân tộc: kinh. Tôn giáo: không. Quốc tịch: Việt Nam
  • - Con ông Nguyễn Văn H và bà Trần Thị T.
  • - Vợ: Nguyễn Thị Phương L, sinh năm 1988 (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2012.
  • - Tiền sự: không. Tiền án: không.
  • - Bị cáo bị tạm giam từ ngày 20/12/2023 đến nay (có mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Nguyễn Thị Phương Q, sinh năm: 2001 (vắng mặt).
    Địa chỉ: ấp P, xã B, huyện M, tỉnh Bến Tre.
  2. Trần Thị T, sinh năm: 1956 (có mặt).
    Địa chỉ: ấp T, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
  3. Trần Ngọc Ánh S, sinh năm: 1991 (vắng mặt).
    Địa chỉ: số A L, phường A, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

*Người làm chứng: Ngô Thị Mỹ H1, sinh năm 1953 (vắng mặt).

Địa chỉ: Số A L, phường E, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

2
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắc như sau:

Lúc 21 giờ 15 phút ngày 30/8/2023, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy phối hợp Công an P1, thành phố M, tỉnh Tiền Giang kiểm tra Nguyễn Hoàng N đang điều khiển xe mô tô loại SH Mode màu xanh, biển số 63B9-713.42 chở Nguyễn Thị Phương Q tại trước nhà không số thuộc Tổ G, khu phố H, Phường E, thành phố M (do Q và N thuê ở chung). Qua kiểm tra, dưới cổ xe treo 01 túi giấy màu đen, phía dưới loa có 01 gói nylon chứa 02 viên ma túy và 01 gói nylon chứa ma túy. Đồng thời vào bên trong nhà, kiểm tra trong phòng ngủ phát hiện trong hộc tủ nhựa có 01 gói nylon chứa nửa viên ma túy nên lập biên bản, tạm giữ vật chứng liên quan gồm:

  • - 01 (một) gói nylon màu trắng có viền xanh một đầu được hàn kín bên trong chứa 02 viên nén màu xanh hình tròn có ghi chữ A và 01 (một) gói nylon màu trắng có viền đỏ một đầu được hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng. Tất cả cho vào bì thư màu trắng niêm phong lại có các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Thị Phương Q, Nguyễn Hoàng N, Ngô Thị Mỹ H1, Nguyễn Gia Bảo  và dấu tròn màu đỏ ghi Công an phường P1, thành phố M, tỉnh Tiền Giang. Kí hiệu I.
  • - 01 (một) gói nylon màu trắng có viền xanh một đầu được hàn kín bên trong chứa nửa viên nén màu vàng. Tất cả cho vào bì thư màu trắng niêm phong lại có các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Thị Phương Q, Nguyễn Hoàng N, Ngô Thị Mỹ H1, Nguyễn Gia Bảo  và dấu tròn màu đỏ ghi Công an phường P1, thành phố M, tỉnh Tiền Giang, Kí hiệu II.
  • - 01 túi giấy màu đen có quai xách ghi chữ Minh H2.
  • - 01 loa nhạc mini màu đen có chữ i.value.
  • - Tiền Việt Nam mệnh giá 10.000 đồng.
  • - 01 đĩa sứ tròn màu trắng.
  • - 01 thẻ ATM ngân hàng S1 tên Nguyễn Thị Phương Q.
  • - 01 thẻ nhựa màu đen có chữ GUCCI.
  • - 01 xe mô tô SH Mode màu xanh, biển số 63B9-713.42.

Căn cứ bản kết luận định giám định số 161/KL-KTHS ngày 02/09/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận:

  • - Gói 1 (kí hiệu I): Mẫu 02 viên nén màu xanh và mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 1,6321 gam (trong đó: mẫu kí hiệu M1.1 có khối lượng 0,6603 gam, loại MDMA và mẫu kí hiệu M1.2 có khối lượng 0,9718 gam, loại Ketamine).
  • - Gói 2 (kí hiệu II): Mẫu một phần viên nén màu vàng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1844 gam, loại MDMA.

Quá trình điều tra Nguyễn Hoàng N khai: Khoảng 20 giờ ngày 28/8/2023, N và người bạn tên T1 (không rõ họ tên, địa chỉ) rủ hùn mỗi người 900.000 đồng, T1 điện thoại cho một thanh niên không rõ họ tên, địa chỉ đặt mua 1.800.000 đồng ma túy dạng khay và thuốc lắc, T1 kêu N qua ngã tư huyện C, tỉnh Bến Tre đứng đợi,

3
khoảng 05 phút sau thì có một thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) gọi điện thoại cho N đến giao ma túy 01 gói ma túy dạng khay và 02 viên thuốc lắc màu vàng và nhận tiền. Nhận ma túy xong N xóa số điện thoại rồi đem về phòng trọ không số thuộc Tổ G, khu phố H, Phường E, thành phố M do bạn gái tên Nguyễn Thị Phương Q thuê nhậu cùng T1, L và Q. Tại đây, N, T1, L, Q sử dụng ma túy dạng khay; đối với 02 viên ma túy thì N, T1 và bạn gái T1 mỗi người sử dụng nửa viên. Nhậu xong T1 và bạn gái đi về, Q dọn dẹp phía sau, còn lại nửa viên N đem cất trong hộc tủ nhựa trên đĩa cùng 02 thẻ nhựa, ống hút quấn tờ tiền Polyme 10.000 đồng. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, N chở Q ra đầu đường để xe rước Q đi núi C ở An Giang.

Buổi tối ngày 30/8/2023, N điều khiển xe mô tô chở Q đến bến xe H ở Phường E, thành phố M để Q đi lấy tiền. N và Q đợi khoảng 45 phút thì có một thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) đi taxi đến đưa Q một túi giấy, Q đưa N không kiểm tra túi giấy mà treo dưới cổ xe rồi điều khiển xe về. Khoảng 21 giờ 15 phút ngày 30/8/2023, khi về đến trước nhà trọ của Q thì bị Công an kiểm tra phát hiện bên trong túi giấy màu đen có cái loa mini, 01 gói nylon có viền màu xanh một đầu bên trong có 02 viên nén mùa xanh và 01 gói nylon có viền màu đỏ một đầu bên trong chứa tinh thể màu trắng, lúc này N và Q mới biết bên trong túi giấy có ma túy. N thừa nhận nửa viên ma túy thu giữ trong hộc tủ là của N cất giữ để sử dụng. Trong lúc N cất giấu ma túy vào trong hộc tủ thì Q không biết. Ngày 28/8/2023, khi hút ma túy dạng khây tại phòng trọ cùng với T1, L thì N không có rủ do Q tự hút ma túy.

Nguyễn Thị Phương Q trình bày: Do Trần Ngọc Ánh S (L) nợ tiền Q trước đó nên Q nhắn tin cho S đòi tiền, Sáng hẹn ngày 30/8/2023 sẽ đưa Q 3.000.000 đồng và sẵn trả cái loa mượn Q trước đó. Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 30/8/2023, có người thanh niên sử dụng số điện thoại 0586.185.xxx gọi cho Q hẹn đến nhà xe H3 thuộc Phường E, thành phố M đưa tiền. N điều khiển xe mô tô chở Q đến điểm hẹn và ngồi đợi, sau đó có một thanh niên chạy xe taxi màu đỏ đến đưa Q 200.000 đồng và 01 túi giấy bên trong có cái loa và nói gửi số tài khoản qua sẽ chuyển số tiền 2.800.000 đồng còn lại. Sau khi nhận, Q đưa N túi giấy treo dưới cổ xe rồi chạy về đến trước phòng trọ của Q thì Công an kiểm tra mới biết bên trong túi giấy có 02 gói ma túy. Q không biết ma túy này là của ai. Riêng nửa viên ma túy thu giữ trong hộc tủ N cất giữ lúc nào Q không biết.

Bản cáo trạng số 72/CT-VKSMT ngày 23 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Hoàng N về tội danh và khung hình phạt, nêu lên tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo là thành khẩn khai báo. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo N từ 1 năm tù đến 1 năm 3 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi của mình đúng như nội dung bản cáo trạng truy tố đối với bị cáo; bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

4
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố M, tỉnh Tiền Giang, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra bị cáo và những người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

[2] Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Hoàng N khai nhận hành vi của mình đúng như nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với kết luận giám định, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét; lời khai người làm chứng, vật chứng thu giữ và tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó đủ cơ sở kết luận vào lúc 21 giờ 15 phút ngày 30/8/2023, tại nhà không số thuộc Tổ G, khu phố H, Phường E, thành phố M, tỉnh Tiền Giang; Nguyễn Hoàng N tàng trữ trái phép 0,1844 gam ma túy, loại MDMA nhằm mục đích sử dụng; Vì vậy có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Hoàng N đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

[3] Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ ma túy là chất gây nghiện, người sử dụng ma túy rất khó từ bỏ, nếu sử dụng lâu dài sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe và tinh thần của người nghiện và ảnh hưởng xấu đến tình hình an toàn xã hội ở địa phương, về ý thức chủ quan bị cáo nhận thức được rằng hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, gây tác hại xấu đến xã hội nhưng bị cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, vì vậy cần xử lý bị cáo mức án nghiêm tương xứng với tích chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời đấu tranh phòng ngừa tội phạm cho xã hội.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên Hội đồng xét xử có xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

[6] Đối với người thanh niên lái taxi đưa túi giấy bên trong có ma túy cho Q, do Q không xác định được họ, địa chỉ cụ thể và qua tra cứu số điện thoại 0586.185.xxx do chị Nguyễn Thanh T2, sinh năm 1986, ngụ: Khu N, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ đứng tên thuê bao. Qua xác minh, T2 không có mặt tại địa phương nên

5
Cơ quan điều tra chưa triệu tập ghi lời khai được nên tiếp tục điều tra làm rõ, nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.

Đối với người tên T1 và L, N khai T1 hùn tiền với N để mua ma túy sử dụng nhưng N, Q không biết rõ họ tên, địa chỉ nên Cơ quan điều tra chưa triệu tập ghi lời khai được để làm rõ hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” nên tiếp tục điều tra làm rõ, nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.

Đối với người thanh niên bán ma túy cho N, N không biết rõ họ tên, địa chỉ và đã xóa số sau khi nhận ma túy nên Cơ quan điều tra chưa triệu tập ghi lời khai được nên tiếp tục điều tra làm rõ, nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.

Đối với 02 viên nén màu xanh và mẫu tinh thể màu trắng được thu giữ treo dưới cổ xe, qua giám định là ma túy có tổng khối lượng 1,6321 gam (trong đó: mẫu kí hiệu M1.1 có khối lượng 0,6603 gam, loại MDMA và mẫu kí hiệu M1.2 có khối lượng 0,9718 gam, loại Ketamine). Hiện N, Q không thừa nhận, riêng Trần Ngọc Ánh S chỉ thừa nhận thuê người lái taxi đưa Q 200.000 đồng, không thừa nhận đưa túi giấy bên trong có ma túy cho Q. Qua giám định đường vân không đủ dấu vết truy nguyên nên chưa đủ căn cứ để xử lý. Do đó, cơ quan điều tra tiếp tục điều tra để làm rõ xử lý sau

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với số ma túy thu giữ của bị cáo là vật cấm lưu hành, nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với xe mô tô SH Mode màu xanh, biển số 63B9-713.42 do bà Trần Thị T (mẹ ruột N) đứng tên sở hữu. Khi N sử dụng xe đi mua ma túy bà T không biết nên Cơ quan điều tra trả lại xe cho bà T là có căn cứ.

Đối 01 túi giấy màu đen có quai xách ghi chữ Minh H2, 01 đĩa sứ tròn màu trắng., 01 thẻ nhựa màu đen có chữ GUCCI, 01 loa nhạc mini màu đen có chữ i.value không có giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước: Tiền Việt Nam mệnh giá 10.000 đồng.

Đối với 01 thẻ ATM ngân hàng S1 tên Nguyễn Thị Phương Q là tài sản của chị Q, nên trả lại cho chị Nguyễn Thị Phương Q .

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật

[9] Xét ý kiến và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp pháp luật nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy"

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hoàng N 01(một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam là ngày 20/12/2023.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự.

6
Ghi nhận cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố M trao trả cho bà Trần Thị T 01 xe mô tô SH Mode màu xanh, biển số 63B9-713.42

Tịch thu tiêu huỷ:

  • 02 (hai) bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số 161/1 và 161/2 ghi ngày 02/9/2023 có các chữ ký in họ tên : Huỳnh Tấn L1 (Giám định viên), Nguyễn Quốc P (Trợ lý giám định viên), chữ ký ghi họ tên: Đoàn Minh K (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: Phòng K1 - Công an tỉnh T.
  • - 01 túi giấy màu đen có quai xách ghi chữ Minh H2 đã qua sử dụng.
  • - 01 đĩa sứ tròn màu trắng.
  • - 01 thẻ nhựa màu đen có chữ GUCCI.
  • - 01 Loa nhạc mini màu đen có chữ I.Value đã qua sử dụng.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước: Tiền Việt Nam mệnh giá 10.000 đồng (được niêm phong ký hiệu NS4, mã số NS4.2189312)

Trả cho chị Nguyễn Thị Phương Q: 01 thẻ ATM của Ngân hàng S1 tên Nguyễn Thị Phương Q.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/6/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố M và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang).

3. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 04/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tiền Giang.
  • - VKSND tỉnh TG.
  • - Sở Tư pháp tỉnh TG.
  • - VKSND Tp Mỹ Tho.
  • - Chi cục THA dân sự Tp Mỹ Tho.
  • - Bị cáo.
  • - Người tham gia tố tụng.
  • - Lưu: HS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM.

Thẩm phán -Chủ toạ phiên tòa

Nguyễn Song Bình

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 88/2024/HSST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 88/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hoàng N - Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger