|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ TỈNH QUẢNG NINH Bản án số: 88/2024/HS-ST Ngày: 22/7/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Gái
Các Hội thẩm nhân dân: bà Đinh Thị Khang và bà Nguyễn Thị Hiền
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: ông Phạm Tiến Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả tham gia phiên tòa: ông Khúc Văn Lâm – Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 79/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2024/QĐXX - HS ngày 09 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Văn M; Tên gọi khác: Không;
Sinh ngày: 30/4/1996 tại huyện T, tỉnh Thái Bình;
Nơi cư trú: Tổ I, khu G, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh;
Trình độ văn hóa: Lớp 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông: Phạm Thế T và con bà Phạm Thị H; Vợ con: Chưa có; Tiền án tiền sự: Chưa.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 18/3/2024, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C; có mặt.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: anh Phạm Văn C, sinh năm: 1992; nơi cư trú: Tổ 1, khu G, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: Lái xe; có mặt.
* Người làm chứng:
1. Ông Lê Văn S, sinh năm: 1958, nơi cư trú: Tổ D, khu E, phường C, thành phố C, Quảng Ninh; vắng mặt.
2. Ông Lê Văn K, sinh năm: 1958; nơi cư trú: Tổ C, khu B, phường C, thành phố C, Quảng Ninh; vắng mặt.
3. Vũ Hùng M1, sinh năm 2007; Người đại diện hợp pháp: ông Vũ Tiến D; Cùng nơi cư trú: Tổ F, khu D, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 21 giờ 30 phút, ngày 18/3/2024, tại tổ D, khu H, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Công an thành phố C bắt quả tang Phạm Văn M có hành vi bán trái phép 1,174 gam ma tuý, loại cần sa cho Vũ Hùng M1 để M1 sử dụng.
Vật chứng thu giữ gồm: T1 tại tay phải của M 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng là tiền bán ma túy cho M1; thu trong túi sách màu đen đeo trên người M 05 túi nilon chứa ma túy cần sa; ngoài ra còn thu 01 Điện thoại nhãn hiệu Iphone màu trắng số sim 0794754095; 01 Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter BKS 14S1-06038.
Thu trên tay phải của M1 01 túi nilon bên trong có 03 túi nilon đều có chứa ma tuý vừa mua của M; 01 Điện thoại di động Iphone vỏ màu đen, lắp sim số 0355610907.
Bản giám định số 392/KL-KTHS ngày 25/3/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q kết luận: Mẫu vật thu giữ của Vũ Hùng M1 là ma tuý; loại Cần sa; tổng khối lượng từ M1 đến M3 là 1,174 gam (một phảy một bảy bốn gam). Mẫu vật thu giữ của Phạm Văn M là ma tuý, loại cần sa, tổng khối lượng từ M4 đến M8 là 1,808 gam (một phảy tám không tám gam); hoàn lại 2,44 gam.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Phạm Văn M đều khai nhận: sử dụng ma túy cần sa từ cuối năm 2021, do biết nhiều người có nhu cầu sử dụng ma tuý cần sa nên khoảng một tuần trước khi bị bắt giữ bị cáo lên mạng xã hội Telegram đặt mua của một người không quen biết có tên tài khoản là “Hồng Chí C1” 15 túi nilon chứa cần sa với giá 1.000.000 đồng về để sử dụng và bán kiếm lời. Khoảng 20 giờ 20 phút ngày 18/3/2024 bị cáo đang ở nhà thì nhận được tin nhắn của Vũ Hùng M1 qua ứng dụng M2 hỏi mua 500.000 đồng ma tuý cần sa, bị cáo đồng ý và đi xe máy đến khu vực đèn đỏ đường Thanh niên, thuộc phường C, thành phố C để giao dịch. Khi gặp bị cáo M1 đưa cho bị cáo 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, bị cáo đưa cho M1 01 túi nilon, bên trong có 03 túi cần sa, khi hai bên vừa giao dịch mua bán ma túy xong thì bị Công an bắt quả tang.
Công an còn thu của bị cáo 05 túi nilon chứa ma túy cần sa bị cáo cất trong túi xách để sử dụng; 01 Điện thoại nhãn hiệu Iphone màu trắng lắp số sim 0794754095 bị cáo sử dụng liên lạc mua, bán ma túy; 01 Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter BKS 14S1-06038 bị cáo mượn của anh Phạm Văn C là đi có việc riêng.
Người có quyền và nghĩa vụ liên quan anh Phạm Văn Công k nhận là anh trai của bị cáo Phạm Văn M, ngày 18/3/2024 anh cho M mượn xe mô tô BKS 14S1-06038 đi có việc riêng, anh không biết M đi xe mô tô có liên quan đến việc bán ma túy, anh đã nhận lại xe mô tô và không có ý kiến gì khác.
Người làm chứng Vũ Hùng M1 khai nhận sử dụng ma túy cần sa từ năm 2021; khoảng 20 giờ 20 phút ngày 18/3/2024 tôi đi chơi ở khu đường T thì có nhu cầu sử dụng ma tuý cần sa nên dùng tài khoản Messenger tên “Triệu Tử M3” nhắn tin vào ứng dụng Messenger của M là ”Tony Tư tế” để hỏi mua 500.000 đồng ma tuý cần sa, M đồng ý hẹn tôi đến khu vực ngã tư Đ, phường C để giao dịch, tôi một mình đi bộ đến điểm hẹn thì thấy M ngồi trên xe máy chờ sẵn; gặp nhau tôi đưa cho M một tờ tiền 500.000 đồng, M cầm tiền và đưa tôi 01 túi nilon trong có 03 túi cần sa, khi hai bên vừa mua bán xong thì Công an bắt quả tang.
Các Ông Lê Văn S, Lê Văn K đều khai nhận: khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 18/3/2024 tại khu vực ngã tư đèn đỏ đường Thanh niên thấy Công an đang kiểm tra bắt giữ hai người thanh niên. Người bị bắt khai nhận tên Phạm Văn M, sinh năm 1996, cư trú tại tổ I, khu G, phường H, thành phố H và Vũ Hùng M1, sinh năm 2007, cư trú tại tổ F, khu D, phường C. Khi bắt giữ Công an thu trên tay phải của M1 01 túi nion, trong có 03 túi nilon có chứa thực vật khô, M1 khai nhận là ma tuý cần sa vừa mua của M để sử dụng; thu trong tay trái của M1 01 điện thoại di động Iphone màu đen. Công an thu tại tay phải của M một tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, M khai là tiền bán 03 túi ma tuý cho M1; Công an thu trong túi sách đeo trên người của M 05 túi nilon đều chất thực vật khô, M khai nhận là túi ma tuý Cần sa, ngoài ra Công an còn thu giữ của M 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu trắng lắp số sim 0794754095 và 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter BKS 14S1-06038.
Bản Cáo trạng số: 1224/CT-VKSCP ngày 01/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố bị cáo Phạm Văn M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Phạm Văn M từ 24 đến 27 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 18/3/2024.
Đề nghị áp dụng: khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 2,44 gam ma túy; loại cần sa do cơ quan giám định hoàn lại trong niêm phong số 392/KL-KTHS là vật cấm lưu hành và 01 Sim điện thoại thu giữ của bị cáo M do không còn giá trị sử dụng.
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 Điện thoại Iphone thu giữ của bị cáo M do có liên quan đến việc phạm pháp và số tiền 500.000 đồng bị cáo bán ma túy cho M1. Quá trình điều tra đã trả lại anh Phạm Văn C 01 xe mô tô BKS 14S1- 06038, trả lại cho Vũ Hùng M1 01 Điện thoại Iphone màu trắng nên không đề cập.
Tại phiên tòa bị cáo Phạm Văn M khai nhận tội, bị cáo không tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Phạm Văn M đều khai nhận hồi 21 giờ 30 phút ngày 18/3/2024 tại tổ D, khu H, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, bị cáo có hành vi bán trái phép 1,174 gam (một phảy một bảy bốn gam) ma túy, loại cần sa cho Vũ Hùng M1 để M1 sử dụng thì bị Công an bắt giữ. Ngoài ra Phạm Văn M còn tàng trữ trái phép 1,808 gam ma túy, loại cần sa với mục đích để sử dụng.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với kết luận giám định số: 392KL-KTHS của Phòng K1 Công an tỉnh Q; lời khai người làm chứng Vũ Hùng M1, các ông Lê Văn S, Lê Văn K, lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phạm Văn C, Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 21 giờ 45 phút ngày 18/3/2024 đối với bị cáo, phù hợp với biên bản kiểm tra điện thoại thu giữ, phù hợp với vật chứng cùng nhiều tài liệu chứng cứ khác.
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa có đủ căn cứ kết luận: hồi 21 giờ 30 phút ngày 18/3/2024 tại tổ D, khu H, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, bị cáo Phạm Văn M có hành vi bán trái phép 1,174 gam (một phảy một bảy bốn gam) ma túy, loại cần sa cho Vũ Hùng M1 để M1 sử dụng thì bị Công an phát hiện. Ngoài ra Phạm Văn M còn tàng trữ trái phép 1,808 gam ma túy, loại cần sa, mục đích để sử dụng. Như vậy có đủ cơ sở kết luận bị cáo Phạm Văn M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Việc truy tố đối với bị cáo Phạm Văn M như nội dung bản Cáo trạng số 1224/CT-VKSCP ngày 01/7/2024 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người đúng tội.
Hành vi của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội và xâm hại đến trật tự quản lý của nhà nước về chất ma túy gây mất trật tự tại địa phương, bị cáo biết được tác hại của ma túy song do thiếu tu dưỡng, rèn luyện, với mục đích bán trái phép chất ma túy để kiếm lời nên đã phạm tội, khi bị cáo bán trái phép chất ma túy cho Vũ Hùng M1 thì bị Cơ quan Công an phát hiện bắt giữ, hành vi của bị cáo thực hiện tiếp tay cho các đối tượng bán trái phép chất ma túy, các đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy, là cầu nối làm phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác nên cần xử lý nghiêm.
Song cũng cần xét: bị cáo chưa có tiền án tiền sự, tại phiên tòa cũng như quá trình điều tra bị cáo khai nhận thành khẩn hành vi phạm tội nên cần xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[3] Hình phạt bổ sung: bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập ổn định nên không phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
[4] Về vật chứng: gồm 2,44 gam ma túy, loại cần sa do cơ quan giám định hoàn lại là vật cấm lưu hành; 01 Sim điện thoại thu giữ của bị cáo không còn giá trị sử dụng nên đều tịch thu tiêu hủy theo quy định.
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại Iphone thu giữ của bị cáo do có liên quan đến việc phạm pháp và số tiền 500.000 đồng bị cáo bán ma túy cho M1;
Quá trình điều tra đã trả lại anh Phạm Văn C 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter BKS 14S1-06038, trả lại cho Vũ Hùng M1 01 điện thoại Iphone màu trắng nên không đề cập.
[5] Bị cáo khai nhận mua ma túy của người không rõ lai lịch, địa chỉ, ma túy được chuyển đến qua xe khách, bị cáo không biết xe khách của hãng xe nào, không biết người giao ma túy cho bị cáo nên không có cơ sở để điều tra làm rõ.
Đối với Vũ Hùng M1 có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và hành vi tàng trữ 1,808 gam ma túy cần sa của Phạm Văn M đều chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, Công an thành phố C đã quyết định xử phạt hành chính nên không đề cập.
[6] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định.
[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn M phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Phạm Văn M 27 (hai bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 18/3/2024.
Căn cứ: khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên: Tịch thu tiêu hủy 2,44 gam ma túy, loại cần sa trong niêm phong số 392/KL-KTHS của phòng K1 Công an tỉnh Q và 01 Sim điện thoại (Sim điện thoại thu giữ của Phạm Văn M).
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) theo biên bản bàn giao tài sản số 41/2024/BBBG-CQCSĐT ngày 16/5/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố C với Kho bạc Nhà nước C2 và 01 Điện thoại nhãn hiệu Iphone, màu trắng (điện thoại thu giữ của Phạm Văn M) điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng.
Vật chứng được thi hành theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 139/BB-THA ngày 16/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Phạm Văn M phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Gái |
Bản án số 88/2024/HS-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH về hình sự sơ thẩm - mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 88/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm - Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn M phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”
