Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SƠN DƯƠNG

TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 88/2024/HS-ST

Ngày: 21/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Minh Khánh.

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Minh Hùng.
  2. Ông Nguyễn Danh Long.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sơn Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương tham gia phiên toà: Ông Bàng Đức Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 21/8/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 78/2024/TLST- HS ngày 04/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2024/QĐXXST-HS, ngày 07/8/2024, đối với bị cáo:

Hà Hoàng T, sinh ngày 13/01/2000 tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang.

Nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Công T1 (đã chết) và bà Hà Thị T2, sinh năm 1961; vợ, con; Chưa có; anh chị em ruột: có 02 người, bị cáo là con thứ hai.

Tiền án: Bản án số 57/HSST ngày 18/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương xử phạt 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt vào ngày 03/01/2023.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 05/5/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện S. (Có mặt tại phiên toà)

- Người bị hại:

  1. Hoàng Văn Đ, sinh năm 1996. (Vắng mặt)
  2. Đàm Văn S, sinh năm 1993. (Có mặt tại phiên tòa)

Cùng TT: Thôn Q - Đ - S - Tuyên Quang.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Hoàng Thanh T3, sinh năm 1997; trú tại: Thôn Q, xã Đ, huyện S, tinh T. (Vắng mặt)

1

  1. Trần Viết N, sinh năm 1997; trú tại: Thôn K, xã H, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 45 phút, ngày 01/9/2023 Hà Hoàng T đến quán ăn tại quán của anh Đặng Đình M thuộc thôn G, xã H, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Đến nơi, T gặp Hoàng Thanh T3, Hoàng Văn Đ, Đàm Văn S và Hoàng Thị Thanh V, Trần Viết N đang ăn đêm tại quán. Do T có quen biết với N nên được cả nhóm của T3 mời ngồi uống rượu cùng. Trong quá trình ngồi uống rượu giữa T và T3 xảy ra mâu thuẫn dẫn đến cãi, chửi nhau, khi đó T ra ngoài gọi điện thoại cho Lương Minh T4, sinh năm 1990, trú tại thôn G, xã H, huyện S, tỉnh Tuyên Quang đến để đánh nhóm của T3.

Khoảng 02 giờ ngày 02/9/2023, Lương Minh T4 đi xe mô tô (chưa xác định được nhãn hiệu, biển số) đến quán, T4 dùng tay phải cầm một chiếc ghế ở quán và đi đến vị trí nhóm T3 đang ngồi, quát “Thằng nào đánh em tao” ý T4 hỏi ai đánh T, rồi T4 cầm ghế nhựa ném về phía T3 đang ngồi, thấy thế T3 giơ tay phải đỡ nên ghế trúng vào tay phải của T3. Sau đó nhóm của T3 can ngăn và xin lỗi T4 thì T4 bỏ đi ra ngoài.

Khi T4 đi ra đường thì giữa hai bên lại xảy ra mâu thuẫn, cãi chửi nhau. T3 lấy 01 chiếc ghế nhựa trong quán ném vào người T nhưng không trúng, sau khi bị ném T cầm một đoạn cây mía để ở trong quán vụt về phía T3 nhưng không trúng, N chạy lại vị trí để mô-tơ quay mía trong quán cầm một đoạn gậy bằng kim loại hình trụ tròn dài 102cm dơ lên chỉ vào mặt của T, không cho T đánh T3. Sau đó Đ dùng hai tay cầm đoạn gậy kim loại trên từ N và vụt ngang theo hướng từ phải sang trái về phía người Thường nhưng T cầm đoạn mía lên đỡ nên gậy kim loại trúng vào cây mía, lúc này T bỏ chạy về hướng xã V, Đ cầm theo gậy kim loại đuổi theo T thì T4 cầm 01 (một) con dao bầu dài khoảng 20cm, có lưỡi dao bằng kim loại và mũi dao nhọn chạy đến phía Đoàn, Đ không đuổi Thường nữa mà quay lại cầm gậy kim loại vụt về phía T4, thấy thế T4 dùng dao chém 02 nhát trúng vào người Đ làm Đoàn ngã xuống nền đường. Sử thấy Đ bị chém nên đi đến để can ngăn T4, nhưng bị T4 dùng dao chém 02 nhát (trong đó: 01 nhát trúng vào bả vai trái, 01 nhát vào cổ tay trái), bị chém nên S bỏ chạy, lúc này T4 quay lại vị trí Đ đang nằm ngã dưới lòng đường nên dùng dao chém 02 nhát trúng vào phần đầu của Đ. Sau khi thấy Đ nằm trên nền đường, T4 và T quay lại quán lấy xe mô tô, T đi về còn T4 điều khiển xe mô tô về hướng Sử đang chạy theo hướng đi xã V, đến khu vực cách nơi chém Đoàn khoảng 200m, T4 nhìn thấy S, T4 đuổi theo S, khi đuổi kịp T4 tiếp tục dùng dao chém về phía Sử thêm 01 nhát trúng vào cẳng tay trái rồi T4 đi về hướng đi thôn K, xã H. Khi qua quán ăn đêm thấy Đ đang đứng ở quán nên T4 đã dừng xe lại dùng dao chém thêm 01 phát nữa trúng người của Đ. Sau khi chém Đoàn xong, T4 rời khỏi nơi xảy ra vụ việc. Đoàn và S được người nhà đưa đến cấp cứu và điều trị tại Phòng khám Đ1.

2

+ Tại Kết luận giám định tốn thương cơ thể trên người sống số: 216/2023/KLTTCT-TTPY ngày 15/9/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T, kết luận:

  • Vết thương vùng trán đỉnh kích thước như mô tả sẽ để lại sẹo tương ứng 02%;
  • Vết thương vùng đỉnh chẩm bên trái kích thước như mô tả sẽ để lại sẹo tương ứng 02%;
  • Vết thương vùng bả vai trái kích thước như mô tả sẽ để lại sẹo tương ứng 02%;
  • Vết thương vùng bả vai phải kích thước như mô tả sẽ để lại sẹo tương ứng 03%;
  • Mẻ bản ngoài xương sọ 05%.

Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăn tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y. Tỷ lệ phần trăm tổn thương trên cơ thể của Hoàng Văn Đ tại thời điểm giám định là: 13% (Mười ba phần trăm) theo phương pháp cộng tại Thông tư.

Cơ chế, vật gây thương tích: Các vết thương như trên do vật sắc tác động trực tiếp gây nên.

+ Tại Kết luận giám định tốn thương cơ thể trên người sống số: 217/2023/KLTTCT-TTPY ngày 15/9/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T, kết luận:

  • Vết thương phần mềm vai trái kích thước như mô tả sẽ để lại sẹo tương ứng 1%;
  • Vết thương phần mềm cổ tay trái kích thước như mô tả sẽ để lại sẹo tương ứng 1%;
  • Vết thương rách da cẳng tay trái kích thước như mô tả sẽ để lại sẹo tương ứng 1%;
  • Các vết xây sát da nông vùng ngực, lưng, mạn sườn trái và gối phải như mô tả khỏi sẽ không để lại sẹo: Không có tỷ lệ phần trăm.

Căn cứ Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăn tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y. Tỷ lệ phần trăm tổn thương trên cơ thể của Đàm Văn S tại thời điểm giám định là: 03% (Ba phần trăm).

Các vết thương vai trái; cổ tay trái; cẳng tay trái như trên do vật sắc tác động trực tiếp gây nên.

Về vật chứng: Cơ quan CSĐT Công an huyện S đã tạm giữ 01 (một) ống kim loại có hình trụ tròn, tại một đầu có gắn một miếng kim loại nhỏ, ống kim loại có đặc điểm: dài 102cm, hai đầu bị biến dạng hơi dẹt có đường kính lần lượt là: 3,5cm, miếng kim loại gắn ở một đầu có kích thước 05cm; 01 (một) đoạn cây mía hơi cong, còn tươi có chiều dài: 60cm, đường kính một đầu là 2,5cm, có khối lượng: 400 gam, được niêm phong theo đúng quy định; 01 (một) mảnh gạc y tế có thấm chất màu nâu đỏ được thu tại vị trí số 01 (một) tại hiện trường cho vào trong phong bì giấy được niêm phong theo đúng quy định; 01 (một) mảnh gạc y tế có thấm chất màu nâu đỏ được thu tại vị trí số 03.

3

Về trách nhiệm dân sự: Hoàng Văn ĐĐàm Văn S không yêu cầu Hà Hoàng T phải bồi thường dân sự.

Cáo trạng số 81/CT-VKSSD ngày 04/72024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương đã truy tố Hà Hoàng T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 BLHS) Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Tuyên bố: Bị cáo Hà H Thường phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Về hình phạt: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 BLHS); điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; đoạn 1 điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt: Bị cáo Hà Hoàng T từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù. Hạn tù của bị cáo tính từ ngày bị bắt tạm giam (05/5/2024).
  • Về trách nhiệm dân sự: Anh Hoàng Văn Đ, Đàm Văn S không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét.
  • Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) ống kim loại có hình trụ tròn, tại một đầu có gắn một miếng kim loại nhỏ, ống kim loại có đặc điểm: dài 102cm, hai đầu bị biến dạng hơi dẹt có đường kính lần lượt là: 3,5cm, miếng kim loại gắn ở một đầu có kích thước 05cm; 01 (một) đoạn cây mía hơi cong, có chiều dài: 60cm, đường kính một đầu là 2,5cm, có trọng lượng: 400 gam; 01 (một) mảnh gạc y tế có thấm chất màu nâu đỏ được thu tại vị trí số 01 (một) tại hiện trường cho vào trong phong bì; 01 (một) mảnh gạc y tế có thấm chất màu nâu đỏ.
  • Về án phí, quyền kháng cáo: Buộc bị cáo phải chịu tiền án phí và tuyên quyền kháng cáo của bị cáo, bị hại theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, bị hại Sử không có ý kiến tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ mức án cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về nội dung vụ án: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa Hà Hoàng T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng mình bằng: Biên bản khám nghiệm hiện trường; Kết luận giám định thương tích; Kết luận giám định video thu giữ tại hiện trường; vật chứng thu giữ; lời khai bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 02 giờ ngày 02/9/2023 tại thôn G, xã H, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Hà Hoàng T đã xảy ra mâu thuẫn cá nhân với nhóm của Hà Thanh T5, Hoàng Văn ĐĐàm Văn S, để giải quyết mâu thuẫn, T đã gọi điện thoại cho Lương Minh T4, sinh năm 1990, trú tại thôn G, xã H, huyện S, tỉnh Tuyên Quang đến để nhằm mục đích đánh nhóm của T5. Sau đó

4

Lương Minh T4 thực hiện hành vi dùng 01 con dao bầu dài khoảng 20cm, có lưỡi dao bằng kim loại và mũi dao nhọn (là hung khí nguy hiểm) chém nhiều nhát trúng vào cơ thể của Hoàng Văn Đ (vùng trán đỉnh phải; vùng đỉnh chẩm bên trái; vùng bả vai trái và vùng bả vai phải) và dùng dao chém nhiều phát trúng vào cơ thể của Đàm Văn S (Mỏm vai trái; cổ tay trái và căng tay trái). Hậu quả Hoàng Văn Đ bị tổn hại 13% sức khỏe; Đàm Văn S bị tổn hại 03% sức khỏe.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương truy tố Hà Hoàng T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134) Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[2] Về việc xem xét hành vi của bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, làm mất trật tự trị an tại địa phương, trực tiếp xâm hại đến quyền được bảo hộ về sức khoẻ của con người. Bị cáo không phải là người trực tiếp thực hiện hành vi gây thương tích cho anh ĐS, nhưng bị cáo là người gọi Lương Minh T4 đến gây thương tích cho các bị hại. Hành vi của Lương Minh T4 là hung hãn (có tính chất côn đồ) thể hiện sự coi thường pháp luật và sức khỏe của người khác và dùng hung khi nguy hiểm. Do đó Hà Hoàng T phải chịu trách nhiệm với vai trò đồng phạm với Lương Minh T4. Vì vậy cần phải có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục bị cáo, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.

[3] Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và đường lối xử lý đối với bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng là tái phạm quy định tại đoạn 1, điểm h, khoản 1, Điều 52 BLHS.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt cần áp dụng cho bị cáo để có mức án phù hợp.

Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã được phân tích ở trên, Hội đồng xét xử thấy: Đề nghị của Viện kiểm sát như vậy là phù hợp, cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung nên chấp nhận.

[4] Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ:

  • 01 (một) ống kim loại có hình trụ tròn, tại một đầu có gắn một miếng kim loại nhỏ, ống kim loại có đặc điểm: dài 102cm, hai đầu bị biến dạng hơi dẹt có đường kính lần lượt là: 3,5cm, miếng kim loại gắn ở một đầu có kích thước 05cm;
  • 01 (một) đoạn cây mía hơi cong, có chiều dài: 60cm, đường kính một đầu là 2,5cm, có trọng lượng: 400 gam, được niêm phong theo đúng quy định;
  • 01 (một) mảnh gạc y tế có thấm chất màu nâu đỏ được thu tại vị trí số 01 (một) tại hiện trường cho vào trong phong bì giấy được niêm phong theo đúng quy định;
  • 01 (một) mảnh gạc y tế có thấm chất màu nâu đỏ được thu tại vị trí số 03.

5

Không còn giá trị, nên cần tịch thu tiêu hủy.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại Hoàng Văn ĐĐàm Văn S không yêu cầu Hà Hoàng T phải bồi thường dân sự.

Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Các vấn đề liên quan:

Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, Lương Minh T4 đã bỏ trốn khỏi địa phương, ngày 15/6/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S ra Quyết định truy nã số: 999/QĐ-ĐTTH đối với Lương Minh T4, ngày 16/6/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S ra Quyết định tách vụ án, Tạm đình chỉ điều tra vụ án, bị can đối với Lương Minh T4. Khi nào bắt được sẽ xử lý sau.

Đối với hành vi của Lương Minh T4Hà Hoàng T diễn ra vào ban đêm, nơi xảy ra vụ án vắng vẻ không có người dân qua lại, không gây ảnh hưởng đến tình hình anh ninh trật tự trên địa bàn. Vì vậy hành vi của T4T không đủ yếu tố cấu thành tội phạm Gây rối trật tự công cộng quy định tại Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Trong quá trình xảy ra sự việc, Hoàng Văn Đ đã thực hiện hành vi cầm gậy kim loại đánh gây thương tích cho Lương Minh T4, tuy nhiêm do chưa có căn cứ xác định mức độ tổn thương cơ thể của Lương Minh T4 nên Cơ quan điều tra chưa xem xét xử lý đối với Đ, khi có căn cứ xác định mức độ tổn thương cơ thể do hành vi của Đ gây ra sẽ xem xét, xử lý theo quy định.

Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện S, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[8] Về án phí và quyền kháng cáo bản án:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự); điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; đoạn 1 điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ: Điều 47 Bộ luật Hình sự; Các Điều 106, 136, 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ: Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên bố: Bị cáo Hà H Thường phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

6

1. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Hà Hoàng T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Hạn tù của bị cáo tính từ ngày bị bắt tạm giam (05/5/2024).

2. Về vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) ống kim loại có hình trụ tròn, tại một đầu có gắn một miếng kim loại nhỏ, ống kim loại có đặc điểm: dài 102cm, hai đầu bị biến dạng hơi dẹt có đường kính lần lượt là: 3,5cm, miếng kim loại gắn ở một đầu có kích thước 05cm; 01 (một) đoạn cây mía hơi cong, có chiều dài: 60cm, đường kính một đầu là 2,5cm, có khối lượng: 400 gam; 02 (hai) mảnh gạc y tế có thấm chất màu nâu đỏ.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/7/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương).

3. Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, anh S được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Minh Hùng - Nguyễn Danh Long

Hoàng Thị Minh Khánh

7

Nơi nhận:

  • TAND tỉnh Tuyên Quang;
  • VKSND tỉnh Tuyên Quang;
  • Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang;
  • VKSND huyện Sơn Dương;
  • Công an huyện Sơn Dương;
  • Chi cục T.H.A dân sự huyện SD;
  • UBND xã Trường Sinh;
  • Bị cáo, bị hại;
  • Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Minh Khánh

8

9

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 88/2024/HS-ST ngày 21/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG về hình sự - cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 88/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: H.H.T cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger