Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 88/2023/DS-ST

Ngày 21-8-2023

V/v tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuyên.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Tú Nhi;

Bà Hoàng Lệ Chi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy An - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 254/2023/TLST-DS ngày 13 tháng 6 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 118/2023/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 7 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số: 116/2023/QĐST-DS ngày 04 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phạm Thủy T, sinh năm 1985. Địa chỉ: số I, đường N, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Địa chỉ liên hệ: số D, đường số I, khu trung tâm hành chính thành phố D, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện theo ủy quyền:

  1. Bà Nguyễn Thị Thùy L, sinh năm 1996. Thường trú: thôn L, xã M, huyện T, tỉnh Quảng Bình (Giấy ủy quyền ngày 31/5/2023), có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
  2. Ông Mai Trung T1, sinh năm 1999. Thường trú: thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Quảng Bình (Giấy ủy quyền ngày 31/5/2023), có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Bà Lê Thị B, sinh năm 1979. Thường trú: số B, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương, vắng mặt không rõ lý do.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Quốc K. Địa chỉ: số B, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương, vắng mặt không rõ lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 31 tháng 5 năm 2023, lời khai trong quá trình tổ tụng, nguyên đơn bà Phạm Thủy T và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Trong quá trình xây dựng trường mầm non H, bà B có mua của bà T một số sản phẩm là vật liệu xây dựng. Sau đó bà B tiếp tục đặt mua hàng thêm 6 đợt khác nhau, từ ngày 24/8/2022 đến ngày 4/10/2022 tổng số tiền mua hàng là 59.582.000 đồng được thể hiện qua giấy xác nhận công nợ ngày 06/10/2022. Bà B cam kết sẽ thanh toán đầy đủ khi công trình hoàn thành. Theo đơn đặt hàng của bà B thì bà T đã giao đầy đủ số lượng hàng hóa đến tại trường mầm non H có đầy đủ hóa đơn thanh toán kèm theo, được phía bà B ký đã nhận hàng nhưng chưa thanh toán. Một thời gian sau khi thấy trường mầm non H đã hoàn thành và đưa vào hoạt động. Bà T có chủ động liên hệ yêu cầu bà B thanh toán tiền nhưng bà B hứa hẹn lần này đến lần khác. Đến ngày 16/3/2023 bà B và chồng là ông Lê Quốc K có ký “giấy cam kết trả nợ tiền vật tư điện nước” cho cửa hàng của bà T. Cam kết đến ngày 24/3/2023 sẽ thanh toán hết số tiền trên cho cửa hàng của bà T. Nhưng bà B chỉ mới thanh toán cho bà T được số tiền 10.000.000 đồng.

Sau đó bà T tiếp tục liên hệ yêu cầu bà B trả số tiền còn lại nhưng bà B luôn cố tình trốn tránh, không chịu trả số tiền còn lại cho bà T. Hành vi của bà B đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà T.

Nay, bà T đề nghị Tòa án buộc bà Lê Thị B phải trả cho bà T tổng số tiền 51.606.000 đồng, trong đó 49.582.000 đồng tiền hàng chưa trả và 2.024.000 đồng tiền lãi chậm trả với mức lãi suất là 10%/năm tính từ ngày 25/3/2023 đến ngày 21/8/2023”.

Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án đã triệu tập bị đơn bà Lê Thị B và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Quốc K nhưng bà B và ông K vắng mặt không rõ lý do, không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng, đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định; không kiến nghị khắc phục, bổ sung các thủ tục tố tụng. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được Hội đồng xét xử làm rõ tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Bị đơn bà Lê Thị B và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Quốc K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.

[2] Bị đơn bà Lê Thị B và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Quốc K vắng mặt tất cả các lần Tòa án triệu tập là tự từ bỏ quyền, nghĩa vụ chứng minh của mình theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn giao nộp và tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

[3] Về quan hệ mua bán hàng hóa: Vào ngày 16/3/2023, bà Lê Thị B và ông Lê Quốc K có ký xác nhận vào “Giấy cam kết trả nợ tiền vật tư điện nước” với nội dung bà Lê Thị B có nợ của bà Phạm Thủy T số tiền 59.582.000 đồng theo từng ngày lấy hàng như sau: ngày 24/8/2022 là 14.025.000 đồng, ngày 25/8/2022 là 5.625.000 đồng, ngày 29/8/2022 là 2.420.000, ngày 30/8/2023 là 14.852.000 đồng, ngày 04/10/2022 là 22.660.000 đồng (bút lục số 08). Bà B cam kết sẽ thanh toán cho bà T các khoản nợ nêu trên vào ngày 24/3/2023. Nếu bà B không thực hiện đúng như cam kết thì sẽ chịu trách nhiệm trước pháp luật và phải chịu khoản nợ trả chậm tương ứng với mức lãi suất theo Ngân hàng. Theo lời khai của nguyên đơn đến thời hạn trả nợ ngày 24/3/2023 nhưng bà B chỉ trả được cho bà T 10.000.000 đồng tiền mua hàng còn thiếu. Số tiền mua hàng hóa còn thiếu là 49.582.000 đồng đến nay bà B vẫn chưa thanh toán cho bà T. Xét thấy, hợp đồng mua bán hàng hóa giữa nguyên đơn và bị đơn thể hiện ý chí tự nguyện thỏa thuận của các bên, không trái pháp luật, không vi phạm đạo đức xã hội nên có hiệu lực bắt buộc các bên phải thực hiện. Nguyên đơn bà Phạm Thủy T đã thực hiện nghĩa vụ giao hàng đầy đủ như thỏa thuận, bị đơn đã nhận đầy đủ hàng hóa nhưng không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán đúng thời hạn đã cam kết. Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bị đơn bà Lê Thị B và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Quốc K không có ý kiến hay cung cấp tài liệu, chứng cứ để phản bác phần trình bày cũng như chứng cứ và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Như vậy, căn cứ “Giấy cam kết trả nợ tiền vật tư điện nước”; các hóa đơn ngày 24/8/2022, ngày 25/8/2022, ngày 29/8/2022, ngày 30/8/2023, ngày 04/10/2022 và lời khai của nguyên đơn có cơ sở xác định bà B chưa thanh toán cho bà T 49.582.000 đồng tiền mua hàng hóa.

[4] Đối với lãi suất chậm trả: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả lãi chậm trả trên số tiền 49.582.000 đồng với lãi suất 10%/năm tính từ ngày 25/3/2023 (ngày cam kết trả nợ) đến ngày 21/8/2023 (ngày xét xử sơ thẩm). Xét thấy, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải chịu lãi suất 10%/năm là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên được chấp nhận.

[5] Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[6] Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thị B phải chịu án phí có giá ngạch do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147 và các Điều 227, 228, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Căn cứ các Điều: 280, 285, 419, 430, 440 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án,

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thủy T đối với bị đơn bà Lê Thị B về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”.

    Buộc bà Lê Thị B thanh toán cho bà Phạm Thủy T 51.606.000 đồng, trong đó 49.582.000 đồng tiền hàng chưa trả và 2.024.000 đồng tiền lãi chậm trả.

    Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thị B phải chịu 2.580.000 đồng. Hoàn trả cho bà Phạm Thủy T 1.285.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006510 ngày 09/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương (01);
  • - VKSND thành phố Dĩ An (01);
  • - Chi cục THADS thành phố Dĩ An (01);
  • - Các đương sự (02);
  • - Lưu: Văn phòng, hồ sơ vụ án (02).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Tuyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 88/2023/DS-ST ngày 21/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

  • Số bản án: 88/2023/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng háo giữa nguyên đơn bà Phạm Thủy T với bị đơn bà Lê Thị B
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger