Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI

TỈNH BÌNH PHƯỚC

Bản án số: 88/2024/HS-ST

Ngày: 21-6-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thu Huệ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Xuân Nhi, ông Nguyễn Văn Được

Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Nga - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Văn Quyết - Kiểm sát viên

Trong ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 42/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2024/HSST-QĐ ngày 06/6/2024 đối với bị cáo:

* Họ và tên: BÙI THÁI D; Tên gọi khác: Bùi Hùng C, T; sinh năm 1987; giới tính: Nam; Nơi đăng ký thường trú: Thôn B, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Bùi Hải T1, sinh năm 1958 và bà: Trần Thị V, sinh năm 1964; Có vợ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1984 và 02 người con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2012; tiền sự: Không;

Tiền án: Ngày 27/8/2021, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Lăk xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 52 ngày 27/8/2021). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/7/2022, chấp hành án phí ngày 20/02/2024.

Nhân thân:

  • Ngày 15/9/2005, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Lăk xử phạt 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích” (Bản án số 191 ngày 15/9/2005). Chấp hành xong hình phạt, án phí và truy thu ngày 20/11/2006.
  • Ngày 07/5/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Eo H'leo, tỉnh Đăk Lăk xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Bản án số 29 ngày 07/5/2018). Chấp hành xong hình phạt ngày 10/4/2019; án phí chấp hành ngày 26/6/2018.
  • Ngày 31/8/2020, bị Ủy ban nhân dân xã E ra Quyết định số 231 quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn bằng hình thức cai nghiện tại gia đình, thời gian 03 tháng kể từ ngày 31/8/2020. Chấp hành xong ngày 30/11/2020.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 18/10/2023 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

* Những người bị hại:

  1. Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1966, nơi cư trú: Thôn D, xã C, huyện B, tỉnh Đắk Lắk, có mặt.
  2. Bà Võ Bội T3, sinh năm 1977, nơi cư trú: Thôn Q, xã K, huyện C, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, vắng mặt.
  3. Ông Trần Đức V1, sinh năm 1993, nơi cư trú: 168/13/29 L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, có đơn vắng mặt.
  4. Bà Võ Thị L, sinh năm 1982, nơi cư trú: 4 H, khu phố T, thành phố D, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
  5. Bà Ngô Thị S, sinh năm 1978, nơi cư trú: Ấp G, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai, vắng mặt.
  6. Bà Võ Thị Huệ L1, sinh năm 1972, nơi cư trú: Ấp G, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai, vắng mặt.
  7. Ông Lê Tấn H, sinh năm 1971, nơi cư trú : 4 H, khu phố T, thành phố D, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
  8. Ông Nguyễn Văn V2, sinh năm 1989, nơi cư trú: Thôn B, xã C, huyện B, tỉnh Đắk Lắk, có đơn vắng mặt.
  9. Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1975, nơi thường trú: Thôn N, xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Tổ C, Khu phố F, thị trấn C, thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.
  10. Ông Nguyễn Văn T4, sinh năm 1977, nơi cư trú: Thôn B, xã C, huyện B, tỉnh Đắk Lắk, có đơn vắng mặt.

* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Công ty TNHH D1; Địa chỉ: C đường C, khu phố D, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
  • Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Văn N1, sinh năm 1975, nơi cư trú: Ấp E, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai (Chức vụ: Giám đốc). Có mặt.
  • + Ông Nguyễn Thanh T5, sinh năm 1990, nơi cư trú: Khu phố A, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai, vắng mặt.

* Người làm chứng:

  • + Ông Nguyễn Đặng Huy H1, sinh năm 2004, nơi cư trú: Thôn K, xã D, huyện C, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.
  • + Ông Nguyễn Tấn H2, sinh năm 1986, nơi cư trú: Thôn S, xã C, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk, có đơn vắng mặt.
  • + Ông Võ Văn Q, sinh năm 1940, nơi cư trú: 42/22, H, khu phố T, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
  • + Ông Bùi Hải T1, sinh năm 1958, nơi cư trú: Thôn B, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 23h49' ngày 26/12/2022 tại Km 963+300 đường Quốc lộ 14 giao nhau với đường N thuộc khu phố A, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước đang có tín hiệu đèn giao thông màu vàng nhấp nháy, Bùi Thái D (tên gọi khác Bùi Hùng C) điều khiển xe ô tô khách biển số 60B-051.10 (xe của Công ty TNHH D1 do ông Phạm Văn N1 làm giám đốc, gọi tắt là: Công ty D1) chở trên xe 19 hành khách chạy trên đường N theo hướng từ ngã 4 S thuộc phường T và phường T ra Quốc lộ A với tốc độ dao động từ 62km/h (lúc 23 giờ 49 phút 11 giây) đến 70km/h (lúc 23 giờ 49 phút 28 giây) theo dữ liệu thiết bị giám sát hành trình của xe tại đoạn đường có biển báo số W.208 giao nhau với đường ưu tiên. Khi đến địa điểm trên, D không chú ý quan sát, không giảm tốc độ và nhường đường dẫn đến va chạm với xe ô tô tải biển số 47H-025.87 (xe của ông Nguyễn Văn T4) do ông Nguyễn Văn T2 điều khiển đang chạy trên đường Quốc lộ 14 hướng từ thành phố Đ đi huyện B và đã vào giao lộ trước, với tốc độ dao động từ 39km/h (lúc 23 giờ 48 phút 58 giây) đến 43km/h (lúc 23 giờ 49 phút 29 giây) theo dữ liệu thiết bị giám sát hành trình của xe tại đoạn đường có đặt biển báo số W.207a giao nhau với đường không ưu tiên, trên buồng lái có chở ông Nguyễn Văn V2. Tai nạn giao thông xảy ra ô tô khách biển số 60B-051.10 đẩy xe ô tô tải biển số 47H-025.87 lật xuống đường QL14 trượt ngang sang phần đường bên phải hướng từ huyện B về thành phố Đ. Tai nạn làm cho xe ô tô tải biển số 47H-025.87 và ô tô khách biển số 60B-051.10 bị hư hỏng đồng thời làm 10 người bị thương tích.

* Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 27/12/2022 xác định:

Nơi xảy ra tai nạn giao thông là đoạn đường giao nhau giữa Quốc lộ A và đường N thuộc khu phố A, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.

Đường Quốc lộ 14 được trải nhựa bằng phẳng, đường thẳng, tầm nhìn không bị che khuất, tổ chức giao thông là đường đôi, mặt đường rộng 32,65m, ở giữa đường có dải phân cách cố định rộng 2,70m chia thành 02 chiều xe chạy riêng biệt, mỗi chiều đường gồm 03 làn đường xe chạy (Theo thứ tự từ mép ngoài dải phân cách cố định vào trong mép nhựa bên phải Quốc lộ 14 theo hướng Đ đi B: Làn đường số 01 đo từ mép ngoài dải phân cách cố định đến tâm vạch sơn trắng không liền nét là 4,20m; làn đường số 02 đo từ tâm vạch sơn trắng không liền nét đến tâm của hai vạch sơn trắng song song liền nét có bề rộng 1,20m là 4,50m, làn đường số 03 đo từ tâm của hai vạch sơn trắng song song liền nét đến mép nhựa là 6,275m). Tại đoạn giao nhau, khoảng cách giữa hai đầu dải phân cách có chiều dài 52m, chiều rộng 33,60m, ở hai đầu dải phân cách có đặt biển “Cấm đi ngược chiều” và biển “Hướng phải đi vòng sang phải”, có vạch sơn kẻ đường cho người đi bộ qua đường, có gắn hệ thống đèn tín hiệu giao thông đang ở chế độ đèn vàng nhấp nháy và hệ thống đèn đường đang ở chế độ bật sáng. Khu vực phía trước hiện trường (hướng thành phố Đ đi huyện B) cách hiện trường 100m bên phải đường có biển báo số W.207a (giao nhau với đường không ưu tiên) và cách 700m có biển số R.415 (gộp làn đường theo phương tiện) đặt trên cột cần vươn của dải phân cách; Tại khu vực hiện trường có biển số R.415 (gộp làn đường theo phương tiện) đặt trên cột cần vươn của dải phân cách cố định.

Đoạn đường N bên phải đường Quốc lộ 14 theo hướng Đ đi B có chiều rộng là 11,3m, tổ chức giao thông là đường hai chiều, được trải nhựa bằng phẳng, đường thẳng, tầm nhìn không bị che khuất, có vạch sơn kẻ đường cho người đi bộ qua đường. Cách đường Quốc lộ 14 là 100m bên lề đường phải theo hướng đường N ra đường Quốc lộ 14 có gắn biển báo số W.208 (giao nhau với đường ưu tiên), hai bên đường có gắn hệ thống đèn tín hiệu giao thông đang ở chế độ đèn vàng nhấp nháy và hệ thống đèn đường đang ở chế độ bật sáng.

Theo hướng từ thành phố Đ đi huyện B: điểm mốc, mép đường chuẩn, phương tiện, dấu vết được đánh dấu theo thứ tự, được xác định và mô tả như sau:

Chọn trụ điện số 14 bên phải đường theo hướng Đ đi B làm điểm mốc.

Chọn đường thẳng nối hai mép nhựa bên phải đường Quốc lộ 14, đoạn qua giao lộ làm mép đường chuẩn.

Vị trí 02 xe ô tô sau khi tai nạn giao thông:

  • + Xe ô tô khách biển số 60B-051.10 sau tai nạn giao thông đỗ bên trái đường và trong giao lộ. Đầu xe hướng chếch về đường N bên trái, đuôi xe hướng chếch về đường N bên phải Quốc lộ A. Đầu tâm trục bánh xe trước bên trái cách mép đường chuẩn 31m, cách đầu tâm trục của bánh xe trước bên trái xe 4,90m, đầu tâm trục bánh xe sau ngoài cùng bên trái cách mép đường chuẩn 22,40m và cách đầu tâm trục bánh xe sau ngoài cùng bên trái xe ôtô 3,80m [vị trí mô tả số 9].
  • + Xe ô tô tải biển số 47H-025.87 sau tai nạn giao thông ngã về bên phải và nằm bên trái đường trong giao lộ. Đầu xe hướng chếch về đường N bên trái, đuôi xe hướng chếch về đường N bên phải Quốc lộ A. Đầu tâm trục bánh xe trước bên phải cách mép đường chuẩn 30,5m, cách tâm vùng mảnh vỡ (vị trí số 11) là 1,80m, đầu tâm trục bánh xe sau ngoài cùng bên phải cách mép đường chuẩn 22,40m [vị trí mô tả số 10].

Dấu vết tại hiện trường tai nạn giao thông:

  • + Vết hằn (số 1) màu đen liên tục nằm trong giao lộ theo chiều hướng chếch từ đường Nguyễn H3 ra đường Quốc lộ 14, vết hằn có KT (5x0,25)m, đầu vết hằn cách mép đường chuẩn 6,80m, cách tâm đường N 7,10m và cách đầu vết (2) 1,40m, cuối vết hằn cách mép đường chuẩn 11,80m và cách đầu tâm trục bánh xe sau ngoài cùng bên phải xe ô tô tải biển số 47H-025.87 là 6,80m.
  • + Vết hằn (số B) màu đen, liên tục nằm trong giao lộ theo chiều hướng chếch từ đường Nguyễn H3 ra đường Quốc lộ 14, vết hằn có KT (6,3 x 0,25)m, đầu vết hằn cách mép đường chuẩn 7,6m, cách đầu vết hằn (số 3) 2,9m, cuối vết hằn cách mép đường chuẩn 13,9m và cách đầu tâm trục bánh xe sau ngoài cùng bên phải xe ô tô tải biển số 47H-025.87 là 4,5m.
  • + Vết hằn (số C) màu đen, liên tục nằm trong giao lộ theo chiều hướng chếch từ đường Nguyễn H3 ra đường Quốc lộ 14, vết hằn có KT (7,1 x 0,25) m, đầu vết hằn cách mép đường chuẩn 6,8m, cách đầu vết hằn (số D) là 1,2m, cuối vết hằn trùng vào đầu vết cày (số F) và cách mép đường chuẩn 13,9m.
  • + Vết hằn (số D) màu đen, liên tục nằm trong giao lộ theo chiều hướng chếch từ đường Nguyễn H3 ra đường Quốc lộ 14, vết hằn có KT 11 x rộng 0,4)m, đầu vết hằn cách mép đường chuẩn 7m, cách tâm của đầu vết cày (số 5) 8,3m, cuối vết hằn trùng vào đầu vết cày (số G) và cách mép đường chuẩn 18,1m.
  • + Vết cày (số E) trượt liên tục nằm trong giao lộ theo chiều hướng chếch từ đường Nguyễn H3 ra đường Quốc lộ 14, vết cày trượt có KT (7 x 4,5)m, tâm của đầu vết cày trượt cách mép đường chuẩn là 12,1m, cách đầu vết cày (số F) là 3,8m, cuối vết cày trượt nằm dưới mặt ngoài bên phải thùng xe ô tô tải biển số 47H-025.87 và tâm của cuối vết cày này cách mép đường chuẩn 19m.
  • + Vết cày (số F) màu trắng, không liên tục nằm trong giao lộ theo chiều hướng chếch từ đường Nguyễn H3 ra đường Quốc lộ 14, vết cày có KT (11,8 x 0,25)m đầu vết cày cách mép đường chuẩn 13,9m, cách đầu vết cày (số G) là 4,8m, cuối vết cày trùng vào mặt ngoài lốp xe sau của bánh xe ngoài cùng bên trái xe ô tô khách biển số 60B-051.10 và cách mép đường chuẩn 22,4m.
  • + Vết cày (số G) màu trắng, không liên tục nằm trong giao lộ theo chiều hướng chếch từ đường Nguyễn H3 ra đường Quốc lộ 14, vết cày có KT (4,6 x 0,25)m, đầu vết cày cách mép đường chuẩn 18,1m, cách tâm vùng mảnh vỡ (số H) 3,3m, cuối vết cày trùng vào mặt ngoài lốp xe sau của bánh xe ngoài cùng bên phải xe ô tô khách biển số 60B-051.10 và cách mép đường chuẩn 22,6m.
  • + Vùng mảnh vỡ (số H) bao gồm mảnh nhựa, thủy tinh, kim loại nằm bên trái giao lộ theo hướng Đ đi B, vùng mảnh vỡ có KT dài 16,1 x 7,5)m, tâm vùng mảnh vỡ cách mép đường chuẩn 19,6m và cách đầu tâm trục bánh xe sau ngoài cùng bên phải xe ôtô khách biển số 60B-051.10 là 3,4m.
  • + Vùng mảnh vỡ (số A) gồm mảnh nhựa, thủy tinh, kim loại nằm bên trái giao lộ, vùng mảnh vỡ có KT (13,1 x 5,9)m, tâm vùng mảnh vỡ cách mép đường chuẩn 31m và cách tâm vết máu (số A) là 3,4m.
  • + Vết máu (số A) màu đỏ dạng đông đặc nằm bên trái giao lộ theo hướng Đ đi B, vết máu KT (1,2 x 0,7)m tâm vết máu cách mép đường chuẩn 24,1m, cách đầu tâm trục bánh xe trước bên phải ô tô tải biển số 47H-025.87 là 4,9m.

Điểm mốc: Là trụ điện số 14 trên lề đường bên phải theo hướng Đ đi B, điểm mốc cách mép đường chuẩn 2,6m, cách đầu tâm trục bánh xe sau ngoài cùng bên phải xe ô tô ôtô khách biển số 60B-051.10 25m và cách đầu tâm trục bánh xe sau ngoài cùng bên phải xe ô tô này là 25,6m.

* Tại biên bản khám nghiệm ô tô khách biển số 60B-051.10 ngày 27/12/2022 xác định, các dấu vết như sau:

Kính chắn gió trước đầu xe bị nứt, vỡ phần bên trái rơi ra khỏi vị trí ban đầu, phần bên phải nứt nham nhở tại vị trí, có KT (1,6x1,0)m; Hệ thống trục tay lái (công tắc đèn pha-cốt, gạt nước, ốp trục tay lái bị móp méo, cong vênh và cần trục gãy rơi ra khỏi vị trí định vị theo chiều hướng từ trước ra sau); Đồng hồ táp lô bị vỡ, nứt, cong vênh theo chiều hướng từ trước ra sau; Đầu DVD bị nứt bung ra khỏi vị trí ban đầu; Cạnh tôn nóc bên trái đầu xe bị trầy xước và có bám dính chất màu trắng KT (0,4 x 0,2)m. Điểm cao nhất cách mặt đất 3,25m, điểm thấp nhất cách mặt đất 3,05m; Ốp nhựa trước đầu xe có gắn biển số bị bung ốc vít và rơi ra khỏi vị trí định vị; Phần giữa cản trước đầu xe bị cong vênh, biến dạng theo chiều hướng từ trước ra sau; Lưới tản nhiệt trước đầu xe bị bung ốc vít và rơi ra khỏi vị trí định vị; Khung xương mặt đầu trước đầu xe bị cong lệch theo chiều hướng từ phải qua trái; Khung xương mặt đầu cửa bên trái bị cong vênh, gập vào trong táp lô theo chiều hướng từ trước ra sau; Ốp dưới giữa táp lô bên trong xe bị bể, bung ra khỏi vị trí định vị theo chiều hướng từ trước ra sau; Cạnh bên trái mỏ cản trước đầu xe bị rách nham nhở và bị bị lún vào bên trong đầu xe 0,2m. Mặt trước có bám dính chất màu đen và trầy xước sơn KT (0,7 x 0,5)m. Điểm cao nhất cách mặt đất 1,4m, điểm thấp nhất cách mặt đất 0,89m; Gương chiếu hậu ngoài bên trái+gọng gương bị gẫy rơi ra khỏi vị trí định vị; Khung kim loại có gắn kính chắn gió bên trái bị móp méo biến dạng theo chiều hướng từ ngoài vào trong và từ trước ra sau, phần kính chắn gió bị vỡ nát rơi ra khỏi vị trí định vị có KT (1,6 x 0,7)m; Cụm đèn chiếu sáng+đèn tín hiệu chuyển hướng +đèn cản trước bên trái bị vỡ nát hoàn toàn và rơi ra khỏi vị trí định vị; Ốp bảo vệ bình ắc quy bị vỡ, bung ốc vít rơi ra khỏi vị trí định vị, hai bình ắc quy bị nứt vỡ và bung ra khỏi vị trí định vị; Khung kim loại bên trái khoang giường nằm (gồm 06 khoang) bị móp méo biến dạng thụt vào bên trong xe theo chiều hướng từ ngoài vào trong và từ trước ra sau KT (11,8 x 2,4)m; Kính hông 06 khoang giường nằm bên trái xe bị vỡ nát hoàn toàn và rơi ra khỏi vị trí định vị; Tại vị trí cạnh mũi thành thùng xe bên trái bị móp méo, biến dạng và bon tróc sơn KT (0,7 x 0,4)m, tâm cách cạnh trước đầu xe 2,3m, cách mặt đất 3,1m; Kim loại mặt bên trái 02 khoang cuối (khoang 05,06) bị cong vênh, móp méo, biến dạng và bung ra khỏi vị trí định vị theo chiều hướng từ ngoài vào trong; Mặt ngoài bên trái 06 khoang để hàng hóa bị móp méo và có nhiều vết trượt xước theo chiều hướng từ trước ra sau; Ốp chắn bánh xe trước bên trái đầu xe bị rách kim loại và trầy xước theo chiều hướng từ trước ra sau và có bám dính sơn KT (0,4 x 0,22)m, tâm cách đầu tâm trục bánh xe trước bên trái 0,73m; Ốp cản sau bên trái bị bung ra khỏi vị trí định vị, ốp bảo vệ đèn tín hiệu chuyển hướng bên trái phía sau đuôi xe bị bung ra khỏi vị trí. Về an toàn kỹ thuật của phương tiện: Hệ thống lái, phanh, côn, ga, đèn, còi, hộp số, gương chiếu hậu, đồng hồ, gạt nước: sau tai nạn giao thông xe bị hư hỏng không kiểm tra được.

* Tại biên bản khám nghiệm ô tô tải biển số 47H-025.87 ngày 27/12/2022 xác định, các dấu vết như sau:

Cạnh ốp cabin bên phải bằng kim loại bị móp méo biến dạng theo chiều hướng từ phải qua trái và bong tróc sơn, KT (1,6 x 1,4)m; Kính chắn gió trước đầu xe bị vỡ nát hoàn toàn và rơi ra khỏi vị trí định vị; Õp nhựa táp lô trước, bên phải xe bị bể, vỡ và móp méo, biến dạng theo chiều hướng từ trước ra sau; Cụm gương chiếu hậu bên phải đầu ca bin cong gập vào bên trong ốp nhựa+kính gương chiếu hậu vỡ nát rơi ra khỏi vị trí định vị, chiều hướng từ phải qua trái; Cánh cửa bên phải đầu ca bin bị móp méo, biến dạng bong tróc sơn và thụt vào bên trong ca bin theo chiều hướng từ phải qua trái so với vị trí ban đầu 0,3m; Nắp capo trước đầu xe có gắn lô gô HINO cong gập vào trong 0,05m theo chiều hướng từ trước ra sau, lô gô HINO rơi ra khỏi vị trí cố định; Lưới tản nhiệt trước đầu xe bung ra khỏi vị trí cố định; Cạnh bên phải cản xe trước đầu ca bin bằng kim loại bị gẫy thụn vào trong đầu ca bin 0,30 mét so với vị trí ban đầu, mặt trước điểm gẫy có vết in hằn màu đen và trầy xước sơn theo chiều hướng từ trước ra sau KT (0,3 x 0,2)m, điểm cao nhất cách mặt đất 0,85m, điểm thấp nhất cách mặt đất 0,4m; Ốp hông ca bin bên phải móp méo biến dạng và trượt xước sơn theo chiều hướng từ phải qua trái; Cụm đèn mui ca bin bên phải vỡ nát và rơi ra khỏi vị trí định vị; Cụm đèn xi nhan cửa bên phải vỡ nát và rơi ra khỏi vị trí định vị; Cụm đèn chiếu sáng+đèn xi nhan bên phải vỡ nát rơi ra khỏi vị trí định vị; Đèn cản trước bên phải vỡ nát, rơi ra khỏi vị trí định vị; Bậc bước chân lên xuống cửa bên phải đầu ca bin gẫy hoàn toàn và cong vênh theo chiều hướng từ phải qua trái; Cụm đầu DVD bị bung ốp nhựa và nứt nham nhở để lộ phần dây điện ra ngoài; Cạnh bên phải táp lô bên trong đầu ca bin nứt vỡ, cong vênh theo chiều hướng từ phải qua trái, ốp nhựa bung ra khỏi vị trí cố định; Ron khung cửa hai bên đầu ca bin bị bung hở so với vị trí ban đầu; La phông trần ca bin bị móp méo, biến dạng so với ban đầu; Dè chắn bánh xe bên phải đầu ca bin bị rách nham nhở; T6 kim loại gắn từ trục bánh xe bên phải lên hệ thống lái của đầu ca bin bị móp méo, biến dạng theo chiều hướng từ phải qua trái; Mặt ngoài ốp mâm bánh xe bên phải đầu ca bin bị bong tróc sơn và trầy xước nhựa theo chiều hướng từ sau tới trước; Mặt ngoài lốp của bánh xe sau ngoài cùng bên phải thùng xe có vết trượt cao su KT(1,2 x 0,15)m; Mặt ngoài lốp của bánh xe sau ngoài cùng bên phải thùng xe có vết rách cao su KT (0,3 x 0,01)m, điểm đầu vết rách cách đầu tâm trục bánh xe sau ngoài cùng bên phải thùng xe 0,35m, cách chữ “R” của dòng chữ “RADIAL” trên bánh xe 0,45m; Mặt ngoài bên phải hông thùng xe bị bung bửng và bản lề, hở 0,3m so với vị trí ban đầu, ốp bạt trùm mui thùng và bạt bên hông thùng phải bị rách và rơi ra khỏi vị trí cố định ban đầu; Mặt ngoài bên hông phải thùng xe bị trầy xước kim loại theo chiều hướng từ trước ra sau; T6 kim loại đà dọc thùng bên phải bị móp méo, biến dạng so với vị trí ban đầu (bộ cản hông phải); B thang lên xuống thùng xe bị móp méo, cong vênh; Bửng sau thùng xe bị bung chốt, hở ra khỏi vị trí ban đầu. Về an toàn kỹ thuật của phương tiện: Hệ thống lái, phanh, côn, ga, đèn, còi, hộp số, gương chiếu hậu, đồng hồ, gạt nước: sau tai nạn giao thông xe bị hư hỏng không kiểm tra được.

* Tại biên bản ghi nhận kết quả kiểm tra nồng độ cồn của Bùi Hùng C ngày 27/12/2022 xác định: Qua kiểm tra bằng máy đo nồng độ cồn có số ID 890304 kết quả đo được là 0,00 mg/1 lít khí thở theo số phiếu 00625.

* Tại bản Kết luận định giá tài sản số 42/KL-HĐĐGTS, ngày 31/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự kết luận: Giá trị thiệt hại do bị tai nạn giao thông của xe ô tô biển số 60B-051.10 nhãn hiệu THACO là 881.732.411 đồng; giá trị thiệt hại do bị tai nạn giao thông của xe ô tô biển số 47H-025.87 nhãn hiệu HINO là 973.796.848 đồng .

* Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 171/KLTTCT-TTPY, ngày 12/6/2023, Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh B kết luận: Nguyễn Văn T2 chấn thương đầu xuất huyết khoang dưới nhện rải rác bán cầu trái hiện không còn di chứng; sẹo trán – đỉnh kích thước (4 x 0,8)cm lõm; sẹo cổ phải kích thước (5,5 x 0,5)cm sẹo mềm, vận động cổ bình thường; sẹo môi trên bên phải kích thước (0,8 x 0,5)cm; nhiều vết xước da ngực phải trên diện (7 x 5)cm; 04 vết xước da vai – cánh tay phải trên diện (11 x 7)cm; tràn dịch màng phổi hai bên hiện không còn di chứng. Căn cứ thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn T2 tại thời điểm giám định là 18%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

* Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 10/KLTTCT-TTPY, ngày 18/01/2024 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh B kết luận: Võ Bội T3 chấn thương gãy cổ xương đùi phải đã phẫu thuật thay toàn phần khớp háng phải; sẹo 1/3 trên – ngoài đùi phải kích thước (9,5 x 0,4)cm. Căn cứ thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Võ Bội T3 tại thời điểm giám định là 23%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

* Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 19/KLTTCT-TTPY, ngày 19/01/2024 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh B kết luận: Trần Đức V1 chấn thương đầu hiện không còn dấu vết tổn thương; chấn thương gãy 1/3 giữa bờ ngoài xương vai trái, vận động vai trái bình thường. Căn cứ thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Đức V1 tại thời điểm giám định là 06%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

* Kết luận giám định tổn thương cơ thể qua hồ sơ số 18/KLTgTHS-TTPY, ngày 24/01/2024 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh B kết luận: Võ Thị L trầy xước chân trái. Căn cứ thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Võ Thị L tại thời điểm giám định là 01%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

* Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 13/KLTTCT-TTPY, ngày 18/01/2024 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh B kết luận: Ngô Thị S chấn thương gãy mâm chày ngoài chân phải đã phẫu thuật kết hợp xương nẹp Vis; sẹo 1/3 trên – trước – ngoài cẳng chân phải kích thước (5 x 0,3)cm, vận động khớp gối bình thường. Căn cứ thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Ngô Thị S tại thời điểm giám định là 13%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

* Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 17/KLTTCT-TTPY, ngày 18/01/2024 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh B kết luận: Võ Thị Huệ L1 sẹo chân tóc trán trái kích thước (1 x 0,1)cm; sẹo trán trái kích thước (3 x 0,1)cm. Căn cứ thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Võ Thị Huệ L1 tại thời điểm giám định là 04%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

* Kết luận giám định tổn thương cơ thể đối với ông Lê Tấn H qua hồ sơ số 20/KLTgTHS-TTPY, ngày 24/01/2024 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh B kết luận: Lê Tấn Hoàng gãy gai ngang cột sống L2, L3, L4, L5; gãy xương sườn I + XI. Căn cứ thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Tấn H tại thời điểm giám định là 23%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

* Đối với ông Nguyễn Văn V2 và ông Nguyễn Văn K và bị cáo Bùi Thái D từ chối giám định thương tích.

* Tại bản Kết luận giám định số 1114/KL-KTHS ngày 24/11/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: Dấu vân tay trên mẫu cần giám định (ký hiệu A) với dấu vân tay trên mẫu so sánh (ký hiệu M) là của cùng một người.

* Tại Bản Cáo trạng số 59/CT-VKS ngày 21/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài đã truy tố bị cáo Bùi Thái D về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

  • - Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm các điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự, đề nghị mức phạt từ 04 đến 05 năm tù;
  • - Kiến nghị Cơ quan Công an có thẩm quyền điều tra, làm rõ hành vi của Bùi Thái D làm chứng minh nhân dân giả mang tên Bùi Hùng C để thi giấy phép lái xe và sử dụng giấy phép lái xe trong thời gian qua để xử lý theo quy định của pháp luật.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, Điều 585, Điều 589, Điều 590, Điều 601 của Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 136 cuả Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao: Buộc bị cáo Bùi Thái D hoàn trả cho Công ty D1-người đại diện theo pháp luật là ông Phạm Văn N1 số tiền 184.000.000 đồng (Một trăm tám mươi bốn triệu đồng).
  • - Về vật chứng vụ án: Đề nghị lưu theo hồ sơ vụ án 02 (hai) bì thư niêm phong chứa đĩa CD ghi hình vụ tai nạn giao thông; 01 giấy phép lái xe số [...], ngày 09/01/2019, hạng E tên Bùi Hùng C để giải quyết đối với hành vi liên quan đến làm giả tài liệu của cơ quan tổ chức.

* Tại phiên tòa:

  • - Bị cáo Bùi Thái D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm
  • - Bị hại: Nguyễn Văn T2 và ông Phạm Văn N1-giám đốc Công ty D1 thống nhất về vụ việc tai nạn xảy ra như nội dung bản cáo trạng đã ghi nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tài liệu chứng cứ, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo; bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội Bùi Thái D khai nhận: Bị cáo là tài xế lái xe của Công ty D1. Ngày 26/12/2022 bị cáo điều khiển xe ôtô khách biển số 60B-05110 xuất phát từ thành phố V đi Kon Tum, trên xe có 19 người gồm có phụ lái Nguyễn Tấn H2; quản lý xe Nguyễn Đặng Huy H1 và hành khách. Khi đi qua thành phố Đ đến ngã tư đoạn giao nhau giữa đường N và QL14 thì tín hiệu đèn giao thông màu vàng nhấp nháy, bị cáo đi thẳng qua ngã tư nhưng do không chú ý quan sát phát hiện xe hướng QL14 đi tới dẫn đến va chạm với xe ô tô tải biển số 47H-025.87 do ông Nguyễn Văn T2 điều khiển gây ra tai nạn giao thông, bị cáo được mọi người đưa vào bệnh viện cấp cứu.

[3]. Lời khai của bị hại Nguyễn Văn T2: Ông Nguyễn Văn T2 là tài xế lái xe ôtô tải biển số 47H-025.87, xe do ông Nguyễn Văn T4 là chủ sở hữu. Đêm ngày 26/12/2022 ông T2 điều khiển xe trên đường QL14 hướng từ thành phố Đ đi huyện B, trong buồng lái còn có ông Nguyễn Văn V2 đang ngủ trên giường tạm. Ông chạy giữa làn đường của chiều đi với với tốc độ khoảng hơn 40km/h, khi đến ngã tư giao nhau giữa QL14 và đường N thì tín hiệu đèn giao thông màu vàng nhấp nháy nên giảm tốc độ, khi qua gần hết giao lộ bất ngờ xảy ra tai nạn giao thông và được mọi người đưa vào bệnh viện cấp cứu. Hướng xe va chạm là bên phải xe tải biển số 47H-025.87.

[4]. Lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn N1: Xe ôtô khách biển số 60B-05110 chủ sở hữu là Công ty D1, công ty do ông làm giám đốc, xe dùng để vận chuyển hành khách. Bùi Thái D (hay còn gọi là Bùi Hùng C theo tên trong giấy phép lái xe) là tài xế do công ty thuê, có hợp đồng lao động ký ngày 01/8/2022. Ngày 26/12/2022 công ty giao cho Bùi Hùng C nhận xe vận chuyển khách đi từ thành phố V đi Kon Tum, trên xe có phụ lái Nguyễn Tấn H2, quản lý xe là Nguyễn Đặng Huy H1 và danh sách hành khách trên xe. Khi đi qua thành phố Đ, tỉnh Bình Phước thì xảy ra tai nạn. Tôi nhận được tin đã đến ngay hiện trường để giải quyết vụ việc. Về trách nhiệm dân sự tôi đã đứng ra bồi thường kịp thời cho những người bị hại và tài sản của bên bị hại.

[5]. Xét lời khai nhận của bị cáo Bùi Thái D tại phiên tòa về diễn biến xảy ra vụ việc phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, bản kết luận điều tra và nội dung bản cáo trạng; phù hợp với lời khai của những người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng; biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện xe ôtô biển số 60B-05110 và 47H-025.87, các kết luận giám định thương tích đối với những người bị hại; phù hợp về thời gian, địa điểm xảy ra tai nạn, cùng các tài liệu - chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa.

Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận: Vào lúc 23h49' ngày 26/12/2022 tại Km 963+300 đường Quốc lộ 14 giao nhau với đường N thuộc khu phố A, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước, Bùi Thái D điều khiển xe ô tô khách biển số 60B-05110 lưu thông trên đường N là đường không ưu tiên ra đường Quốc lộ 14 là đường ưu tiên, không chú ý quan sát, không nhường đường cho xe ô tô tải biển số 47H-025.87 do ông Nguyễn Văn T2 điều khiển đang lưu thông trên đường Quốc lộ 14 hướng đi về huyện B đã vào giao lộ trước, hậu quả gây ra tai nạn giao thông làm cho nhiều người trên xe khách bị thương tích, cụ thể: Ông Nguyễn Văn T2 bị thương tích tỷ lệ tổn thương cơ thể là 18%, bà Võ Bội T3 tỷ lệ tổn thương cơ thể là 23%, ông Trần Đức V1 tỷ lệ tổn thương cơ thể là 06%, bà Võ Thị L tỷ lệ tổn thương cơ thể là 01%, bà Ngô Thị S tỷ lệ tổn thương cơ thể là 13%, bà Võ Thị Huệ L1 tỷ lệ tổn thương cơ thể là 04% và ông Lê Tấn H tỷ lệ tổn thương cơ thể là 23%, ngoài ra còn ông Nguyễn Văn V2 và ông Nguyễn Văn K bị thương nhưng từ chối giám định thương tích; Về tài sản xe ô tô tải biển số 47H-025.87 của ông Nguyễn Văn T4 bị hư hỏng nặng, thiệt hại theo Hội đồng định giá kết luận trị giá 973.796.848đồng.

Hành vi của Bùi Thái D đã vi phạm khoản 3, Điều 24 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định về nhường đường tại nơi đường giao nhau “Tại nơi đường giao nhau giữa đường không ưu tiên và đường ưu tiên hoặc giữa đường nhánh và đường chính thì xe đi từ đường không ưu tiên hoặc đường nhánh phải nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên hoặc đường chính từ bất kỳ hướng nào tới”, hậu quả làm bị thương 07 người (02 người từ chối giám định) và thiệt hại về tài sản trị giá 973.796.848 đồng. Đối chiếu quy định của pháp luật bị cáo đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” với tình tiết định khung hình phạt “Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng” theo điểm g khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[6]. Xét thấy, bản thân bị cáo là người có đủ năng lực hành vi dân sự, đã học Luật Giao thông đường bộ và được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép lái xe số [...], ngày 09/01/2019, hạng E nên bị cáo phải nhận thức được những quy định mang tính bắt buộc của Luật Giao thông đường bộ, phải chấp hành đúng nguyên tắc khi tham gia giao thông. Nhưng do chủ quan, xem thường pháp luật, điều khiển phương tiện không chú ý quan sát, không nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên, dẫn đến hậu quả nghiêm trọng xảy ra.

Xét về lỗi của bị cáo là lỗi vô ý do cẩu thả, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe và tài sản của các bị hại; hơn nữa bị cáo điều khiển phương tiện là xe khách, là phương tiện giao thông vận tải cơ giới có nguồn nguy hiểm cao độ, trên xe còn chở rất nhiều hành khách nhưng bị cáo không thận trọng, xem thường tính mạng, sức khỏe và tài sản của người khác, gây hậu quả rất nghiêm trọng, thiệt hại sức khỏe cho nhiều người và tài sản. Tại phiên tòa, bị cáo cho rằng bản thân chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự, còn về phần trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại cho những người bị hại bị cáo không có trách nhiệm là không có thiện chí, chưa thể hiện sự ăn năn hối lỗi về hành vi đã gây ra cho những người bị hại.

Bản thân bị cáo nhiều lần bị Tòa án đưa ra xét xử, năm 2005 bị xét xử về tội “Cố ý gây thương tích”; năm 2018 bị xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và năm 2021 bị xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”, mới chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/7/2022, chưa được xóa án tích.

Xét tính chất mức độ do hành vi và hậu quả bị cáo gây ra là rất nguy hiểm cho xã hội, cần phải xử phạt một mức án thật nghiêm khắc nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo bị áp dụng tình tiết “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 53 của Bộ luật Hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi thực hiện; bị hại Nguyễn Văn T2 xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, do vậy được Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng.

[7]. Đối với hành vi sử dụng Giấy phép lái xe hạng E mang tên Bùi Hùng C, mặc dù bản thân Bùi Thái D đã sử dụng thông tin nhân thân lai lịch từ chứng minh nhân dân là Bùi Hùng C để đăng ký thi và được cấp Giấy phép lái xe hạng E nhưng việc học lái xe, thi và được cấp Giấy phép lái xe của D là học thật, thi thật và được cấp Giấy phép lái xe hạng E theo quy định. Do đó xác định bản thân Bùi Thái D điều khiển phương tiện có giấy phép lái xe theo quy định và hành vi của D không cấu thành tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức” theo quy định tại Điều 341 Bộ luật Hình sự, do đó không xem xét xử lý.

[8]. Đối với việc Bùi Thái D đăng ký thường trú, làm chứng minh nhân dân mang tên Bùi Hùng C có dấu hiệu của tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” quy định tại điều 341 Bộ luật Hình sự, hành vi này xảy ra tại huyện E, tỉnh Đắk lắk nên thuộc thẩm quyền điều tra xác minh của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đã chuyển nguồn tin về tội phạm đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện huyện E để giải quyết theo thẩm quyền. Vì vậy cần kiến nghị cơ quan có thẩm quyền điều tra làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật.

[9].Về trách nhiệm dân sự:

  • - Bị hại Nguyễn Văn T2 bị thiệt hại về sức khỏe nhưng chưa nhận khoản bồi thường nào, tại phiên tòa anh T2 có yêu cầu Công ty D1 bồi thường với số tiền chi phí điều trị thương tích và tổn thất tinh thần tổng là 30.000.000 đồng. Ông Phạm Văn N1 - người đại diện theo pháp luật của Công ty D1 đồng ý và đã bồi thường ngay tại phiên tòa; anh T2 không còn yêu cầu nào khác nên không xem xét giải quyết.
  • - Ông Phạm Văn N1 là giám đốc Công ty D1 xác định sau nai nạn đã đứng ra bồi thường trước cho các bị hại thiệt hại về sức khỏe với tổng số tiền khoảng 282.500.000đồng và bồi thường thiệt hại về tài sản là xe ô tô tải biển số 47H-025.87 cho ông Nguyễn Thanh T5 số tiền 600.000.000đồng (ông Nguyễn Văn T4 đã bán xe ô tô tải biển số 47H-025.87 cho ông T5). Nay ông N1 yêu cầu bị cáo D phải bồi hoàn lại một phần cho Công ty D1, người đại diện là ông N1 với số tiền 200.000.000đồng. Bị cáo Bùi Thái D đồng ý và đã trả trước cho ông N1 được 16.000.000đồng, số tiền còn lại 184.000.000đồng bị cáo phải tiếp tục có nghĩa vụ hoàn trả cho ông N1.
  • - Đối với bị hại Nguyễn Văn K từ chối giám định thương tích, đã nhận bồi khoản bồi thường 90.000.000đồng và có lời khai không yêu cầu gì thêm về bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • - Đối với bị hại Nguyễn Văn V2 từ chối giám định thương tích, không yêu cầu gì về bồi thường và có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[10].Về vật chứng vụ án:

  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đã trả lại xe ô tô tải biển số 47H-025.87 nhãn hiệu Hino, màu trắng, số khung RNJFG8JT7NXX12798 (đã bị hư hỏng do tai nạn giao thông) cho ông Nguyễn Thanh T5; 01 xe ô tô khách biển số 60B-051.10, nhãn hiệu Thaco, màu xanh-trắng, số khung 24SACKN002096 (đã bị hư hỏng do tai nạn giao thông) và 01 giấy chứng nhận kiểm định số 1171410 cho ông Phạm Văn N1; 01 Giấy phép lái xe hạng C, số G, ngày 16/10/2019, tên Nguyễn Văn T2 đã trả lại cho anh T2. Việc cơ quan công an trả lại tài sản là đúng quy định của pháp luật Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  • - Lưu theo hồ sơ vụ án: 02 (hai) bì thư niêm phong chứa đĩa CD ghi hình vụ tai nạn giao thông; 01 giấy phép lái xe số [...], ngày 09/01/2019, hạng E tên Bùi Hùng C tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án để giải quyết đối với hành vi liên quan đến làm giả tài liệu của cơ quan tổ chức.

[11]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[12].Về án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định củ pháp luật.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bùi Thái D (tên gọi khác: Bùi Hùng C; T) phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 260; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 điều 52, khoản 1 Điều 53, Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt Bùi Thái D (Bùi Hùng C; T) 05 (năm) tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/10/2023.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, Điều 585, Điều 589, Điều 590, Điều 601 của Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao:

Buộc bị cáo Bùi Thái D hoàn trả cho Công ty TNHH D1-người đại diện theo pháp luật là ông Phạm Văn N1 số tiền 184.000.000 đồng (Một trăm tám mươi bốn triệu đồng).

Kể từ ngày thỏa thuận có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 02 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Lưu theo hồ sơ vụ án: 02 (hai) bì thư niêm phong đựng đĩa CD ghi hình vụ tai nạn giao thông; 01 giấy phép lái xe số [...], ngày 09/01/2019, hạng E tên Bùi Hùng C.

4. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23, Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo D phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 9.200.000 đồng (Chín triệu hai trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

5. Kiến nghị Cơ quan Công an có thẩm quyền điều tra, làm rõ hành vi của Bùi Thái D làm chứng minh nhân dân giả mang tên Bùi Hùng C để thi, được cấp giấy phép lái xe và sử dụng giấy phép lái xe trong thời gian qua để xử lý theo quy định của pháp luật.

6. Quyền kháng cáo:

Bị cáo Bùi Thái D; bị hại Nguyễn Văn T2; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH D1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Những người bị và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án niêm yết theo quy định của pháp luật./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND tỉnh Bình Phước;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND Thành phố Đồng Xoài;
  • - Chi cục THADS TP.Đồng Xoài;
  • - CA Thành phố Đồng Xoài;
  • - Phòng PV 06 Công an tỉnh BP;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS-VP.

Lê Thu Huệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 88/2024/HS-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 88/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hình sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger