Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 5 - HẢI PHÒNG

Bản án số: 88/2025/HS-ST

Ngày: 09-12-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

(Ký tên và đóng dấu)

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Trung Hiếu

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Khắc Tân

Bà Nguyễn Thị Mai

Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Việt Anh - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến với điểm cầu Trung tâm tại Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam số 01, Công an thành phố H vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 97/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:

Phùng Văn H, sinh ngày 18 tháng 10 năm 1991 tại thành phố Hải Phòng. Nơi thường trú: Thôn N, xã A, thành phố Hải Phòng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phùng Văn H1, sinh năm 1959 và con bà Phạm Thị V, sinh năm 1959; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Tạm giam ngày 13/9/2025; có mặt.

Bị hại: Anh Giàng Mí P, sinh năm 2003; nơi thường trú: Thôn L, xã L, tỉnh Tuyên Quang; vắng mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Ông Trần Minh N - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước số 01 thành phố Hải Phòng; có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1985; địa chỉ: Số H T, xã A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 03/9/2025, Phùng Văn H đang ở nhờ phòng trọ của bạn là Hoàng Văn D, sinh năm 1992, trú tại thôn T, xã A, thành phố Hải Phòng tại phòng trọ số E khu N C, phường K, thành phố Hải Phòng. Lúc này, D đi vắng thì H ra lối đi chung gần cổng vào nhà trọ để hút thuốc lào. Hào quan sát xung quanh khu nhà trọ không có người, đồng thời H phát hiện phòng trọ số 03 của chị Vàng Thị D1, sinh năm 2009, trú tại thôn L, xã Q, tỉnh Tuyên Quang cửa khoá bên ngoài, trong phòng có dựng 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu xanh, biển kiểm soát 23AU - 030.58 của anh Giàng Mí P, xe vẫn cắm chìa khóa ở ổ khóa điện. H nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe trên, nên đã dùng tay chân đẩy mạnh cửa phòng trọ số 03 làm khuy khoá cửa bị bung ra, lợi dụng sơ hở Hào lén lút dắt chiếc xe trên ra ngoài khu vực phòng trọ số 03. Sau đó, H đi xe môtô vừa trộm cắp được đến cửa hàng mua bán xe máy Sơn T1 tại địa chỉ số H T, xã A, thành phố Hải Phòng. Tại đây, H gặp và nói với chị Nguyễn Thị T “Em để lại chiếc xe vay 3.000.000 đồng phục vụ việc mua vật tư đi làm bả sơn. Chiếc xe là tài sản của đứa em làm cùng.” nhưng H không nói cho chị T biết việc chiếc xe trên do H trộm cắp mà có, chị T đồng ý cho H vay 3.000.000 đồng, H đã chi tiêu cá nhân hết số tiền trên. Đến trưa cùng ngày, nghe mọi người nói chuyện về việc nhà trọ bị mất trộm xe nên H có nói với em của Giàng Mí P là Giàng Mí H2, sinh năm 2008, trú tại thôn L, xã L, tỉnh Tuyên Quang để H tìm xe giúp. Do nghi ngờ H là người trộm cắp xe, Giàng Mí P cùng chú là Thào Văn C, sinh năm 2003, trú tại thôn L, xã L, tỉnh Tuyên Quang đến Cơ quan Công an trình báo.

Tại Kết luận định giá tài sản số 129/KL-HĐĐGTS ngày 12/9/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân thành phố H kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, biển kiểm soát 23AU - 030.58, đã qua sử dụng, trị giá là 15.767.000 đồng.

Tiến hành xét nghiệm ma túy đối với Phùng Văn H, kết quả H dương tính với chất ma túy Methamphetamine.

Tại cơ quan điều tra, Phùng Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Chỉ có một mình H thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Số tiền cầm xe H đã tiêu xài cá nhân hết. Ngoài ra, H khai ngày 01/9/2025 H đi sang khu vực đường tàu Trần Nguyên H3, Hải Phòng gặp và mua ma tuý đá của một người đàn ông không quen biết với giá 200.000 đồng. Sau đó H về khu vực phía sau nhà máy B sử dụng một mình hết số ma túy trên. Số tiền mua ma túy do lao động mà có.

Lời khai của anh Giàng Mí P: Ngày 31/8/2025 anh P về quê nên có mang chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu xanh, biển kiểm soát 23AU - 030.58 của anh P đến để tại phòng trọ của Giàng Mí H2. Hồi 07 giờ 15 phút ngày 03/9/2025 H2 có dắt chiếc xe môtô nói trên vẫn cắm chìa khoá tại ổ khóa điện sang phòng trọ số 03 của Vàng Thị D1 để. Sau đó H2 khoá cửa phòng trọ số 03 và chở D1 đi làm. Sau khi phát hiện bị mất chiếc xe mô tô trên tại phòng trọ của D1 thì P và chú là Thào Văn C đến cơ quan Công an trình báo.

Lời khai của chị Nguyễn Thị T: Khi H đến cửa hàng, chị T có hỏi về nguồn gốc xe thì H nói chiếc xe là của đứa em làm cùng, hiện đứa em không có ở Hải Phòng. H nói cần vay số tiền 3.000.000 đồng để đi mua vật liệu về để làm. Do chị T biết H làm nghề bả sơn lại thấy trong cốp xe có đồ làm sơn bả, cộng với trước đó cũng đã có lần H mua xe, có lần vay tiền để lại xe với lý do mua đồ nghề tương tự xong đã đến lấy lại xe, nên chị T tin tưởng cho H vay tiền. Chị T hoàn toàn không biết việc H trộm cắp chiếc xe biển kiểm soát 23AU - 030.58.

Về tài sản, vật chứng của vụ án: Xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, biển kiểm soát 23AU - 030.58 là tài sản hợp pháp của anh Giàng Mí P nên đã trả lại cho anh P quản lý sử dụng.

Về dân sự, bồi thường thiệt hại: Anh Giàng Mí P đã nhận lại được tài sản và không có yêu cầu gì khác. Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu H phải bồi thường, hoàn trả số tiền 3.000.000 đồng. Chị Vàng A D2 không yêu cầu H bồi thường khuy khóa cửa bị hỏng.

Cáo trạng số 41/CT-VKSKV5 ngày 18 tháng 11 năm 2025 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng đã truy tố bị cáo Phùng Văn H về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà:

Bị cáo trình bày đã thực hiện hành vi như nội dung nêu trên và đồng ý với tội danh mà Kiểm sát viên luận tội, kết tội đối với bị cáo, ăn năn hối hận về hành vi phạm tội, đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt nhưng đã có lời trình bày đúng như nội dung vụ án đã được tóm tắt ở trên, không yêu cầu bồi thường thiệt hại và đề nghị xử lý hình sự bị cáo theo quy định pháp luật.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại trình bày thống nhất với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát, không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại và đề nghị áp dụng hình phạt tương xứng đối với bị cáo theo quy định pháp luật.

Kiểm sát viên đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Phùng Văn H phạm tội Trộm cắp tài sản, xử phạt bị cáo Phùng Văn H từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 13/9/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại không có yêu cầu. Về xử lý vật chứng không có. Bị cáo Phùng Văn H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện Kiểm sát nhân dân và người tiến hành tố tụng thuộc các cơ quan này trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng không có ý kiến về việc thu thập chứng cứ của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về hành vi “Trộm cắp tài sản”:

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của người chứng kiến, lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, kết luận định giá tài sản, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận như sau: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 03/9/2025, tại khu vực phòng trọ số 03 của khu N C, phường K, thành phố Hải Phòng, lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của bị hại, bị cáo Phùng Văn H đã lén lút chiếm đoạt của bị hại là anh Giàng Mí P 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu xanh, biển kiểm soát 23AU - 030.58 đã qua sử dụng trị giá 15.767.000 đồng. Nên hành vi của bị cáo Phùng Văn H đã phạm tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 41/CT-VKSKV5 ngày 18 tháng 11 năm 2025 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng truy tố bị cáo và lời luận tội, kết tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là đúng pháp luật.

- Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

[3] Tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là ít nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ gây mất trật tự trị an xã hội.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

[4] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[5] Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về nhân thân của bị cáo:

[6] Bị cáo là người sử dụng ma túy nên xác định bị cáo có nhân thân xấu.

- Về hình phạt chính áp dụng:

[7] Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, như vậy mức hình phạt chính mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp.

- Về hình phạt bổ sung:

[8] Tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự quy định hình phạt bổ sung là phạt tiền, do bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có nghề nghiệp ổn định và tài sản nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại, vấn đề dân sự:

[9] Không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

- Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng:

[10] Không có nên không xem xét giải quyết.

- Về những vấn đề khác:

[11] Chị Nguyễn Thị T đã cầm 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu xanh, biển kiểm soát 23AU - 030.58 của Phùng Văn H nhưng không biết chiếc xe này là do phạm tội mà có nên không có căn cứ để xử lý hình sự, đồng thời Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã chuyển tài liệu hồ sơ đến Văn phòng điều tra Công an thành phố H để xem xét xử lý vi phạm hành chính. Hành vi Phùng Văn H làm hỏng khuy khóa cửa của chị Vàng Thị D1, do giá trị tài sản nhỏ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xem xét xử lý Hào về hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản. Việc Phùng Văn H sử dụng ma tuý Methamphetamine, điều tra H không phạm tội Sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H thông báo đến Công an xã A, thành phố Hải Phòng là nơi thường trú của H để có biện pháp theo dõi, quản lý. Người bán ma tuý cho H, do không xác định được nhân thân lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh, điều tra làm rõ.

- Về án phí:

[12] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Về quyền kháng cáo:

[13] Bị cáo, người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Phùng Văn H phạm tội Trộm cắp tài sản.

Xử phạt bị cáo Phùng Văn H 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/9/2025.

Về án phí căn cứ vào các điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Phùng Văn H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - Trại tạm giam số 1, CATP Hải Phòng;
  • - VKSND khu vực 5 - Hải Phòng;
  • - THADS thành phố Hải Phòng;
  • - CQCSĐT Công an thành phố Hải Phòng;
  • - UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo; Người tham gia tố tụng khác;
  • - Phòng PV06, PC10 CATP Hải Phòng;
  • - Lưu: VT; HCTP; Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Trung Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 88/2025/HS-ST ngày 09/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HẢI PHÒNG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 88/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phùng Văn H - Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger