Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 7

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 88/2025/HNGĐ-ST

Ngày 28 tháng 11 năm 2025.

V/v tranh chấp xin ly hôn và nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thanh Toàn

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Hoa

Bà Phạm Thanh Tuyền

- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Vũ Linh – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 7 - An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 - An Giang tham gia phiên tòa: Ông Danh Bình – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 7 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 82/2025/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2025, về việc “Tranh chấp xin ly hôn, nuôi con chung", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 144/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 15 tháng 10 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 127/2025/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đoàn Thị Ngọc Q, sinh năm 1990 (Có mặt)

Căn cước công dân số: [...] do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 24/02/2022.

Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Nay là ấp T, xã T, tỉnh An Giang

- Bị đơn: Anh Nguyễn Minh T, sinh năm 1990 (Vắng mặt)

Căn cước công dân số: [...] do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 25/7/2022.

Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Nay là ấp T, xã T, tỉnh An Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 06/01/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Đoàn Thị Ngọc Q trình bày: Chị Q và anh T tự nguyện yêu thương nhau, chung sống vợ chồng và đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện C, tỉnh An Giang nay là xã B, tỉnh An Giang vào ngày 01/11/2017. Thời gian đầu chung sống, anh T nhập hộ khẩu về sống chung với chị Q ở xã B, huyện C, tỉnh An Giang. Trong quá trình chung sống, chị và anh T thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do anh T nhiều lần có thái độ không tôn trọng gia đình chị Q, thậm chí nhiều lần cự cãi với cha chị Q. Chị Q đã nhiều lần khuyên ngăn nhưng anh vẫn không thay đổi, thậm chí còn nhiều lần cãi nhau với chị Q về việc này, từ đó mâu thuẫn vợ chồng bắt đầu phát sinh, tình cảm vợ chồng ngày càng phai phạt, hiện tại mâu thuẫn tình cảm vợ chồng đã thật sự trầm trọng, không thể hàn gắn được. Chị Q và anh T đã ly thân khoảng 01 năm nay, anh T không có ý định hàn gắn tình cảm vợ chồng, thậm chí anh còn yêu cầu chị Q làm thủ tục ly hôn với anh. Nay chị Q yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Minh T.

Về con chung: Trong thời gian chung sống chị Q và anh T có một người con chung là cháu Nguyễn Minh S, sinh ngày 07/10/2019. Chị Q có nguyện vọng giao cháu S cho anh T nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, chị Q không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và nợ chung: Chị Q xác nhận không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết đã nhiều lần tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng cho bị đơn anh Nguyễn Minh T nhưng anh T đều vắng mặt.

Tại phiên tòa chị Q vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng, từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử sơ thẩm Thẩm phán chủ tọa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về trình tự thủ tục giải quyết vụ án. Riêng anh Nguyễn Minh T vi phạm các Điều 70 và 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Về nội dung vụ án thì xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Nguyễn Minh T có địa chỉ cư trú tại ấp T, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang nay là ấp T, xã T, tỉnh An Giang, theo quy định tại Điều 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 7 – An Giang.

[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự:

Bị đơn anh Nguyễn Minh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định pháp luật.

[2] Nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Q và anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện C, tỉnh An Giang nay là xã B, tỉnh An Giang vào ngày 01/11/2019. Cả hai bên đều đã đủ tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ khi đăng ký kết hôn do đó có cơ sở xác định đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cách sống, cách cư xử của anh T đối với các thành viên trong gia đình của chị Q, anh thường xuyên bất đồng quan điểm với cha anh chị Q. Chị Q đã nhiều lần khuyên nhũ nhưng chỉ làm mâu thuẫn tình cảm vợ chồng giữa chị và anh T càng trở nên nghiêm trọng. Chị và anh T đã sống ly hơn 01 năm nay. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn tình cảm vợ chồng giữa chị Q và anh T đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ anh T để ghi nhận ý kiến của anh nhưng anh T đều vắng mặt, không trình bày ý kiến của anh đối với yêu cầu khởi kiện của chị Q, qua đó thể hiện anh T đã không có nguyện vọng khắc phục mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm vợ chồng giữa anh và chị Q như trình bày của chị Q, kể từ thời điểm phát sinh mâu thuẫn, nhiều lần anh T yêu cầu chị Q ly hôn như lời trình bày của chị Q tại phiên tòa là có cơ sở.

Từ những cơ sở nhận định trên, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Đoàn Thị Ngọc Q được ly hôn với anh Nguyễn Minh T như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

[2.2] Về con chung: Trong thời gian chung sống chị Q và anh T có một người con là cháu Nguyễn Minh S, sinh ngày 07/10/2019. Chị Q có nguyện vọng nuôi cháu S đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con cùng chị. Hiện cháu S do anh T trực tiếp nuôi dưỡng, do đó để tạo mọi điều kiện tốt nhất cho cháu S được phát triển toàn diện về thể chất lẫn tinh thần, đảm bảo quyền và lợi ích mọi mặt của con chung chưa thành niên đồng thời không làm xáo trộn trong đời sống sinh hoạt, tâm lý phát triển của người con chung nên xét thấy cần tiếp tục giao cháu S cho anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp như quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát Khu vực 7 nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Anh T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Căn cứ các Điều 58; 81; 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 - An Giang là phù hợp.

[2.3] Về tài sản chung: Chị Đoàn Thị Ngọc Q không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.4] Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết

[3] Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc chị Đoàn Thị Ngọc Q phải chịu án phí sơ thẩm xin ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Đoàn Thị Ngọc Q được ly hôn với anh Nguyễn Minh T.
  2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Minh S, sinh ngày 07/10/2019 cho anh T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu S đủ 18 tuổi, anh T không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung, Hội đồng xét xử không xem xét.

Chị Đoàn Thị Ngọc Q có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung và không ai được quyền ngăn cản.

Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

  1. Về tài sản chung: Chị Đoàn Thị Ngọc Q không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  2. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Buộc chị Đoàn Thị Ngọc Q phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0015235 ngày 28/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang. Như vậy chị Q đã nộp xong.
  4. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND Khu vực 7-An Giang;
  • - Phòng THADS Khu vực 7 - An Giang;
  • - UBND xã Bình Hòa, tỉnh An Giang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Lê Thanh Toàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 88/2025/HNGĐ-ST ngày 28/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - AN GIANG về tranh chấp xin ly hôn và nuôi con chung

  • Số bản án: 88/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn và nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Đoàn Thị Ngọc Q yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Minh T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger