|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 88/2024/HSST Ngày 22-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Thanh Tùng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hồng Phúc
2. Ông Nguyễn Văn Hải
Thư ký phiên tòa: Ông Trang Hoàng Mỹ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Nhiều - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 77/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024, đối với các bị cáo:
- Nguyễn Thành Đ; sinh ngày 01 tháng 4 năm 1995, tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: khu phố C, thị trấn B, huyện B, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh S và bà Nguyễn Phú K; vợ chưa có; tiền sự, tiền án: không; nhân thân: ngày 04/9/2021, bị Công an thị trấn B xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, nộp phạt ngày 13-9-2021; bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 28-6-2024; có mặt.
- Nguyễn Văn L; sinh ngày 20 tháng 01 năm 2000, tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: ấp B, xã T, huyện B, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ1 và bà Trần Thị N; vợ Đặng Thị Ngọc H; tiền sự, tiền án: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 28-6-2024; có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Nguyễn Phú K, sinh năm 1974; nơi cư trú: khu phố C, thị trấn B, huyện B, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: khoảng 10 giờ 40 phút ngày 28/6/2024, Nguyễn Thành Đ điện thoại rủ Nguyễn Văn L hùn tiền mua ma túy để sử dụng, thì L đồng ý. Được cầm theo nỏ (dụng cụ sử dụng ma túy) điều khiển xe môtô biển số 70H8-5195 đến quán cà phê “Hội Tụ” vào chòi cuối cùng chờ L đến. Khoảng 11 giờ cùng ngày, Nguyễn Văn L cùng vợ là Đặng Thị Ngọc H đến quán cà phê “Hội Tụ”; L và H vào chòi riêng để H nằm nghỉ (do H là công nhân ca đêm mới về). Sau đó, L đi qua chòi của Được mỗi người hùn 100.000 đồng để mua ma túy sử dụng. Được điện thoại cho người phụ nữ tên T (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 200.000 đồng ma túy đá, giao hàng phía trước quán cà phê “Hội Tụ”. Khi mua được ma túy, Được đổ ma túy vào dụng cụ sử dụng trước rồi đưa cho L sử dụng thì bị bắt quả tang. Trong ngày 28/6/2024, xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của Nguyễn Thành Đ và Nguyễn Văn L, kết quả: dương tính với chất ma túy, loại Methamphetamine.
Tại Kết luận giám định số: 1312 ngày 05/7/2024, của Phòng K1 Công an T2, kết luận: mẫu chất tinh thể rắn (kí hiệu M) bên trong một ống thủy tinh trong suốt có một là ụ tròn gửi đến giám định là chất ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng 0,0276 gam.
Tại Bản cáo trạng số: 79/CT-VKSBC ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu truy tố bị cáo Nguyễn Thành Đ, Nguyễn Văn L về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: giữ nguyên bản Cáo trạng truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành Đ, Nguyễn Văn L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, 38, 58 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Đ từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù.
Biện pháp tư pháp: căn cứ Điều 106 của Bộ Luật tống tụng hình sự: xử lý vật chứng theo quy định.
Bị cáo không tranh luận và nói lời sau cùng: xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án có căn cứ xác định. Khoảng 10 giờ 40 phút ngày 28/6/2024, Được điện thoại rủ L hùn tiền mua ma túy để sử dụng, thì L đồng ý. Được cầm theo nỏ (dụng cụ sử dụng ma túy) điều khiển xe môtô biển số 70H8-5195 đến quán cà phê “Hội Tụ” thuộc khu phố C, thị trấn B chờ L đến. Khoảng 11 giờ cùng ngày, L cùng vợ là Đặng Thị Ngọc H đến quán cà phê “Hội Tụ”, chị H vào chòi riêng nằm nghỉ. Sau đó, L đi qua chòi của Được mỗi người hùn 100.000 đồng để mua ma túy sử dụng thì bị bắt quả tang. Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của Đ và L trong ngày cho kết quả: dương tính với chất ma túy, loại Methamphetamine. Kết luận giám định của Phòng K1 Công an T2: mẫu chất tinh thể rắn (kí hiệu M) bên trong một ống thủy tinh trong suốt có một là ụ tròn gửi đến giám định là chất ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng 0,0276 gam.
Như vậy, bị cáo là người nghiện ma túy, nhưng hùn tiền mua ma túy về sử dụng chung; hành vi nêu trên của các bị cáo đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; các bị cáo biết việc tổ chức, sử dụng ma túy nhà nước cấm, nhưng bị cáo Đ rủ bị cáo L sử dụng, thể hiện tính xem thường pháp luật; gây mất trật tự trị an tại địa phương; cần xử lý nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa.
[4] Khi quyết định hình phạt có xem xét:
[4.1] Tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[4.2] Tình tiết giảm nhẹ: các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo Đ đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự; đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Vật chứng:
[5.1] Trong quá trình điều tra thu giữ 01 xe mô tô biển số 70H8-5195, số máy: LC150FMG1262826, số khung: YX10001550326, nhãn hiệu: SIRENA, loại xe: hai bánh từ 50-175, màu sơn: nâu, dung tích 97 cm³, đã qua sử dụng; đây là xe của bà Nguyễn Phú K (mẹ bị cáo Đ); bị cáo dùng làm phương tiện sử dụng ma túy, bà K không biết, nên tuyên trả lại cho bà K.
[5.2] Ngoài ra, còn thu giữ của bị cáo Đ 01 điện thoại di động HONOR màu trắng; thu giữ của bị cáo L 02 điện thoại di động gồm: 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu tím, 01 điện thoại di động VIVO màu xanh, số IMEI 860671053969918 đã qua sử dụng. Đây là phương tiện dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
[5.3] Đối với 01 chai nước suối, trên nắp chai có gắn 01 đoạn ống thủy tinh có 01 đầu là ụ tròn, ống thủy tinh có gắn 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng, 01 bật lữa màu đỏ đã qua sử dụng. Đây là vật cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[6] Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành Đ, Nguyễn Văn L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Đ 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28-6-2024.
- Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 02 (hai) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28-6-2024.
- Các biện pháp tư pháp: căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 chai nước suối, trên nắp chai có gắn 01 đoạn ống thủy tinh có 01 đầu là ụ tròn, ống thủy tinh có gắn 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng, 01 bật lữa màu đỏ đã qua sử dụng.
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động HONOR màu trắng; 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu tím, 01 điện thoại di động VIVO màu xanh, số IMEI 860671053969918 đã qua sử dụng.
- T1 trả cho bà Nguyễn Phú K 01 xe mô tô biển số 70H8-5195, số máy: LC150FMG1262826, số khung: YX10001550326, nhãn hiệu: SIRENA, loại xe: hai bánh từ 50-175, màu sơn: nâu, dung tích 97 cm³, đã qua sử dụng.
- Về án phí: bị cáo Nguyễn Thành Đ và Nguyễn Văn L mỗi người phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, báo cho các bị cáo; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh. Riêng bà Nguyễn Phú K vắng mặt tại phiên tòa thì có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày niêm yết theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thanh Tùng |
Bản án số 88/2024/HSST ngày 22/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 88/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NG THANH DUOC - LOC - TO CHUC SD MA TUY
