Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VINH

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 88/2025/HS-ST

Ngày: 25/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồ Hòa

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quốc Đấu – Bà Trần Lệ Thi

- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Khắc Tân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Nguyên - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 90/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Đình T - Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 14 tháng 01 năm 1990 tại huyện N, tỉnh Nghệ An; Nơi đăng ký thường trú: Tổ dân phố E, thị trấn Q, huyện N, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 09/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Đình S – sinh năm 1964 và bà: Nguyễn Thị O – sinh năm 1961; Vợ, con: chưa có; Tiền án: - Ngày 21/4/2008, bị Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, xử phạt 27 tháng tù về tội "Huỷ hoại tài sản" và tội “Cướp tài sản”; - Ngày 29/9/2011, bị Tòa án nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An, xử phạt 30 tháng tù về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"; - Ngày 18/9/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, xử phạt 05 năm tù về tội "Trộm cắp tài sản" và tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có", chấp hành xong ngày 13/4/2019; - Bản án số 440/2020/HSST ngày 14/9/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, xử phạt 15 tháng tù về tội "Gây rối TTCC" và 24 tháng tù về tội "Chống người thi hành công vụ". Tổng hợp hình phạt chung hai tội là 39 tháng tù, chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/4/2023; Nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 113/QĐ-XPHC ngày 25/02/2025 của Ủy ban nhân dân thành phố V, tỉnh Nghệ An, xử phạt 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng) về hành vi “Tàng trữ trái phép công cụ hỗ trợ”. Tiền sự: Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 26/2024/QĐ-TA ngày 29/3/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, thời gian 12 tháng, chưa chấp hành xong. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/12/2024 đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào ngày 20/12/2024, Nguyễn Đình T đi vào thị xã Đ, tỉnh Quảng Trị chơi và gặp người bạn nam quen trước đây tên là N (không rõ lai lịch, địa chỉ). Ngày 23/12/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy hồng phiến nên T mua của N 01 (một) gói ma túy hồng phiến với giá 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng) để sử dụng và 01 (một) khẩu súng bắn đạn cao su cùng 08 (tám) viên đạn để phòng thân với giá 15.000.000 đồng (mười năm triệu đồng) thì được N cho thêm 01 (một) gói ma túy đá. Sau khi mua được ma tuý, T đã sử dụng 03 đến 04 lần. Ngày 28/12/2024, T chia số ma tuý còn lại thành nhiều gói nhỏ và cất giấu trong ví da, túi quần, túi áo khoác đang mặc trên người, còn khẩu súng T ở thắt lưng quần phía trước bụng rồi đón xe ô tô khách đi về thành phố V, tỉnh Nghệ An. Khoảng 20 giờ cùng ngày, khi đến thành phố V, T đón xe taxi đi đến nhà bạn là Hà Ngọc H (sinh ngày 23/12/1996) ở xóm E, xã H, thành phố V. T gọi điện thoại cho H thì H đang đi uống rượu ở xóm H, xã H, thành phố V cùng với Hồ Công H1 (sinh ngày 11/10/1999, trú tại khối D, phường C, thành phố V). H nói T đứng chờ. Một lúc sau, H1 điều khiển xe máy điện màu đỏ đen, biển số 37MĐ4 056.83 chở H đi về nhà H gặp T. H nói với T mẹ H đang ở nhà nên không vào nhà H chơi được. H rủ T sang nhà H1 chơi thì T đồng ý. Sau đó, H1 điều khiển xe máy điện chở H ngồi giữa, T ngồi phía sau đi đến nhà H1. Vào hồi 20 giờ 50 phút ngày 28/12/2024, khi H1, H và T đi đến phía trước số nhà F, đường N thuộc phường Q, thành phố V thì bị tổ công tác thuộc Phòng C Công an tỉnh N yêu cầu dừng xe để kiểm tra hành chính. Lúc này, do hoảng sợ nên T dùng tay phải lấy 01 (một) khẩu súng bắn đạn cao su cùng 08 (tám) viên đạn đang giắt ở đai quần phía trước bụng ra rồi ném xuống đường, khu vực phía trước số nhà F, đường N ở địa chỉ nêu trên rồi nhảy xuống khỏi xe máy điện bỏ chạy thì bị tổ công tác đuổi theo bắt giữ. Quá trình kiểm tra, tổ công tác phát hiện, thu giữ: Bên trong túi nhỏ phía trước bên phải chiếc quần bò mà T đang mặc 01 (một) túi polytylen màu trắng chứa 04 (bốn) viên nén hình tròn màu hồng (nghi là ma túy hồng phiến); bên trong túi áo khoác bên phải mà T đang mặc 01 (một) tờ giấy (loại giấy ăn) màu trắng quấn bên ngoài 01 (một) túi polytylen màu xanh chứa 109 (một trăm linh chín) viên nén hình tròn màu hồng (nghi là ma túy hồng phiến) và 01 (một) túi polytylen nhỏ màu trắng chứa chất tinh thể màu trắng (nghi là ma túy đá); bên trong ngăn nhỏ phía ngoài cùng của chiếc ví da màu đen mà T để ở trong túi quần phía sau bên phải đang mặc 01 (một) viên nén hình tròn màu hồng (nghi là ma túy hồng phiến). Tổ công tác đưa T đến nơi vứt khẩu súng, yêu cầu T nhặt lên để giao nộp. Thu giữ: 01 (một) khẩu súng ngắn, màu đen, ốp tay cầm bằng nhựa màu nâu, trên thân súng có ký hiệu “ZORAKI MOD 914-TD AUTO A3iZR3DTS01-2300552", trong hộp tiếp đạn có 08 (tám) viên đạn màu vàng. Tạm giữ: 01 (một) chiếc xe máy điện màu đỏ đen, biển số 37MĐ4 056.83. Người và tang vật được đưa về trụ sở Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. (H1 và H không biết việc T cất giấu ma tuý và khẩu súng trong người).

Tại Biên bản mở niêm phong kiểm tra đồ vật và niêm phong lại ngày 29/12/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V và Kết luận giám định số 04/KL-KTHS(Đ3-SĐ) ngày 03/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: “Khẩu súng thu giữ của Nguyễn Đình T gửi đến giám định là súng ZORAKI 914 bắn đạn đầu cao su, đạn hơi cay cỡ 9x22mm- thuộc công cụ hỗ trợ. Hiện tại súng còn sử dụng để bắn được. 08 (tám) viên đạn thu giữ của Nguyễn Đình T gửi đến giám định là đạn đầu cao su cỡ 9x22mm- thuộc công cụ hỗ trợ. Loại đạn này sử dụng được cho khẩu súng thu giữ của Nguyễn Đình T gửi đến giám định”.

Tại Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại ngày 29/12/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V và Kết luận giám định số 69/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 03/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: “Các mẫu viên nén hình tròn màu hồng (ký hiệu M1, M2, M3) và mẫu chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M4) thu giữ của Nguyễn Đình T gửi giám định đều là ma túy; loại Methamphetamine. Số viên nén hình tròn màu hồng thu giữ của Nguyễn Đình T có tổng khối lượng là 11,257 g (mười một phẩy hai trăm năm mươi bảy gam). Chất tinh thể màu trắng thu giữ của Nguyễn Đình T có khối lượng là 0,526 g (không phẩy năm trăm hai mươi sáu gam)”.

Cáo trạng số 129/CT-VKS-TPV ngày 27/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An đã truy tố bị cáo Nguyễn Đình T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o, g khoản 2 điều 249 BLHS.

Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm o, g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Đình T từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù; Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã được niêm phong dán kín, 01 ví da màu đen và 01 khẩu súng ZORAKI 914 bắn đạn đầu cao su, đạn hơi cay cỡ 9x22mm, 05 (năm) viên đạn - thuộc công cụ hỗ trợ thu giữ của Nguyễn Đình T; Buộc bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định pháp luật.

Bị cáo không tranh luận gì mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng khác của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Bản cáo trạng đã truy tố là đúng. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên toà. Như vậy, có cơ sở để kết luận: Vào hồi 20 giờ 50 phút ngày 28/12/2024, tại số nhà F, đường N thuộc phường Q, thành phố V, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Đình T đang có hành vi tàng trữ trái phép 11,783 gam ma túy loại Methamphetamine trong người để sử dụng thì bị tổ công tác Phòng Cảnh sát cơ động Công an tỉnh N kiểm tra hành chính, phát hiện bắt quả tang. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm o, g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

[2.2]. Vụ án thuộc loại rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy nên cần đưa ra mức án phù hợp đối với bị cáo. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội nhưng chỉ cần xử bị cáo khung hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là đủ nghiêm và thể hiện sự khoan hồng pháp luật. Đối với loại tội này ngoài hình phạt chính còn có hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét bị cáo hiện không có việc làm ổn định, không có tài sản riêng nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[3] Về vật chứng: Phong bì thư niêm phong vật chứng ma túy thu giữ của Nguyễn Đình T là chất cấm không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy; 01 ví da màu đen, 01 khẩu súng ZORAKI 914 bắn đạn đầu cao su, đạn hơi cay cỡ 9x22mm, 05 (năm) viên đạn - thuộc công cụ hỗ trợ thu giữ của Nguyễn Đình T không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Trong vụ án này, theo lời khai của Nguyễn Đình T về người bạn nam tên là N đã bán ma túy và công cụ hỗ trợ cho T không rõ lai lịch, địa chỉ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V không có cơ sở để kết luận.

Đối với Hà Ngọc H và Hồ Công H1, không biết việc Nguyễn Đình T cất giấu ma tuý và công cụ hỗ trợ nên không phạm tội.

[4] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm o, g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
  2. Về hình phạt: Áp dụng điểm o, g khoản 2 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình T 05 (Năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 29/12/2024.
  3. Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào điều 47 Bộ luật hình sự, điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ phong bì niêm phong chứa ma túy thu giữ của Nguyễn Đình T còn lại sau khi giám định; Tịch thu tiêu hủy 01 ví da màu đen, 01 khẩu súng ZORAKI 914 bắn đạn đầu cao su, đạn hơi cay cỡ 9x22mm, 05 (năm) viên đạn - thuộc công cụ hỗ trợ thu giữ của Nguyễn Đình T (Vật chứng có tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án thành phố Vinh theo phiếu nhập kho số NK 2025/138 ngày 27/02/2025).
  4. Về án phí: Căn cứ vào điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án buộc bị cáo Nguyễn Đình T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí HSST.
  5. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An./.

Nơi nhận

  • - VKS, THADS TP Vinh;
  • - Công an TP Vinh;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú (để biết);
  • - Lưu HS.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hồ Hòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 88/2025/HS-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma tuý)

  • Số bản án: 88/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma tuý)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án HSST
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger