|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 88/2025/DS-PT
Ngày: 19/3/2025
V/v: “Tranh chấp đòi lại QSD đất, QSD đất và hủy Giấy CNQSD đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Vĩnh Yên
Các Thẩm phán: Ông Dương Lê Bửu Thiện.
Ông Vũ Hồng Luyến.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Ánh Nhi – Thư ký tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai: Bà Nguyễn Hoàng Thế Anh - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 02/2025/TLPT-DS ngày 14 tháng 01 năm 2025 về việc “Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất, tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Do bản án dân sự sơ thẩm số: 175/2024/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành bị bà Lê Thị Ả kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2025/QĐ-PT ngày 10 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 130/2025/QĐ-PT ngày 26 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Ả, sinh năm 1949
Địa chỉ: Tổ A, ấp B, xã T, huyện L, Đồng Nai.
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Anh Ngô Đức H, sinh năm 1996; Địa chỉ: 5, ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (Theo văn bản uỷ quyền ngày 04/9/2024)
- Bị đơn:
- Ông Huỳnh Văn X, sinh năm 1955
- Bà Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm 1960
Cùng HKTT: Tổ A, ấp B, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
Cùng chỗ ở hiện nay: Khu dân cư T, ấp D, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Ngô Đa N1, sinh năm 1974
HKTT: E P, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ liên hệ: Số I, đường P, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Theo văn bản uỷ quyền ngày 20/5/2020)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Đồng Nai.
- Bà Thạch Kim H1, sinh năm 1965; Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
- Bà Trương Thị L; sinh năm 1966; Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
- Bà Trương Thị H2; sinh năm 1968; Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
- Bà Trương Thị N2; sinh năm 1954; Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
- Ông Trương Tấn L1; sinh năm 1971; Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
- Ông Trương Ngọc T; sinh năm 1960; Địa chỉ: Ấp D, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
- Ông Trương Tấn T1; sinh năm 1952; Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
- Bà Trương Thị Thu C; sinh năm 1974; Địa chỉ: Tổ G, khu phố M, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ: Khu P, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
- Người làm chứng: Bà Phan Thị N3, sinh năm 1957; Địa chỉ: Số nhà D, ấp C, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
(Anh H, ông N1 có mặt; đương sự còn lại và người làm chứng vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
* Theo đơn khởi kiện, các bản tự khai và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và trong quá trình xét xử, nguyên đơn và người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày:
Thửa đất số 93 tờ bản đồ số 23 diện tích 149,2m² tại ấp B xã T huyện L thuộc khu đất do ông Trương Văn T2, địa chỉ: ấp C xã T, huyện L khai phá sử dụng từ trước năm 1975. Đến năm 1990, ông T2 sang nhượng lại cho vợ chồng bà Ả sử dụng diện tích 1.720m² theo Giấy nhượng đất để cất nhà lập ngày 13/10/1990.
Trước khi thửa đất này được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, năm 1992 vợ chồng ông Huỳnh Văn X và bà Nguyễn Thị Hồng N có đến xin ở nhờ trên đất. Thấy vợ chồng ông X, bà N tại thời gian này có khó khăn về nơi ở nên vợ
chồng bà Ả đồng ý cho mượn đất để cất nhà tạm ở nhờ, lúc đầu chỉ cho ở nhờ một phần đất, sau đó ông X, bà N xin ở nhờ thêm vì phần đất kia quá chật hẹp nên bà Ả đã để vợ chồng bà N ở nhờ trên cả khu đất (nay thuộc thửa đất số 93 tờ bản đồ số 23 xã T có diện tích 149,2 m²), thời gian ở nhờ trên đất khoảng 10 năm (hết năm 2002). Việc cho mượn đất để ở nhờ hai bên không làm giấy tờ, mà chỉ thỏa thuận bằng miệng. Tuy nhiên cuối năm 2001 bà Ả đã nhắc vợ chồng ông X bà N trả lại đất cho bà Ả vì các con bà cũng đã lớn cần có nơi ở riêng. Ông X bà N hứa xin ở nhờ một vài năm nữa để ông bà mua đất cất nhà mới sẽ trả. Đến nay ông X bà N đã mua khu đất của S để cất nhà, và thời hạn mượn đất ở nhờ đã quá hạn, các con bà cũng cần có đất để xây dựng nhà ở riêng nên bà yêu cầu trả lại nhưng đến nay bà N không trả.
Bà N đề nghị Tòa án giải quyết:
Buộc vợ chồng ông Huỳnh Văn X bà Nguyễn Thị Hồng N trả lại cho bà Ả diện tích 149,2m² thuộc thửa đất số 93 tờ bản đồ 23, xã T huyện L, tỉnh Đồng Nai, phần diện tích đất này được giới hạn bởi các mốc 1, 2, 3, 4, 1 tại Bản đồ hiện trạng thửa đất số 4563/2024 ngày 09/8/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh L4.
Ngoài ra nguyên đơn không yêu cầu gì thêm.
* Theo đơn khởi kiện, các bản tự khai và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và trong quá trình xét xử, bị đơn và người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn trình bày:
Bị đơn xác định không có xin ở nhờ hay mượn đất của gia đình nguyên đơn như nguyên đơn trình bày.
Vào khoảng năm 1989, bà Lê Thị Ả có giới thiệu cho bị đơn mua đất của ông Trương Văn T2, lô đất có diện tích khoảng 150m² với giá 05 chỉ vàng 24k để cất nhà. Khi mua ông T2 có ghi giấy tay cho bị đơn nhưng do thời gian đã lâu nên bị đơn đã làm thất lạc mất. Vào thời điểm này, ông T2 là thầu xây dựng nên bị đơn có thuê ông T2 xây cho bị đơn một căn nhà kiên cố có diện tích chiều ngang là 5,6m, chiều dài 16m trên phần đất này. Ngay sau khi xây nhà xong, bị đơn có đến Ủy ban nhân dân xã T để đăng ký làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được trả lời là phần nhà, đất nêu trên nằm sát lộ giới nên không được cấp giấy.
Căn nhà và đất này hiện nay tọa lạc tại số A, tổ A, ấp B xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai, thuộc thửa đất số 93, tờ bản đồ số 23 xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
Khoảng thời gian cuối năm 2007, một lần nữa bị đơn có làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất nêu trên, nhưng do thời điểm này thửa đất thuộc diện quy hoạch lộ giới đường Hương lộ 2 nên không được duyệt hồ sơ để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Thế nhưng không biết do nguyên nhân nào mà phần nhà, đất nêu trên của bị đơn mua, xây dựng nhà để ở và sử dụng từ đó cho đến nay, nhưng lại được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất nêu trên cho bà Lê Thị Ả vào ngày 21 tháng 5 năm 2010.
Trong đơn phản tố bị đơn yêu cầu Toà án giải quyết:
- Huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 205064 do Ủy ban nhân dân huyện L cấp cho bà Lê Thị Ả ngày 21/5/2010.
- Công nhận quyền sử dụng đất diện tích 149,2m² thuộc thửa số 93, tờ bản đồ số 23 xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai cho bà Nguyễn Thị Hồng N và ông Huỳnh Văn X quản lý, sử dụng, phần diện tích đất này được giới hạn bởi các mốc 1, 2, 3, 4, 1 tại Bản đồ hiện trạng thửa đất số 4563/2024 ngày 09/8/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh L4.
Nay tại phiên tòa hôm nay bị đơn xin rút đối với yêu cầu phản tố hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vì đây là Giấy chứng nhận dựa trên cơ sở cấp đổi nên không phải là quyết định cá biệt. Còn đối với yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất bị đơn vẫn giữ nguyên.
* Theo lời khai có tại hồ sơ vụ án, đại diện Ủy ban nhân dân huyện L trình bày:
Đối với nội dung yêu cầu có ý kiến đối với yêu cầu phản tố về việc ông X, bà N yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB205064 do UBND huyện L cấp cho bà Lê Thị Ả ngày 21/5/2010; công nhận quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 93 tờ bản đồ số 23 xã T (trước đây là một phần diện tích của thửa đất số 1412 tờ bản đồ số 5 xã T) diện tích 149,2m² cho bà Nguyễn Thị Hồng N và ông Huỳnh Văn X sử dụng. Ủy ban nhân dân huyện L có ý kiến như sau:
- Theo bảng kê khai đất đai của Ủy ban nhân dân xã T đối với phần diện tích 1720m² thuộc thửa đất số 1412 tờ bản đồ số 5 xã T thể hiện: Nguồn gốc đất là do ông ngoại ông Trần Quang V để lại cho bà già vợ Nguyễn Thị B cho lại ông Trần Quang V năm 1976.
- Ngày 08/10/1993, ông Trần Quang V có đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phần diện tích 8.270m² (trong đó có phần diện tích 1.720m² thuộc thửa đất số 1412 tờ bản đồ số 5 xã T).
- Ngày 07/11/2001, UBND xã T có Tờ trình số 23/TT.UBX về việc đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (kèm theo danh sách các hộ gia đình cá nhân được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại xã T), trong đó có phần diện tích 1.720m² thuộc thửa đất số 1412 tờ bản đồ số 5 xã T cấp cho ông Trần Quang V.
- Ngày 08/4/2002, phòng Địa chính huyện L có Tờ trình số 763/TT.ĐC về việc đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong đó có phần diện tích 1.720m² thuộc thửa đất số 1412 tờ bản đồ số 5 xã T cấp cho ông Trần Quang V.
- Ngày 02/5/2002, Ủy ban nhân dân huyện B1 Quyết định số 948/QĐ.CT.UBH về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (kèm theo danh sách các hộ gia đình cá nhân được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại xã T), trong đó có phần diện tích 1.720m² thuộc thửa đất số 1412 tờ bản đồ số 5 xã T cấp cho ông Trần Quang V.
- Ngày 02/5/2002, Ủy ban nhân dân huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số U 441950 cho ông Trần Quang V phần diện tích 8.270m² (trong đó có phần diện tích 1.720m² thuộc thửa đất số 1412 tờ bản đồ số 5 xã T).
- Ngày 13/6/2006, gia đình ông Trần Quang V có Tờ thỏa thuận phân chia tài sản, được phòng Tư pháp huyện Long Thành chứng thực ngày 25/7/2006. Theo đó đồng ý cho mẹ là bà Lê Thị Ả, sinh năm 1949, thường trú ấp B xã T được quyền đứng tên quản lý, sử dụng và định đoạt số diện tích là 918m² (loại đất ONT+CLN bản đồ số 05, thửa 1412 đã có bản vẽ). Tổng số diện tích thỏa thuận chia là 918m²).
- Ngày 03/8/2006, bà Lê Thị Ả có Đơn xin đăng ký thừa kế quyền sử dụng đất phần diện tích 918m² thuộc một phần thửa đất số 1412 tờ bản đồ số 5 xã T.
- Ngày 03/8/2006, Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất huyện L Trích lục và biên vẽ bản đồ địa chính thửa đất số 1722/2006, ghi tên bà Lê Thị Ả nhận thừa kế quyền sử dụng đất do ông Trần Quang V để lại thể hiện diện tích 918m², thửa đất số 1412, tờ bản đồ số 5 xã T.
- Ngày 14/8/2006, Ủy ban nhân dân xã T có Tờ trình số 304/TTr-UBND-ĐC về việc đề nghị thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số U 441950 của ông Trần Quang V và cấp mới lại cho vợ là bà Lê Thị Ả phần diện tích 918m² thuộc một phần thửa đất số 1412 tờ bản đồ số 5 xã T.
- Ngày 25/8/2006, phòng T4 có Tờ trình số 1718/TTr.TN-MT về việc đề nghị thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số U 441950 của ông Trần Quang V và cấp mới lại cho vợ là bà Lê Thị Ả phần diện tích 918m² thuộc một phần thửa đất số 1412 tờ bản đồ số 5 xã T.
- Ngày 15/9/2006, Ủy ban nhân dân huyện L ban hành Quyết định số 3148/QĐ-CT-UBND về việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số U 441950 của ông Trần Quang V và cấp mới lại cho vợ là bà Lê Thị Ả phần diện tích 918m² thuộc một phần thửa đất số 1412 tờ bản đồ số 5 xã T.
- Ngày 17/10/2006, Ủy ban nhân dân huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AÐ 890399 cho bà Lê Thị Ả có diện tích 918m² thuộc thửa đất số 1412 tờ bản đồ số 5 xã T.
- Ngày 16/4/2008, bà Lê Thị Ả có đơn xin cấp lại, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất AÐ 890399 do Ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày 17/10/2006 có diện tích 918m² thuộc thửa đất số 1412 tờ bản đồ số 5 xã T và được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện L xác nhận.
- Ngày 21/5/2010, Ủy ban nhân dân huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 205064 đối với thửa đất số 93, BB 205066 đối với thửa đất số 94, BB 205065 đối với thửa đất số 95, tờ bản đồ số 23 xã T cho bà Lê Thị Ả.
Qua kiểm tra, rà soát hồ sơ trên, nhận thấy việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê Quang V1 và bà Lê Thị Ả là thực hiện đúng trình tự thủ tục quy định.
Đối với yêu cầu của đương sự trong vụ án đề nghị Toà án nhân dân huyện Long Thành căn cứ quy định của pháp luật để xem xét, xử lý đúng theo quy định.
* Theo các bản tự khai và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Thạch Kim H1 trình bày:
Bà là vợ của ông Trương Tấn N4 (chết năm 2023), ông N4 là con ruột của ông Trương Văn T2 và bà Lưu Thị P (ông T2, bà P đã chết trước chồng bà. Bà không biết việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông T2 đối với phần đất tranh chấp. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu phản tố của bị đơn bà không có ý kiến. Hàng thừa kế thứ nhất của ông N4 chỉ có bà. Bà không có yêu cầu độc lập gì trong vụ án này.
* Theo các bản tự khai và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị L trình bày:
Bà là con ruột của ông Trương Văn T2 và bà Lưu Thị P (ông T2, bà P đã chết). Bà không biết việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông T2 đối với phần đất tranh chấp. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu phản tố của bị đơn bà không có ý kiến. Bà không có yêu cầu độc lập gì trong vụ án này.
* Theo các bản tự khai và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị H2 trình bày:
Bà là con ruột của ông Trương Văn T2 và bà Lưu Thị P (ông T2, bà P đã chết). Bà không biết việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông T2 đối với phần đất tranh chấp. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu phản tố của bị đơn bà không có ý kiến. Bà không có yêu cầu độc lập gì trong vụ án này.
* Theo các bản tự khai và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị N2 trình bày:
Bà là con của ông Trương Văn T2 và bà Lưu Thị P (ông T2, bà P đã chết). Khoảng năm 1990 bà có biết việc bà N5 (tức bà Nguyễn Thị Hồng N) có đưa 05 chỉ vàng để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Trương Văn T2 là phần đất mà các bên đang tranh chấp. Bà có nghe việc mua bán đất, còn hai bên có
làm giấy tờ hay không bà không rõ. Sau đó bà N có thuê cha bà xây nhà trên đất để ở, ngôi nhà vẫn tồn tại cho đến ngày hôm nay.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu phản tố của bị đơn bà không có ý kiến. Bà không có yêu cầu độc lập gì trong vụ án này.
* Theo các bản tự khai và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trương Tấn L1 trình bày:
Ông là con trai của ông Trương Văn T2 và bà Lưu Thị P, cha mẹ ông đã chết. Ông được biết giữa bà Lê Thị Ả và bà Nguyễn Thị Hồng N, ông Huỳnh Văn X có xảy ra tranh chấp quyền sử dụng đất đối với thửa 93, tờ bản đồ số 23 xã T.
Về nguồn gốc thửa đất này là của ông Trương Văn T2. Đến khoảng năm 1982 đến 1983 thì cha ông bán lại phần đất trên cho bà Lê Thị Ả. Ông chỉ biết là có bán chứ không rõ chi tiết mua bán, không rõ bán với số tiền bao nhiêu và diện tích mua bán bao nhiêu, nhưng theo ông là bán hết phần diện tích đất bà Ả đang sử dụng hiện nay.
Vào khoảng năm 1992 do thấy hoàn cảnh bà N, ông X khó khăn, có con nhỏ nhưng nhà gần mé sông nên có cho bà N, ông X xây một ngôi nhà nhỏ ở nhờ. Do ông ở gần nên biết việc ở nhờ này, còn chi tiết ông không rõ. Ngoài ra, bà N, ông X có thuê cha ông là ông T2 xây nhà khi bà Ả cho bà N về ở nhờ trên đất. Ngôi nhà mà cha bà xây là ngôi nhà dưới của ngôi nhà hiện nay đang tranh chấp, đối với phần nhà trên thì ông không rõ xây dựng năm nào.
Đối với việc cha ông với bà N, ông X có quan hệ mua bán đất gì không thì ông không biết.
Ông không có yêu cầu độc lập trong vụ án này.
* Theo các bản tự khai và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trương Ngọc T trình bày:
Ông là con ruột của ông Trương Văn T2 và bà Lưu Thị P (ông T2, bà P đã chết). Ông không biết việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông T2 đối với phần đất tranh chấp. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu phản tố của bị đơn ông không có ý kiến. Ông không có yêu cầu độc lập gì trong vụ án này.
* Theo các bản tự khai và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trương Tấn T1 trình bày:
Ông là con ruột của ông Trương Văn T2 và bà Lưu Thị P (ông T2, bà P đã chết). Ông không biết việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông T2 đối với phần đất tranh chấp. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu phản tố của bị đơn ông không có ý kiến. Ông không có yêu cầu độc lập gì trong vụ án này.
* Theo các bản tự khai và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị Thu C trình bày:
Bà là con ruột của ông Trương Văn T2 và bà Lưu Thị P (ông T2 đã chết năm 2007, bà P đã chết năm 2004). Bà không biết việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông T2 đối với phần đất tranh chấp. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu phản tố của bị đơn bà không có ý kiến. Bà không có yêu cầu độc lập gì trong vụ án này.
* Theo lời khai có tại hồ sơ vụ án, người làm chứng bà Phan Thị N3 trình bày:
Vào khoảng năm 1987 đến năm 1990 (không rõ thời gian) bà có thấy bà Nguyễn Thị Hồng N có giao vàng cho ông Trương Văn T2, còn việc các bên có làm giấy tờ, mua bán đất hay không thì bà không biết. Sau đó bà N có thuê ông T2 xây nhà trên đất để ở, ngôi nhà vẫn còn đến ngày hôm nay. Đối với việc bà Lê Thị Ả mua lại đất của ông T2 là không đúng.
Ngoài ra bà không biết nội dung nào khác.
* Tại bản án số: 175/2024/DS-ST ngày 25/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành đã tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Ả đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng N, ông Huỳnh Văn X về việc "Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất" đối với diện tích đất 149,2m² thuộc thửa đất số 93, tờ bản đồ số 23 (bản đồ địa chính năm 2007) xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng N, ông Huỳnh Văn X đối với bị đơn bà Lê Thị Ả về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Công nhận cho bà Nguyễn Thị Hồng N, ông Huỳnh Văn X được quyền sử dụng diện tích đất 149,2m² thuộc thửa đất số 93, tờ bản đồ số 23 (bản đồ địa chính năm 2007) xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai, phần diện tích đất này được giới hạn bởi các mốc 1, 2, 3, 4, 1 tại Bản đồ hiện trạng thửa đất số 4563/2024 ngày 09/8/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh L4.
Các đương sự có trách nhiệm liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.
- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của ông Huỳnh Văn X, bà Nguyễn Thị Hồng N về việc huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 205064 do Ủy ban nhân dân huyện L cấp cho bà Lê Thị Ả ngày 21/5/2010.
Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo
- Ngày 21/10/2024 nguyên đơn bà Lê Thị Ả có ông Ngô Đức H là người đại diện theo ủy quyền kháng cáo một phần bản án đề nghị sữa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.
Ngày 18/3/2025 nguyên đơn bà Lê Thị Ả có ông Ngô Đức H là người đại diện theo ủy quyền có nộp đơn sửa đổi bổ sung đơn kháng cáo và đề nghị hủy bản
án sơ thẩm, với lý do là cấp sơ thẩm nhận định về chứng cứ trái quy định của pháp luật.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật từ khi thụ lý đến khi xét xử và tại phiên tòa phúc thẩm đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
Các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
- Về đường lối giải quyết vụ án: Xét kháng cáo của ông Ngô Đức H nhận thấy:
Phần diện tích đất tranh chấp 149,2m² thuộc thửa đất số 93, tờ bản đồ số 23 xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai được giới hạn bởi các mốc 1, 2, 3, 4, 1 tại Bản đồ hiện trạng thửa đất số 4563/2024 ngày 09/8/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh L4.
Nguyên đơn cho rằng phần diện tích đất nêu trên do vợ chồng bà Ả, ông V1 nhận chuyển nhượng của ông Trương Văn T2 từ năm 1990, khi nhận chuyển nhượng có làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo giấy tay “Giấy nhượng đất để cất nhà”, người mua bà Ả ký ghi rõ họ tên, người bán ông Trương Văn T2 ký ghi rõ họ tên, sau đó ông Trần Quang V đi làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 1.720m² thửa đất số 1412, tờ bản đồ số 5 xã T (trong đó có 300m² đất thổ cư, 1.420m² đất trồng cây lâu năm), sau khi ông V chết những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông V đã làm văn bản thỏa thuận di sản thừa kế cho bà Ả được quyền sử dụng phần diện tích đất trên, bà Ả đã đi cấp đổi thành 03 thửa đất là diện tích đất 125,3m² thuộc thửa đất số 94, tờ bản đồ số 23 xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai; diện tích đất 611,4m² thuộc thửa đất số 95 và diện tích đất 149,2m² thuộc thửa đất số 93 cùng tờ bản đồ số 23 xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
Bị đơn không thừa nhận ý kiến trình bày của nguyên đơn và cho rằng phần diện tích đất 149,2m² thuộc thửa đất số 93, tờ bản đồ số 23 xã T, huyện L do bị đơn nhận chuyển nhượng của ông Trương Văn T2, do thời gian đã lâu nên giấy tay mua bán đã bị thất lạc. Sau khi nhận đất, xây nhà bị đơn có đến UBND xã T để đăng ký kê khai xin Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được trả lời là phần nhà, đất nêu trên nằm sát lộ giới nên không được cấp giấy. Khoảng thời gian cuối năm 2007, một lần nữa bị đơn có làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất nêu trên, nhưng do thời điểm này thửa đất thuộc diện quy hoạch lộ giới đường Hương lộ 2 nên không được duyệt hồ sơ để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Xét thấy, tại công văn số 122/UBND ngày 20/5/2021 của UBND xã T cung cấp thông tin như sau:
- Nguồn gốc thửa 93, tờ bản đồ số 23 (trước đây là một phần của thửa 1412, tờ bản đồ số 5 xã T): Căn cứ theo thông tin cung cấp của các con ông Trương Văn T2, các hộ dân ở liền kề và những người lớn tuổi sinh sống gần vị trí thửa đất cũng như Đơn xin xác nhận chủ quyền nhà của bà Nguyễn Thị Hồng N: Một phần thửa 1412, tờ bản đồ số 5, có diện tích khoản 150m² là của ông Trương Văn T2 canh tác, quản lý, sử dụng trước năm 1990, năm 1990 được bà Nguyễn Thị Hồng N mua lại, xây nhà ở, quản lý và sử dụng từ năm 1990 cho đến nay.
- Quá trình sử dụng thửa đất số 93, tờ bản đồ số 23 có diện tích 149,2m²: Thửa đất này vào năm 1990 bà Nguyễn Thị Hồng N và ông Huỳnh Văn X xây căn nhà cấp 4 diện tích gần hết diện tích thửa đất, ông X và bà N đã ở và quản lý, sử dụng nhà đất từ đó đến nay.
- Nguồn gốc và quá trình sử dụng ngôi nhà cấp 4 trên đất:
- Ai là người đóng thuế trên phần đất đang tranh chấp là thửa đất ở 93 tờ bản đồ số 23: Thời điểm trước năm 2012, việc thu thuế tại UBND xã T thực hiện thủ công, ghi lưu bằng Biên lai giấy, vì thời gian quá lâu nên hiện nay UBND xã T không còn lưu trữ tài liệu, thông tin về việc nộp thuế của người sử dụng đất trên địa bàn xã. Từ thời điểm năm 2012 cho đến nay bà Nguyễn Thị Hồng N là người nộp thuế phi nông nghiệp trên phần đất đang tranh chấp là thửa đất số 93, tờ bản đồ số 23. Vì thời điểm năm 2012, sau khi có Pháp lệnh về thuế thì việc thu thuế của người dân đi nộp thuế phi nông nghiệp mới được ghi lưu trên hệ thống dữ liệu máy tính về thuế.
- Theo trình bày của bà Nguyễn Thị Hồng N thì trước đây khi bà N đi làm thủ tục kê khai cấp giấy đối với phần đất đang tranh chấp thì được UBND xã T trả lời là đất nằm trong lộ giới hương lộ B. Ý kiến của UBND xã như thế nào về việc này thì: UBND xã T không có ý kiến về việc này, bởi vì thời gian quá lâu cũng như
+ Nguồn gốc căn nhà: Ngôi nhà cấp 4 được bà Nguyễn Thị Hồng N và ông Huỳnh Văn X xây dựng từ năm 1990. Bà Nguyễn Thị Hồng N và ông Huỳnh Văn X đã ở trong căn nhà này và quản lý, sử dụng phần diện tích nhà đất nêu trên từ năm 1990 cho đến nay.
+ Khi xây dựng có xin phép chính quyền địa phương không: Khi xây nhà có xin phép chính quyền địa phương hay không thì hiện tại UBND xã T không rõ, vì thời gian quá lâu nên cơ sở dữ liệu không còn lưu trữ và thay đổi cán bộ quản lý qua nhiều kỳ. Nhưng vào năm 1993, bà Nguyễn Thị Hồng N có làm Đơn xin xác nhận chủ quyền nhà và đã được Ủy ban nhân nhân xã T xác nhận ngày 20/02/1993. Lãnh đạo Ủy ban ký đơn xác nhận nội dung đơn là ông Huỳnh Văn X1.
việc thay đổi cán bộ quản lý qua nhiều kỳ và hiện tại hệ thống cơ sơ dữ liệu của xã không còn lưu trữ.
- Ý kiến về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 1412, tờ bản đồ số 05 cho ông Trần Quang V:
Căn cứ theo tài liệu lưu trữ tại UBND xã T thì thửa 1412, tờ bản đồ số 5 được ông Trần Quang V (chồng bà Lê Thị Ả) kê khai trong Đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và Bảng kê khai đất đai ngày 08/10/1993 thì thửa đất này có nguồn gốc do “ông ngoại để lại cho bà già vợ Nguyễn Thị B cho lại tôi năm 1976” có tổng diện tích là 1.720m² trong đó có 300m² đất ở và 1.420m² đất Điều. Năm 2002, ông Trần Quang V được UBND huyện L cấp Giấy chứng nhận QSD đất số U 441950. Theo Biên bản hòa giải tại UBND xã T và Đơn đề nghị hòa giải ngày 19/7/2019 của bà Lê Thị Ả trình bày nguồn gốc thửa đất là của ông Trương Văn T2 chuyển nhượng lại cho bà Ả vào năm 1990. Do đó, UBND xã T nhận thấy về nguồn gốc thửa đất số 1412, tờ bản đồ số 05 thì bà Lê Thị Ả trình bày khác với ông Trần Quang V kê khai trong Đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và Bảng kê khai đất đai ngày 08/10/1993.
Như vậy, xét thấy lời trình bày của nguyên đơn về nguồn gốc đất đang tranh chấp là có sự mâu thuẫn. Nguyên đơn cung cấp cho Tòa án bản chính giấy tay “Giấy nhượng đất để cất nhà” đề ngày 13/10/1990 giữa người bán ông Trương Văn T2 với người mua bà Lê Thị Ả, giấy tay này có nội dung ông Thượng nhượng cho bà Lê Thị Ả 01 lô đất cất nhà ở với giá là 01 chỉ vàng. Giấy tay này không ghi thửa đất, tờ bản đồ cụ thể, cũng không có tứ cận, về diện tích thửa đất không thể hiện rõ diện tích là 1.720m² hay 720m². Mặt khác, thời điểm năm 1990 nếu ông T2 biết diện tích chuyển nhượng chính xác là 1.720m² để ghi vào giấy tay mua bán này là không phù hợp, vì khi ông V cấp giấy lần đầu vào năm 2002 với diện tích thửa 1412 là 1.720m², tuy nhiên ngày 05/4/2005 theo Quyết định số 718/QĐ.CT.UBH cho phép điều chỉnh diện tích thửa đất số 1412, tờ bản đồ số 05 trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên với diện tích 918m² (ONT: 300m², CLN: 618m²). Lý do chỉnh lý: Đo đạc sai ranh giới thửa đất khi đo đạc thành lập hồ sơ địa chính ban đầu của xã T. Như vậy diện tích thực tế của thửa 1412 là 918m² nên trên giấy tay mua bán nếu có ghi diện tích 1.720m² cũng không phù hợp với thực tế. Do đó, giấy tay do nguyên đơn cung cấp không có cơ sở để chứng minh việc nguyên đơn nhận chuyển nhượng của ông T2 thửa đất số 93, tờ bản đồ 23 (cũ) là một phần thửa 1412 xã T như nguyên đơn đã trình bày.
Xét lời khai của bị đơn cho rằng bị đơn nhận chuyển nhượng phần đất tranh chấp nêu trên từ ông Trương Văn T2, nhưng giấy tay mua bán đã thất lạc nhưng thực tế từ năm 1990 bị đơn đã xây nhà kiên cố và quản lý, sử dụng phần đất tranh chấp từ năm 1990 đến nay nhận thấy: tại Công văn số 122/UBND ngày 20/5/2021
của Ủy ban nhân dân xã T thể hiện nguồn gốc thửa 93, tờ bản đồ số 23 (trước đây là một phần của thửa 1412, tờ bản đồ số 5 xã T có nguồn gốc “là của ông Trương Văn T2 canh tác, quản lý, sử dụng trước năm 1990, năm 1990 được bà Nguyễn Thị Hồng N mua lại, xây nhà ở, quản lý và sử dụng từ năm 1990 đến nay”. Tại “Đơn xin xác nhận nhà ở đất ở” ngày 19/5/2008 của ông Huỳnh Văn X gửi Ủy ban nhân dân xã T cũng thể hiện nội dung ông nhận chuyển nhượng phần đất của ông T2 và đã xây cất nhà ở từ năm 1990 đến nay đã được Ủy ban nhân dân xã T xác nhận. Như vậy, mặc dù bị đơn không cung cấp được giấy tay mua bán nhưng từ những phân tích trên có cơ sở để cho rằng bị đơn đã nhận chuyển nhượng phần diện tích đất nêu trên của ông T2, sau khi nhận chuyển nhượng thì bị đơn đã thuê ông T2 là người trực tiếp xây nhà cho bị đơn. Do đó, lời khai của bị đơn về nguồn gốc phần diện tích đất tranh chấp do bị đơn nhận chuyển nhượng của ông T2 là có cơ sở để xem xét.
Việc nguyên đơn cho rằng do bị đơn không có chỗ ở nên nguyên đơn cho bị đơn mượn đất xây nhà từ năm 1992, thời gian cho mượn là 10 năm, khi mượn không lập giấy tờ là không căn cứ bởi lẽ nguyên đơn trình bày giữa nguyên đơn và bị đơn không có quan hệ họ hàng thân thích hay quen biết với nhau, nếu cho mượn đất thì khi đến hạn trả năm 2002, nguyên đơn cũng không khởi kiện bị đơn, mãi đến năm 2019 mới yêu cầu xã giải quyết tranh chấp. Ngoài lời khai, nguyên đơn không cung cấp được chứng cứ chứng minh, không được phía bị đơn thừa nhận do đó không có căn cứ để cho rằng bị đơn mượn đất của nguyên đơn để xây nhà.
Như vậy, Tòa án nhân dân huyện Long Thành tuyên xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Ả đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng N, ông Huỳnh Văn X về việc “Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất”; Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng N, ông Huỳnh Văn X đối với bị đơn bà Lê Thị Ả về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, công nhận cho bà Nguyễn Thị Hồng N, ông Huỳnh Văn X được quyền sử dụng diện tích đất 149,2m² thuộc thửa đất số 93, tờ bản đồ số 23 (bản đồ địa chính năm 2007) xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai được giới hạn bởi các mốc 1, 2, 3, 4, 1 tại Bản đồ hiện trạng thửa đất số 4563/2024 ngày 09/8/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh L4, đồng thời tuyên các đương sự có trách nhiệm liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai là có căn cứ.
Bà Lê Thị Ả kháng cáo không đồng ý quyết định của Bản án sơ thẩm, đề nghị bác toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn nhưng không có chứng cứ gì khác chứng minh cho yêu cầu của mình là có cơ sở nên không được chấp nhận.
Từ những phân tích trên, đề nghị HĐXX:
Không chấp nhận kháng cáo của ông Ngô Đức H – người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Lê Thị Ả.
Áp dụng khoản 1 Điều 308 BLTTDS giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 175/2024/DS-ST ngày 25/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị Ả có ông Ngô Đức H là người đại diện theo ủy quyền làm trong hạn luật định, nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung kháng cáo của nguyên đơn đề nghị sửa Bản án sơ thẩm số: 175/2024/DS-ST ngày 25/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành và kháng cáo một phần bản án đề nghị sửa bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn. Ngày 18/3/2025 nguyên đơn bà Lê Thị Ả có ông Ngô Đức H là người đại diện theo ủy quyền có nộp đơn sửa đổi bổ sung đơn kháng cáo và đề nghị hủy bản án sơ thẩm, với lý do là cấp sơ thẩm nhận định về chứng cứ trái quy định của pháp luật.
2.1. Về nguồn gốc, quá trình quản lý, sử dụng, quá trình đăng ký kê khai xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Phần diện tích đất tranh chấp 149,2m² thuộc thửa đất số 93, tờ bản đồ số 23 xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai được giới hạn bởi các mốc 1, 2, 3, 4, 1 tại Bản đồ hiện trạng thửa đất số 4563/2024 ngày 09/8/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh L4.
Nguyên đơn cho rằng phần diện tích đất nêu trên do vợ chồng bà Ả, ông V nhận chuyển nhượng của ông Trương Văn T2 từ năm 1990, khi nhận chuyển nhượng có làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo giấy tay “Giấy nhượng đất để cất nhà”, người mua bà Ả ký ghi rõ họ tên, người bán ông Trương Văn T2 ký ghi rõ họ tên, sau đó ông Trần Quang V đã đi làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 1720m² thửa đất số 1412, tờ bản đồ số 5 xã T (trong đó có 300m² đất thổ cư, 1420m² đất trồng cây lâu năm), sau khi ông V chết những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông V đã làm văn bản thỏa thuận di sản thừa kế cho bà Ả được quyền sử dụng phần diện tích đất trên, bà Ả đã đi cấp đổi thành 03 thửa đất là diện tích đất 125,3m² thuộc thửa đất số 94, tờ bản đồ số 23 xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai; diện tích đất 611,4m² thuộc thửa đất số 95 và diện tích đất 149,2m² thuộc thửa đất số 93 cùng tờ bản đồ số 23 xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
Bị đơn không thừa nhận ý kiến trình bày của nguyên đơn, bị đơn cho rằng phần diện tích đất 149,2m² thuộc thửa đất số 93, tờ bản đồ số 23 xã T, huyện L do bị đơn nhận chuyển nhượng của ông Trương Văn T2, do thời gian đã lâu nên giấy
tay mua bán đã bị thất lạc. Sau khi nhận đất, xây nhà bị đơn có đến Uỷ ban xã T để đăng ký kê khai xin Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được trả lời là phần nhà, đất nêu trên nằm sát lộ giới nên không được cấp giấy. Khoảng thời gian cuối năm 2007, một lần nữa bị đơn có làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất nêu trên, nhưng do thời điểm này thửa đất thuộc diện quy hoạch lộ giới đường Hương lộ 2 nên không được duyệt hồ sơ để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Theo lời khai của đại diện Ủy ban nhân dân huyện L và tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án thể hiện:
Thửa 1412, tờ bản đồ số 5 xã T được ông Trần Quang V (chồng bà Lê Thị Ả) kê khai trong đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và bảng kê khai đất đai ngày 08/10/1993 thì thửa đất này có nguồn gốc do “ông ngoại để lại cho bà già vợ Nguyễn Thị B cho lại tôi năm 1976” có tổng diện tích là 300m² đất ở và 1420m² đất Điều. Ngày 02/5/2002 ông Trần Quang V đã được Ủy ban nhân dân huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số U441950 ngày 02/5/2002 đối với diện tích đất 1.720m² (trong đó 300m² là đất thổ, 1.420m² là đất CNĐ) thuộc thửa đất số 1412, tờ bản đồ số 5 xã T; diện tích đất 4550m² (mục đích sử dụng: 2L) thuộc thửa đất số 437 và diện tích đất 2000m² thuộc thửa đất số 1041, cùng tờ bản đồ số 6 xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
Ngày 05/4/2005 theo Quyết định số 718/QĐ.CT.UBH cho phép điều chỉnh diện tích thửa đất số 1412, tờ bản đồ số 05 trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên với diện tích 918m² (ONT: 300m², CLN: 618m²). Lý do chỉnh lý: Đo đạc sai ranh giới thửa đất khi đo đạc thành lập hồ sơ địa chính ban đầu của xã T.
Năm 2006 ông V chết không để lại di chúc, ngày 25/7/2006 những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông V gồm bà Lê Thị Ả, chị Trần Ánh L2, chị Trần Thị Kim P1, anh Trần Quang L3, chị Trần Phương T3 và chị Trần Thảo S1 đã lập văn bản thỏa thuận di sản thừa kế cho bà Lê Thị Ả được toàn quyền sử dụng đối với diện tích đất 918m² thuộc thửa đất số 1412, tờ bản đồ số 5 xã T. Ngày 17/10/2006 bà Lê Thị Ả đã được Ủy ban nhân dân huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AÐ 890399 ngày 17/10/2006. Năm 2008 bà Ả đi làm thủ tục tách thửa, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 1412 nêu trên thành 03 thửa: Thửa 93,94,95 tờ bản đồ số 23 xã T và bà Ả đã được Ủy ban nhân dân huyện L cấp các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: số BB 205064 ngày 21/5/2010 đối với thửa đất số 93, tờ bản đồ số 23 xã T (trong đó 50m² là loại đất ONT, 149,2m² là loại đất trồng cây công nghiệp lâu năm); số BB 205066 ngày 21/5/2010 đối với thửa đất số 94, tờ bản đồ số 23 xã T (trong đó 50m² là loại đất ONT, 75,3m² là loại đất trồng cây công nghiệp lâu năm); số BB 205065 ngày 21/5/2010 đối với thửa đất số 95, tờ bản đồ số 23 xã T (trong đó 200m² là loại đất ONT, 411,4m² là loại
đất trồng cây công nghiệp lâu năm); Tại đơn xin cấp lại, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 16/4/2008 của bà Lê Thị Ả đối với thửa đất số 93, tờ bản đồ số 23 xã T, bà Ả khai nguồn gốc sử dụng đất “Do ông bà để lại từ năm 1985”.
Trong đơn khởi kiện và lời khai có tại hồ sơ vụ án, lời khai tại Biên bản hòa giải ở Ủy ban nhân dân xã T và tại phiên toà xét xử sơ thẩm, nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Ả khai nguồn gốc của phần diện tích đất tranh chấp của ông Trương Văn T2 khai phá sử dụng trước năm 1975, đến năm 1990 ông T2 sang nhượng lại cho nguyên đơn sử dụng.
Nguyên đơn cung cấp cho Tòa án bản chính giấy tay “Giấy nhượng đất cất nhà” đề ngày 13/10/1990 giữa người bán ông Trương Văn T2 với người mua bà Lê Thị Ả, giấy tay này có nội dung ông Thượng nhượng cho bà Lê Thị Ả 01 lô đất cất nhà ở với giá là 01 chỉ vàng. Giấy tay này không ghi thửa đất, tờ bản đồ cụ thể, cũng không có tứ cận thửa đất, về diện tích thửa đất không thể hiện rõ diện tích là 1.720m² hay 720m² vì có nét đứng trước số 720 cao chỉ bằng 1/3 của số 720, và cũng không rõ có phải là con số hay không? Tại phiên tòa người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn cũng xác định diện tích ghi trong giấy tay nêu trên không xác định được là số bao nhiêu, có khi thì lại xác định là số 1.720m². Trong quá trình giải quyết vụ án các đương sự cũng không cung cấp được mẫu chữ ký, chữ viết so sánh của ông T2 vào thời điểm khoảng năm 1990 để giám định xác định có phải là chữ ký và chữ viết của ông T2 hay không? Mặt khác vào thời điểm năm 1990 việc bên ông T2 biết diện tích chuyển nhượng chính xác 1.720m² để ghi vào giấy tay mua bán này là không phù hợp, vì khi ông V cấp giấy lần đầu diện tích thửa 1412 là 1.720m², tuy nhiên ngày 05/4/2005 theo Quyết định số 718/QĐ.CT.UBH cho phép điều chỉnh diện tích thửa đất số 1412, tờ bản đồ số 05 trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên với diện tích 918m² (ONT: 300m², CLN: 618m²). Lý do chỉnh lý: Đo đạc sai ranh giới thửa đất khi đo đạc thành lập hồ sơ địa chính ban đầu của xã T. Như vậy diện tích thực tế của thửa 1412 là 918m² nên trên giấy tay mua bán nếu như có ghi diện tích 1.720m² cũng không phù hợp với thực tế. Do đó, giấy tay do nguyên đơn cung cấp nêu trên không có cơ sở để chứng minh việc nguyên đơn nhận chuyển nhượng của ông T2 thửa đất số 93, tờ bản đồ 23 (cũ) là một phần thửa 1412) xã T như nguyên đơn đã trình bày.
Tại Công văn số 122/UBND ngày 20/5/2021 của Ủy ban nhân dân xã T cung cấp cho Tòa án thể hiện “Thửa 1412, tờ bản đồ số 5 được ông Trần Quang V (chồng bà Lê Thị Ả kê khai trong đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và Bảng kê khai đất đai ngày 08/10/1993 thì thửa đất này có nguồn gốc do “ông ngoại để lại cho bà già vợ Nguyễn Thị B cho lại tôi năm 1976” có tổng diện tích là 1.720m² trong đó có 300m² đất ở và 1.420m² đất Điều”.
Như vậy lời khai về nguồn gốc đất của nguyên đơn bà Ả là có sự mâu thuẫn, đồng thời lời khai của bà Ả cũng mâu thuẫn với kê khai về nguồn gốc đất của ông V (chồng bà Ả) có tại hồ sơ cấp giấy.
Từ những nhận định nêu trên, xét thấy lời khai của nguyên đơn về nguồn gốc đất là không có cơ sở xem xét.
Xét lời khai của bị đơn, bị đơn cho rằng nhận chuyển nhượng phần đất tranh chấp nêu trên từ ông T2, nhưng giấy tay mua bán đã thất lạc. Tuy nhiên thực tế từ năm 1990 bị đơn đã xây nhà kiên cố và quản lý, sử dụng phần đất tranh chấp từ năm 1990 đến nay. Mặt khác tại Công văn số 122/UBND ngày 20/5/2021 của Ủy ban nhân dân xã T cung cấp cho Tòa án thể hiện nguồn gốc thửa 93, tờ bản đồ số 23 (trước đây là một phần của thửa 1412, tờ bản đồ số 5 xã T có nguồn gốc “là của ông Trương Văn T2 canh tác, quản lý, sử dụng trước năm 1990, năm 1990 được bà Nguyễn Thị Hồng N mua lại, xây nhà ở, quản lý và sử dụng từ năm 1990 đến nay”. Tại “Đơn xin xác nhận nhà ở đất ở” ngày 19-5-2008 của ông Huỳnh Văn X gửi Ủy ban nhân dân xã T thể hiện nội dung ông nhận chuyển nhượng phần đất của ông T2 và đã xây cất nhà ở từ năm 1990 đến nay đã được Ủy ban nhân dân xã T xác nhận. Như vậy mặc dù bị đơn không cung cấp được giấy tay mua bán nhưng từ những phân tích trên có cơ sở để cho rằng bị đơn đã nhận chuyển nhượng phần diện tích đất nêu trên của ông T2, sau khi nhận chuyển nhượng thì bị đơn đã thuê ông T2 là người trực tiếp xây nhà cho bị đơn. Như vậy lời khai của bị đơn về nguồn gốc phần diện tích đất tranh chấp do bị đơn nhận chuyển nhượng của ông T2 là có cơ sở để xem xét.
Việc nguyên đơn cho rằng do bị đơn không có chỗ ở nên cho bị đơn mượn xây nhà từ năm 1992, thời gian cho mượn nhà là 10 năm là không có cơ sở xem xét, bởi nguyên đơn và bị đơn không có quan hệ họ hàng thân thích, cũng không phải có mối quan hệ thân thiết nên việc nguyên đơn cho bị đơn mượn đất để ở nhờ là không phù hợp, mặt khác nguyên đơn cho rằng bị đơn có khó khăn về kinh tế nên cho bị đơn mượn đất. Nếu đặt trường hợp bị đơn có hoàn cảnh thực sự khó khăn thì không thể có điều kiện xây dựng căn nhà xây kiên cố ở trên phần diện tích đất tranh chấp, mặt khác nếu chỉ mượn đất thì vào thời điểm này bị đơn cũng không thể bỏ số tiền xây nhà có giá trị lớn để xây nhà trên phần đất không phải của mình. Đồng thời ngoài lời khai, nguyên đơn cũng không cung cấp được chứng cứ để chứng minh. Nên việc nguyên đơn trình bày cho bị đơn mượn đất là không có cơ sở xem xét.
2.2. Về quá trình đóng thuế:
Nguyên đơn khai có đóng thuế đối với phần diện tích đất tranh chấp, tuy nhiên nguyên đơn không cung cấp được cho Tòa án bản chính biên lai đóng thuế thể hiện đóng thuế đối với phần diện tích đất tranh chấp là thửa 93, tờ bản đồ số 23
(cũ là một phần của thửa 1412, tờ bản đồ số 5) xã T, các biên lai đóng thuế do nguyên đơn cung cấp là bản phô tô và cũng không thể hiện là đóng thuế đối với thửa đất đang tranh chấp. Nên không có chứng cứ để chứng minh nguyên đơn đã đóng thuế đối với phần đất tranh chấp.
Bị đơn khai đóng thuế đối với phần diện tích đất tranh chấp. Tuy nhiên không cung cấp được biên lai thu thuế do cho rằng đã bị thất lạc và cung cấp được Thông báo về việc xác nhận thực hiện nghĩa vụ thuế số 1639/TB-CCTKV ngày 03/4/2023 của Chi cục Thuế khu vực L5 – Nhơn Trạch xác nhận từ năm 2012 – 2021 bà Nguyễn Thị Hồng N, mã số thuế 8210011203 có kê khai tờ khai thuế sử dụng đất phi nông nghiệp ở địa chỉ thửa đất tổ A, ấp B, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai, tờ khai này cũng chỉ thể hiện địa chỉ thửa đất, không thể hiện tại thửa đất, tờ bản đồ nào.
Tại Văn bản số 3590/CCTKV-KK ngày 19/7/2024 của Chi cục Thuế khu vực L5 cung cấp cho Tòa án thể hiện: “Từ năm 2011 trở về trước: Căn cứ Pháp lệnh thuế nhà, đất số 69-LCT/HĐNN8 ngày 31/7/1992 của Hội đồng Nhà nước tại Chương 2, Điều 6 “Căn cứ tính thuế đất là diện tích đất, hạng đất và mức thuế”, không dựa trên cơ sở theo thửa đất, tờ bản đồ, do đó không xác định ai là người nộp thuế sử dụng đất đối với thửa đất nêu trên.
Từ ngày 01/01/2012, áp dụng Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp thay thế Pháp lệnh thuế nhà, đất năm 1992, người nộp thuế áp dụng kê khai trên tờ khai thuế sử dụng đất phi nông nghiệp (có thửa đất, tờ bản đồ).
Qua tra cứu trên hệ thống quản lý thuế, sổ thuế sử dụng đất phi nông nghiệp: Từ năm 2012 đến năm 2024 thông tin thửa đất số 93, tờ bản đồ số 23 xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai không có trên sổ thuế sử dụng đất phi nông nghiệp”.
Tại Công văn số 122/UBND ngày 20/5/2021 của Ủy ban nhân dân xã T cung cấp cho Tòa án có nội dung: “Thời điểm 2012, việc thu thuế tại Ủy ban nhân dân xã T thực hiện thủ công, ghi lưu bằng biên lai giấy, vì thời gian quá lâu nên hiện nay UBND xã T không còn lưu giữ tài liệu, thông tin về việc nộp thuế của người sử dụng đất trên địa bàn xã.
Từ thời điểm năm 2012 cho đến nay, bà Nguyễn Thị Hồng N là người nộp thuế phi nông nghiệp trên phần đất đang tranh chấp là thửa đất số 93, tờ bản đồ số 23 xã T."
Như vậy có đủ cơ sở để xác định phần diện tích đất tranh chấp từ năm 2012 đến khi xảy ra tranh chấp thì bà N là người nộp thuế phi nông nghiệp đối với phần diện tích đất tranh chấp.
2.3. Về thời gian khiếu nại, khởi kiện:
Nguyên đơn cho rằng cho bị đơn mượn đất từ năm 1992 với thời hạn là 10 năm. Tuy nhiên khi đến thời hạn trả đất năm 2002 nguyên đơn yêu cầu trả đất
nhưng bị đơn không trả, nhưng đến năm 2019 nghĩa là phải sau 14 năm kể từ ngày hết thời hạn cho mượn đất thì nguyên đơn mới khiếu nại ra Ủy ban nhân dân xã T để hòa giải tranh chấp, sau đó nguyên đơn mới khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết. Như vậy điều này càng có cơ sở cho thấy lời khai này của bị đơn là có cơ sở, bởi nêu thực tế bị đơn mượn đất của nguyên đơn thì khi đòi đất nguyên đơn không trả thì nguyên đơn phải khởi kiện, khiếu nại đòi lại đất thì mới phù hợp, nhưng phải đến 14 năm sau nguyên đơn mới thực hiện quyền này.
Cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở đúng quy định của pháp luật.
Về yêu cầu phản tố công nhận quyền sử dụng đất của bị đơn là có cơ sở để xem xét.
Nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ nào mới. Dó đó; Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của bà Lê Thị Ả. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 175/2024/DS-ST ngày 25/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.
[3]. Tại cấp sơ thẩm, bị đơn tự nguyện rút đối với yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vì cho rằng đây không phải là quyết định cá biệt và bị đơn cũng không tiếp tục yêu cầu Tòa án giải quyết đối với yêu cầu này, xét đây là sự tự nguyện của bị đơn nên cấp sơ thẩm đình chỉ xét xử đối với yêu cầu này theo quy định tại khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự là đúng quy định của pháp luật.
[4]. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và thẩm định giá tài sản: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và thẩm định giá tài sản hết số tiền: 53.749.000 đồng. Trong đó nguyên đơn đã đóng 27.308.000 đồng; bị đơn đã đóng 26.441.000 đồng.
Đối với số tiền xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và thẩm định giá bị đơn đã đóng hết số tiền 26.441.000 đồng. Bị đơn tự nguyện chịu chi phí này, nguyên đơn cũng thống nhất nên cần ghi nhận.
Đối với số tiền xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và thẩm định giá nguyên đơn đã đóng hết số tiền 27.308.000 đồng. Số tiền này các đương sự không ai tự nguyện chịu và đề nghị ai thua kiện phải chịu theo quy định của pháp luật. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không được được chấp nhận và yêu cầu phản tố của bị đơn được chấp nhận nên nguyên đơn bà Ả phải chịu chi phí này. Bà Ả đã đóng đủ số tiền này.
[5]. Về án phí:
Nguyên đơn bà Lê Thị Ả được miễn tiền án phí dân sự phúc thẩm.
[6] Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo cuả bà Lê Thị Ả. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 175/2024/DS-ST ngày 25/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.
Căn cứ vào Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, các điều 147, 227, 228, 235, 244, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các điều 95, 99, 100 và Điều 166 của Luật đất đai năm 2013; các điều 26, 31, 133, 137 của Luật đất đai năm 2024; Điều 223, 235 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Ả đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng N, ông Huỳnh Văn X về việc "Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất" đối với diện tích đất 149,2m² thuộc thửa đất số 93, tờ bản đồ số 23 (bản đồ địa chính năm 2007) xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng N, ông Huỳnh Văn X đối với bị đơn bà Lê Thị Ả về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Công nhận cho bà Nguyễn Thị Hồng N, ông Huỳnh Văn X được quyền sử dụng diện tích đất 149,2m² thuộc thửa đất số 93, tờ bản đồ số 23 (bản đồ địa chính năm 2007) xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai, phần diện tích đất này được giới hạn bởi các mốc 1, 2, 3, 4, 1 tại Bản đồ hiện trạng thửa đất số 4563/2024 ngày 09/8/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh L4.
Các đương sự có trách nhiệm liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.
- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của ông Huỳnh Văn X, bà Nguyễn Thị Hồng N về việc huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 205064 do Ủy ban nhân dân huyện L cấp cho bà Lê Thị Ả ngày 21/5/2010.
- Về chi phí tố tụng:
Bị đơn ông Huỳnh Văn X, bà Nguyễn Thị Hồng N phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và thẩm định giá với số tiền 26.441.000 đồng. Bà N, ông X đã nộp đủ số tiền này.
Nguyên đơn bà Lê Thị Ả phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và thẩm định giá với số tiền 27.308.000 đồng. Bà Ả đã nộp đủ số tiền này.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn bà Lê Thị Ả được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả lại cho bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng N, ông Huỳnh Văn X số tiền 300.000 đồng bà N, ông X đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004866 ngày 15/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long ThànL5.
Nguyên đơn bà Lê Thị Ả được miễn tiền án phí dân sự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
* Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Vĩnh Yên |
Bản án số 88/2025/DS-PT ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp đòi lại qsd đất, qsd đất và hủy giấy cnqsd đất
- Số bản án: 88/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại QSD đất, QSD đất và hủy Giấy CNQSD đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị A - Huỳnh Văn X - Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất, tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
