Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐIỆN BIÊN

TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 88/2025/HS-ST

Ngày: 17/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Tuyến

Các Hội thẩm nhân dân.

1. Ông Giàng A Khá

2. Bà Lò Thị Vinh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 100/2025/TL-HSST ngày 18 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2025/QĐXXST- HS ngày 06 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lường Văn L, T gọi khác: Không có; Sinh năm: 1993, tại Điện Biên; Nơi cư trú: Bản P, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hoá (học vấn): 3/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lường Văn P (đã chết) và con bà: Lường Thị H; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Có 02 tiền án chưa được xóa án tích, cụ thể: Ngày 15/3/2017, bị Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999, xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Ngày 27/8/2018 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 18/3/2020, bị Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt 06 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý. Ngày 30/7/2024 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù. Tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 14/01/2025, sau đó bị tạm giam cho đến nay - Có mặt tại phiên tòa.

* Người có nghĩa vụ liên quan: Anh Lò Văn B - Sinh năm: 1977; Địa chỉ: Bản C, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 13/01/2025, Lường Văn L đi bộ từ nhà ở bản P, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên đến khu vực đường thuộc bản X, xã T, huyện Đ, mục đích tìm mua ma tuý về sử dụng và bán kiếm lời. Tại đây, L gặp và mua được của một người đàn ông dân tộc Thái, khoảng 30 tuổi (không biết tên, địa chỉ) 02 gói Methamphetamine với giá 300.000 đồng. Mua xong, L cầm gói ma tuý ở tay rồi đi bộ về nhà cất giấu gói ma tuý vào lỗ gạch tường bao nhà L. Khoảng 12 giờ cùng ngày, khi L đang ở nhà thì Lò Văn B, trú tại bản Cha, xã T, huyện Đ đến nhà L hỏi mua 50.000 đồng Methamphetamine. L đồng ý lấy 01 gói Methamphetamine đã mua trước đó trong lỗ gạch tường bao nhà L mở ra lấy 01 viên Methamphetamine bị sứt mẻ, gói ngoài bằng mảnh nilon màu xanh rồi đưa cho B và nhận của B 50.000 đồng. Số Methamphetamine còn lại L gói lại cất vào chỗ cũ. Mua được ma tuý, B cầm ra khu vực bụi tre thuộc bản Phiêng Ban, xã T, huyện Đ sử dụng hết. Hồi 09 giờ 50 phút, ngày 14/01/2025, khi L đang ở nhà và lấy 02 gói Methamphetamine cất giấu trong lỗ gạch tường bao nhà L ra cầm ở tay phải chuẩn bị sử dụng thì bị tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma tuý, Công an huyện Đ phối hợp với Công an xã T, huyện Đ phát hiện, bắt quả tang, thu giữ tại tay phải Lún đang cầm 01 gói nilon màu đen, bên trong là lớp nilon màu hồng và 01 gói nilon màu hồng đều chứa Methamphetamine có tổng khối lượng là 1,09 gam. Số tiền 50.000 đồng bán ma tuý cho B, L đã mua thuốc lá hết nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng ngày 14/01/2025 đã xác định: Khối lượng toàn bộ các viên nén màu hồng nghi ma túy tổng hợp có tổng khối lượng là 1,09 gam, gửi toàn bộ giám định.

Tại Bản kết luận giám định số: 99/KL-KTHS ngày 20/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Vật chứng thu giữ của Lường Văn L ký hiệu M1, M2 có khối lượng 1,09 gam các viên nén màu hồng là chất ma túy: Loại Methamphetamine. H1 lại đối tượng giám định có biên bản đóng gói, niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám định kèm theo.

Tại biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định ngày 20/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh Đ: H1 lại mẫu sau khi giám định là: M1: 0,19 gam và M2: 0,67 gam.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định trên của phòng K Công an tỉnh Đ.

Về vật chứng của vụ án: Ngày 17/02/2025 cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã chuyển vật chứng của vụ án sang cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Điện Biên gồm: 0,86 gam Methamphetamine còn lại sau khi giám định, 01 mảnh ni lon màu đen và 02 mảnh ni lon màu hồng.

Bản cáo trạng số: 38/CT-VKSHĐB ngày 17/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Lường Văn L về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

* Căn cứ điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lường Văn L với mức hình phạt từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,86 gam Methamphetamine còn lại sau khi giám định; 01 mảnh ni lon màu đen và 02 mảnh ni lon màu hồng.

Truy thu của bị cáo Lường Văn L 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng) tiền bán ma túy cho anh Lò Văn B để sung quỹ Nhà nước.

* Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lường Văn L.

Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận, hoàn toàn nhất trí với bản Cáo trạng và luận tội của Kiểm sát viên. Thực hiện lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa Lường Văn L hoàn toàn thừa nhận trong ngày 13 và 14/01/2025, tại nhà ở của mình thuộc bản Phiêng Ban, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, Lường Văn L đã bán trái phép 01 viên Methamphetamine bị sứt mẻ cho Lò Văn B, thu được 50.000 đồng và cất giấu trái phép trên người 1,09 gam Methamphetamine mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Số ma túy trên là do L mua của một người đàn ông dân tộc T1 khoảng 30 tuổi (không biết tên, địa chỉ) tại bản Xôm, xã T, huyện Đ với số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và Biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan điều tra tiến hành thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, hành vi trên của bị cáo Lường Văn L đã đủ yếu tố cấu thành tội: "Mua bán trái phép chất ma túy" và là tình tiết định khung hình phạt được quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

...q) Tái phạm nguy hiểm.”

Lường Văn L là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

Từ những phân tích trên, khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Lường Văn L về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật.

[2] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Xét hành vi trên của bị cáo là rất nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, bởi nó đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy. Vì vậy, việc truy tố, xét xử và áp dụng mức hình phạt thỏa đáng đối với bị cáo là cần thiết có như vậy mới có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa các loại tội phạm về ma túy nói chung.

[3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Lường Văn L không có tiền sự nhưng có nhân thân rất xấu bởi trước đó bị cáo đã từng có 02 tiền án chưa được xóa án tích cụ thể: Tại Bản án số: 96/2017/HSST ngày 15/3/2017 bị Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Ngày 27/8/2018 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù. Tại Bản án số: 48/2020/HSST ngày 18/3/2020, Lún bị Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xử phạt 06 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý. Ngày 30/7/2024 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù. Như vậy, L đã có 02 tiền án chưa được xóa án tích, đã bị áp dụng tình tiết “Tái phạm” nay lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên phải chịu tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Nguyên nhân dẫn đến phạm tội là do bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật, sử dụng chất ma túy từ năm 2013, đến năm 2024 tái nghiện lại cho đến nay, vì muốn có ma túy để sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời nên tiếp tục phạm tội. Tuy nhiên trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, để thể hiện sự khoan hồng của Đảng, Pháp luật của Nhà nước ta đối với người phạm tội, Hội đồng xét xử cần xem xét giảm nhẹ phần nào về hình phạt cho bị cáo khi lượng hình. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo cần thiết phải có một hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật, đồng thời đây cũng là điều kiện thuận lợi để bị cáo từ bỏ được ma túy sớm trở lại hòa nhập với gia đình và cộng đồng.

Về họ tên và năm sinh của bố bị cáo có sự mâu thuẫn cụ thể: Tại Bản án số: 96/2017/HSST ngày 15/3/2017 của Tòa án nhân dân huyện Điện Biên ghi bố bị cáo là Lường Văn P1 - sinh năm 1942 và Tại Bản án số: 48/2020/HSST ngày 18/3/2020 của Tòa án nhân dân huyện Điện Biên ghi Lường Văn P1 - sinh năm 1947. Tuy nhiên, căn cứ vào lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, căn cứ vào Lý lịch bị can (BL: 86 - 89); Biên bản xác minh (BL: 94, 95); D chỉ bản (BL: 159 - 162); Công văn số: 10/CCCP-PV06 ngày 07/6/2025 của Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Đ (BL: 157, 158) thì có cơ sở xác định tên chính xác và năm sinh của bố bị cáo tại thời điểm hiện nay là Lường Văn P - sinh năm 1942 và có căn cứ xác định ông Lường Văn P1 - sinh năm 1942, ông Lường Văn P1 - sinh năm 1947 và Lường Văn P - sinh năm 1942 là cùng một người và là bố đẻ của bị cáo Lường Văn L.

Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù có thời hạn với mức hình phạt từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Ngoài hình phạt chính, theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy từ nhiều năm nay, thu nhập từ nghề làm ruộng thấp, mặt khác bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, bản thân bị cáo thuộc hộ cận nghèo, hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản đối với bị cáo.

[4] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện Đ; Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[5] Về xử lý vật chứng: Theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử cần: thu tiêu hủy 0,86 gam Methamphetamine còn lại sau khi giám định; 01 mảnh ni lon màu đen và 02 mảnh ni lon màu hồng không có giá trị sử dụng là vật chứng của vụ án.

Đối với số tiền 50.000 đồng bị cáo bán ma tuý cho anh Lò Văn B, bị cáo đã mua thuốc lá hết nên Cơ quan điều tra không thu giữ được. Vì vậy, cần truy thu của Lường Văn L số tiền 50.000 đồng của bị cáo để sung quỹ Nhà nước.

[6] Về các vấn đề khác: Lường Văn L khai nguồn gốc số ma túy trên bị cáo mua của một người đàn ông dân tộc Thái, khoảng 30 tuổi (không biết tên, địa chỉ) tại bản Xôm, xã T, huyện Đ nên cơ quan điều tra không có đủ cơ sở đề điều tra làm rõ. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đề cập việc xử lý đối với người này.

Lò Văn B mua của bị cáo L 01 viên Methamphetamine bị sứt mẻ và đã sử dụng hết nên không có căn cứ để xác định khối lượng Methamphetamine. Ngày 24/01/2025 Công an huyện Đ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 03/QĐ - XPHC với hình thức Cảnh cáo đối với Lò Văn B, về hành vi Sử dụng trái phép chất ma tuý.

[7] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm nhưng do bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, bản thân bị cáo thuộc hộ cận nghèo và tại phiên tòa bị cáo xin miễn án phí hình sự sơ thẩm. Vì vậy, theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14, Hội đồng xét xử quyết định miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Về tội danh: Căn cứ điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự Tuyên bố bị cáo Lường Văn L phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
  2. Về hình phạt: Áp dụng điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo: Lường Văn L 07 (Bẩy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (14/01/2025).

    Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,86 gam Methamphetamine còn lại sau khi giám định; 01 mảnh ni lon màu đen và 02 mảnh ni lon màu hồng không có giá trị sử dụng là vật chứng của vụ án.

    Vật chứng đã được Công an huyện Đ bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/02/2025 giữa Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

    Truy thu của bị cáo Lường Văn L 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng) tiền bị cáo bán ma túy cho anh Lò Văn B để sung quỹ Nhà nước.

  4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lường Văn L.
  5. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự bị cáo Lường Văn L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (17/3/2025).

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát huyện ĐB;
  • - Viện kiểm sát tỉnh Điện Biên;
  • - Công an tỉnh ĐB (PC04, PV06);
  • - Bị cáo;
  • - Chi cục Thi hành án DSHĐB;
  • - Toà án tỉnh Điện Biên;
  • - Phân trại TG khu vực thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên.
  • - Sở tư pháp tỉnh ĐB;
  • - Lưu hô sơ vụ án;
  • - Hồ sơ THA hình sự;
  • - Lưu VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Vũ Thị Tuyến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 88/2025/HS-ST ngày 17/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 88/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lường Văn L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger