|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG TỈNH VĨNH PHÚC |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 88/2024/HS-ST Ngày 20 tháng 8 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Đỗ Thành Công
Các hội thẩm nhân dân: Ông Phan Duy Lục – giáo viên hưu trí
Ông Nguyễn Ngọc Triển – cán bộ hưu trí
Thư ký phiên toà: Ông Lê Xuân Chín - Thư ký Toà án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: ông Lê Nhật Quang - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 64/2024/TLST - HS ngày 06 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:
-
Họ và tên: Nguyễn Lương A, sinh ngày 01 tháng 5 năm 2000
Nơi cư trú: thôn C, xã B, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Thái S và bà: Lương Thị Kim D; Vợ là Lê Thị S1; Con: chưa có.
Tiền án, Tiền sự: không.
Nhân thân: Ngày 09/10/2017 bị Công an huyện V xử phạt hành chính 1.000.000₫ về hành vi xâm hại sức khỏe người khác; đến nay chưa nộp phạt nhưng đã hết thời hiệu thi hành.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/10/2023 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh V, có mặt tại phiên tòa.
-
Họ và tên: Kiều Anh T, sinh ngày 30 tháng 11 năm 1998
Nơi cư trú: thôn K, xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Kiều Văn N và bà: Nguyễn Thị N1; Vợ là Lữ Thị Quỳnh L; Có 01 con, sinh năm 2022
Tiền án, Tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/10/2023 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, có mặt tại phiên tòa.
-
Họ và tên: Nguyễn Hải N2, sinh ngày 23 tháng 6 năm 2000
Nơi cư trú: thôn C, xã B, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Đức Q và bà: Nguyễn Thị S2; Vợ, con: chưa có.
Tiền án: không.
Tiền sự: Quyết định số 275/QĐ-XPHC ngày 28/8/2023 của Công an huyện V xử phạt 6.500.000đ về hành vi gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe người khác. Ngày 30/8/2023 N2 đã nộp phạt
Nhân thân: Quyết định số 233/QĐ-XPHC ngày 27/9/2019 của Công an huyện V xử phạt 2.000.000₫ về hành vi gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe người khác. N2 chưa nộp phạt, đã hết thời hiệu thi hành.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/10/2023 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh V, có mặt tại phiên tòa.
-
Họ và tên: Phan Văn T1, sinh ngày 28 tháng 12 năm 1992
Nơi cư trú: thôn C, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phan Văn T2 và bà: Mầu Thị Y; Vợ là Nguyễn Thị Thùy D1; Con: có 01 con, sinh năm 2019.
Tiền án, Tiền sự: không.
Nhân thân: bản án số 15/2022/HSST ngày 29/3/2022 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường xử phạt 10.000.000đ về tội “cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Ngày 27/6/2022 chấp hành xong bản án, đã được xóa án tích.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/10/2023 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, có mặt tại phiên tòa.
-
Họ và tên: Trần Thị Thu H, sinh ngày 21 tháng 3 năm 2000
Nơi cư trú: TDP H, thị trấn P, huyện P, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Anh S3 và bà: Đoàn Thị B; Chồng: chưa có; Con: có 01 con, sinh năm 2017.
Tiền án, Tiền sự: không.
Nhân thân: Ngày 15/6/2020 bị Công an phường N, thành phố P xử phạt 750.000đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; đã nộp phạt, được xóa tiền sự.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/10/2023 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh V, có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-
+ Chị Bàn Thị Kiều L1, sinh 10/11/2007, vắng mặt
Người đại diện: ông Bàn Văn H1, sinh năm 1985, vắng mặt
Nơi cư trú: thôn K, xã Q, huyện V, tỉnh Yên Bái
-
+ Chị Hoàng Thị H2, sinh ngày 12/5/2004, vắng mặt
Nơi cư trú: thôn K, xã Đ, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc
-
+ Chị Hà Thị Khánh L2, sinh 20/5/2002, vắng mặt
Nơi cư trú: thôn T, xã M, huyện Y, tỉnh Phú Thọ
-
+ Chị Lù Thị T3, sinh ngày 26/7/2006, vắng mặt
Người đại diện:
ông Lù Văn L3, sinh năm 1987 (bố đẻ chị T3)
Nơi cư trú: Bản N, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu
-
+ Chị Hoàng Thị Ngọc Á, sinh ngày 26/10/2005, vắng mặt
Nơi cư trú: thôn Q, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ ngày 02/10/2023, các đối tượng Nguyễn Hải N2, Nguyễn Lương A, Bùi Xuân T4, Phan Văn T1 cùng nhau đến quán L4, địa chỉ tại xã T, huyện V để nghe nhạc, uống rượu. Đến khoảng 01 giờ ngày 03/10/2023, sau khi uống rượu, nghe nhạc xong thì T4, T1, A, N2 rủ nhau sang quán K địa chỉ Khu T và nhà ở P, xã T (có chủ là Nguyễn Tiến T5 sinh năm 1985 trú tại xã B, huyện V) để hát và sử dụng ma tuý, cả bọn đồng ý.
Khi đi đến khu vực ngã tư giáp quán karaoke I và trụ sở Công ty T10 thì 04 người gặp đối tượng Kiều Anh T đang ngồi ở bàn ghế đá giáp Công ty T10. Do Anh có quen biết, chơi với T từ trước nên A rủ T1, N2 và T4 đi đến bàn ghế đá T đang ngồi chơi. Tại đây T1, N2, T4, T và A cùng bàn bạc, thống nhất với nhau việc sẽ thuê 01 phòng hát của quán K, thuê nhân viên, mua ma tuý với số lượng 02 viên ma túy kẹo và 06 chỉ ma túy ketamine về để sử dụng, ai có tiền thì ứng ra trước, sau đó hết bao nhiêu tiền thì sẽ chia đều cho nhau.
Thống nhất xong, Anh sử dụng sim thuê bao 0364.846.685 được lắp trong chiếc điện thoại di động nhãn hiệu nhãn hiệu Apple loại Iphone 12 Pro màu xanh đã cũ gọi đến số điện thoại 0877.156.xxx của 01 người tên là V (Anh không biết tên tuổi đầy đủ, quê quán ở đâu) để hỏi mua của V 02 viên ma túy kẹo và 06 chỉ ma túy ketamine. V đồng ý bán với giá 300.000 đồng/1 viên ma túy kẹo, 06 chỉ ma túy ketamine với giá 6.500.000 đồng, tổng là 7.100.000 đồng. Do không có tiền để trả ngay nên A bảo V cho nợ 02 đến 03 ngày sau sẽ trả, V đồng ý và hẹn ra khu vực cách điểm dừng đỗ của hãng taxi Bảo N3 khoảng 100m về phía quán K1 để giao dịch, mua bán ma tuý. Sau đó, Anh đi một mình ra điểm hẹn đợi khoảng 10 phút thì V một mình điều khiển xe máy không rõ biển kiểm soát đi đến gặp và đưa cho Anh 01 túi nilon màu xanh bên trong chứa 02 viên ma túy kẹo hình tròn màu trắng và 06 chỉ ma túy ketamine.
Do bị xoang không sử dụng được ma tuý ketamin nên T chủ động sử dụng điện thoại 0975.864.xxx của mình, gọi điện thoại cho V (là người đã bán ma tuý trước đó cho A (T không biết tên tuổi đầy đủ, quê quán ở đâu) có số điện thoại là 0877.156.xxx để hỏi mua của V 01 gói ma túy nước vui nhưng V bảo không có nhưng V biết người tên T8 có bán.
Sau khi mua được ma tuý, A đi quay lại và cùng N2, T đi đến quán K, còn T4 và T1 đến sau. Khi A, T, N2 đến quán gọi mở cửa thì được Hoàng Văn Q1 sinh năm 1996 trú tại xã Y, huyện V, tỉnh Yên Bái là nhân viên của quán K ra mở cửa. Anh bảo Q1 cho một phòng hát nhưng do quán đã hết phòng nên A bảo Q1 cho 01 phòng nghỉ và 03 nữ nhân viên, mục đích của Anh là thuê phòng sử dụng ma túy nhưng A không nói cho Q1 biết mục đích của A là gì, Q1 đồng ý và dẫn 03 người lên phòng 505. Tại phòng, A để túi ma túy ketamine và 02 viên ma tuý kẹo vừa mua được ở trên kệ bàn kê ở trong phòng để đợi mọi người có mặt đông đủ thì cùng sử dụng. Một lúc sau, có Trần Thị Thu H sinh năm 2000 trú tại thị trấn P, huyện P, tỉnh Gia Lai; Bàn Thị Kiều L1 sinh ngày 10/11/2007 trú tại xã Q, huyện V, tỉnh Yên Bái; Hà Thị Khánh L2 sinh năm 2002 ở xã M, huyện Y, tỉnh Phú Thọ - là 03 nữ nhân viên đi vào phục vụ. Thấy nhân viên vào phục vụ, Anh đi tìm xung quanh phòng thì thấy đĩa sứ, thẻ nhựa, bật lửa nên A lấy ra để ở giường rồi cầm gói ma túy ketamine đổ khoảng 1/6 số ma túy ở trong túi ra đĩa sứ và dùng bật lửa, thẻ nhựa xào ma túy. Khi Anh đang xào ma tuý thì T4, T1 đi vào phòng 505. Khi T4, T1 vào phòng thì A bảo Kiều L1 gọi thêm 02 nhân viên nữ nữa lên để phục vụ, Kiều L1 không biết mục đích Anh bảo gọi thêm nhân viên lên để làm gì nhưng đã làm theo và báo Q1 là nhân viên quán báo nhân viên lên phục vụ. Một lúc sau có Hoàng Thị H2 sinh năm 2004 trú taị xã Đ, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc vào phòng. Khi Anh xào ma túy thì có 01 nữ nhân viên hỏi T1: “Anh có năm mươi nghìn đồng không cho em xin tờ”, T1 hiểu ý người đó muốn có tiền để cuốn thành ống hút làm dụng cụ sử dụng ma tuý nên đã lấy tờ tiền polime mệnh giá 50.000 đồng từ trong ví ra để ở giường (sau đó có người đã cuốn tờ tiền thành ống hút để sử dụng ma tuý, T1 không biết ai). Sau khi H2 váo phòng, A cũng vừa xào ma túy ketamine xong và chia số ma túy trong đĩa ra thành hai đường nhỏ rồi tự sử dụng hết 02 đường ma túy đó, số ma túy còn lại trên đĩa Anh để trên giường để ai có nhu cầu thì sẽ đến tự chia ma túy ra sử dụng tiếp. Thấy Anh xào chưa kỹ nên H tự cầm thẻ nhựa ở trên đĩa tiếp tục giằm cho nát, mịn số ma túy ketamine trên để cho mọi người dễ sử dụng và tăng cảm giác phê hơn. Xào xong, H kẻ ma tuý trên đĩa thành các đường nhỏ rồi để đĩa sứ chứa ma túy ở trên đệm cho mọi người sử dụng. Sau đó, N2, T1, A, H, Kiều L1, Khánh L2 và H2 đều dùng chiếc ống hút cuộn bằng tờ tiền polime mệnh giá 50.000 đồng để hít trực tiếp ma tuý ketamine qua đường mũi vào trong cơ thể, còn T do bị xoang và thấy sử dụng ma tuý ketamine không phê nên không sử dụng.
Do không sử dụng được ma túy ketamine nên T hỏi N2, T1, T4, Anh là có sử dụng ma túy nước vui nữa không thì 04 người đồng ý. T4 nói: “Gọi nước vui đi để chơi cho vui”, T hiểu ý T4 bảo T hỏi mua ma túy nước vui để mọi người cùng sử dụng nên đáp lại: “Em không gọi được, anh có số của T8 không cho em để em gọi”, T4 hiểu ý rồi đọc số điện thoại 0983.919.xxx của T8 cho T để T gọi, tuy nhiên khi T gọi vào số thuê bao đó thì không thấy ai nghe máy. Một lúc sau, có số điện thoại 0777.205.xxx gọi đến số điện thoại của T, qua nói chuyện T biết người đó là T8 nên đã hỏi mua của T8 01 gói ma túy nước vui, Thìn báo giá là 3.500.000 đồng/01 gói, T đồng ý và bảo T8 đem đến quán K để giao ma túy. Khoảng 05 phút sau, T8 gọi điện thoại bảo T xuống cửa quán K để lấy ma túy. T đi xuống cửa quán nhận 01 gói ma túy nước vui màu đỏ và bảo T8 sẽ trả tiền sau rồi cất gói ma túy nước vui đó vào túi quần, đi lên phòng 505. T gọi Anh ra ngoài cửa phòng nói: “Trả tiền nước vui như thế nào”, mục đích T hỏi vậy là để hỏi Anh xem có tiền không để ứng ra trước trả cho T8 vì T không muốn nợ nần hay liên quan với T8, Anh nghe thấy vậy thì hiểu ý nhưng do không có sẵn tiền nên A đi vào phòng gọi T4 ra chỗ T đang đứng và nói với T4: “Em với T không có tiền đâu, anh xem có tiền không để trả tiền nước vui”, T4 biết là T đã hỏi mua được ma túy nước vui của T8 nên bảo T: “Gọi cho T8 đi để anh nói chuyện”. Sau đó, T gọi đến số điện thoại 0777.205.xxx của T8 và đưa máy điện thoại cho T4 nói chuyện với T8 và báo nợ tiền, sau đó T4, A, T đi vào phòng.
Khi vào phòng, T bảo H đi lấy nước bò húc, H hiểu ý T bảo lấy nước bò húc để pha với ma túy nước vui cho mọi người cùng nhau sử dụng nên đã đi xuống kho ở tầng 01 của quán lấy 04 lon nước bò húc mang lên phòng đưa cho T. T cầm 02 lon nước bò húc và mang theo gói ma túy nước vui vừa mua được cùng H đi lên phòng bếp ở tầng 7 của quán. Khi đến gian phòng bếp ở tầng 7, H chỉ vị trí ấm đun nước cho T. Sau đó T sử dụng ấm đun nước, mở 02 lon nước bò húc rồi đổ 1,5 lon vào ấm đun cho đủ ấm rồi đổ ra 01 bát loa màu trắng do H lấy và đã rửa sạch. Sau đó, T cầm bát loa chứa nước bò húc đang ấm cùng với 02 chiếc chén thủy tinh đi xuống phòng 505. T bóc gói ma túy nước vui, đổ chất bột ma túy vào bát, dùng vỏ gói khuấy cho tan ma túy với nước bò húc đang ấm ở trong bát loa và nói với mọi người: “Nước vui xong rồi, mọi người uống đi”. Sau đó, T dùng chén múc ma túy nước vui vừa pha được đưa cho mỗi người uống 01 chén, T tự múc uống 1,5 chén. Đến khoảng 03 giờ 15 phút cùng ngày có thêm Hoàng Thị Ngọc Á sinh ngày 26/10/2005 trú tại xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh đi vào phòng để phục vụ, sau đó sử dụng ma túy cùng mọi người.
Quá trình các đối tượng sử dụng ma tuý nước vui, T1 lấy một viên ma tuý kẹo màu trắng bẻ ra làm hai nửa rồi sử dụng 01 nửa viên bằng cách cho vào miệng nhai, nuốt trực tiếp vào trong cơ thể, nửa viên còn lại T1 đưa cho H2 để sử dụng nhưng H2 không sử dụng nên đã đi vào nhà vệ sinh để xả bỏ tại bồn cầu. Sau đó, T1 đưa cho H2 01 chén ma túy nước vui, H2 cầm và uống hết chén ma túy nước vui T1 đưa. Viên ma tuý kẹo còn lại, A cầm bẻ làm đôi rồi sử dụng nửa viên bằng cách cho vào miệng nhai, nuốt trực tiếp vào trong cơ thể. Nửa viên còn lại, A đưa cho Khánh L2, L2 không sử dụng mà cho vào miệng sau đó nhét vào miếng kẹo cao su đang nhai rồi nhả xuống sàn nhà.
Khoảng 05 giờ cùng ngày, do phòng 505 chật, không đủ chỗ cho cả bọn nằm nên cả bọn rủ nhau chuyển sang phòng khác rộng hơn. Sau đó, Bàn Thị Kiều L1 báo lễ tân cho đổi phòng rộng hơn để nằm nghỉ. Cả bọn được lễ tân bố trí lên phòng 601 của quán. Tại phòng 601, do không thấy ống hút để sử dụng ma túy ketamine đâu nên N2 đưa cho H 01 tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng và bảo: “Cuốn ống hút đi”. H hiểu ý N2 bảo dùng tờ tiền cuốn thành ống hút để sử dụng ma tuý nên cầm tờ tiền Nam đưa cuốn dọc thành ống hút, giữ cố định bằng 03 vỏ đầu lọc của điếu thuốc lá rồi để lên đĩa ketamine đã xào ở trên kệ để cho mọi người cùng nhau dùng ống hút đó để tiếp tục sử dụng ma túy ketamine.
Sau khi chuyển sang phòng 601, T thấy ma tuý nước vui đã sử dụng hết nên hỏi: “Mọi người có ai sử dụng nước vui nữa không”, thì N2, T1, A và T4 đều trả lời “có”. T sử dụng điện thoại của mình gọi đến số điện thoại 0777.205.xxx hỏi mua thêm ma túy nước vui của đối tượng tên T8. T8 đồng ý bán và bảo sẽ có một thanh niên khác đến giao ma túy cho T. Sau đó có số điện thoại 0982.503.xxx gọi cho T bảo T gửi vị trí đến tài khoản Zalo có tên “Tử Quân” để người này mang ma tuý nước vui đến. Khoảng 20 phút sau, số điện thoại 0982.503.xxx gọi cho T bảo T xuống cửa quán K để lấy ma túy nước vui, T đi ra cửa thì gặp 01 người đàn ông không quen biết, người này đưa cho T 01 gói ma túy nước vui màu đỏ giống với gói ma túy nước vui T mua trước đó. Sau khi mua được ma túy nước vui, T đi lên phòng 601 lấy 02 lon nước bò húc cùng với bát sứ đi lên tầng 7 của quán, mở 02 lon nước bò húc, đổ 1,5 lon vào ấm rồi đun cho đủ ấm thì đổ ra bát loa rồi cầm bát loa chứa nước bò húc đang ấm và gói ma túy nước vui vừa mua được đi xuống phòng 601 đến vị trí mọi người đang ngồi trên giường, bóc gói ma túy nước vui, đổ chất bột ma túy vào bát, dùng vỏ gói khuấy cho tan ma túy với nước bò húc đang ấm ở trong bát loa rồi múc 1,5 chén ma túy nước vui uống trước. Những người có mặt tại phòng tiếp tục cùng nhau sử dụng ma túy nước vui T pha và số ma túy ketamine còn lại. Quá trình sử dụng ma tuý, T1 đưa 01 chén ma túy nước vui cho H2, H2 cầm lấy uống hết khoảng một nửa chén rồi đưa lại cho T1, T1 cầm đổ lại vào bát để mọi người sử dụng.
Đến khoảng hơn 07 giờ cùng ngày, do không muốn Á phục vụ nên N2 đã bảo Á ra về và nhờ Khánh L2 gọi thêm 01 nữ nhân viên khác lên để phục vụ, Khánh L2 đồng ý và báo lễ tân gọi them 01 nhân viên lên phòng 601 phục vụ khách. Khoảng 20 phút sau, Lù Thị T3 sinh ngày 26/7/2006 ở xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu đến phòng 601 để phục vụ thay Ánh. Khi T3 vào thì N2 múc 02 chén ma túy nước vui đưa cho T3 uống. và N2 kẻ 03 đường nhỏ ma túy ketamine rồi mời T3 sử dụng. Sau đó, N2, T3 nằm gần nhau tận hưởng sự phê pha của ma túy.
Đến khoảng hơn 08 giờ 30 phút cùng ngày, do đã sử dụng hết số ma túy ma túy nước vui nên T, N2, T1, A, T4 thống nhất mua tiếp 01 gói ma túy nước vui nữa để sử dụng. T tiếp tục liên hệ và nhiều lần gọi điện thoại đến các số điện thoại 0877.156.xxx, 0777.205.624 và 0982.503.113 của V, T8 và người thanh niên giao ma túy nước vui cho T trước đó để mua ma túy nhưng đều không liên lạc được.
Đến khoảng hơn 10 giờ cùng ngày, do mọi người đã sử dụng hết số ma túy ketamine mà Anh mua trước đó nên N2 bảo T: “Mua ke đi”, T hỏi lại: “Mua bao nhiêu, nửa của nửa uốn nhé” (ý T là hỏi mọi người mua thêm 06 chỉ ma túy ketamine) thì N2, T1, A, T4 đồng ý. Do biết một người đàn ông tên là H5 (thường gọi là Hòa S4) sinh năm 2000 ở thị trấn V, huyện V bán ma túy ketamine nên T đã sử dụng số điện thoại của T gọi đến số 0965.340.444 để hỏi mua của H5 06 chỉ ma túy ketamine, Hòa đồng ý bán và T hẹn H5 đem đến quán K để giao bán. Khoảng 20 phút sau, T nhìn thấy cuộc gọi nhỡ của H5 thì hiểu H5 đã đến nên đi xuống cửa quán gặp H5, tại đây H5 đưa cho T 01 túi nilon không màu bên trong chứa 06 chỉ ma túy ketamine, T cầm túi ma túy ketamine và hẹn sẽ trả tiền sau rồi đem vào phòng đưa cho A. Anh để túi ma túy đó lên trên chiếc đĩa sứ thì N2 cầm đổ một ít ma túy ketamine ra đĩa sứ rồi xào để cho mọi người sử dụng. H thấy N2 xào chưa kỹ nên tự cầm thẻ nhựa ở trên đĩa tiếp tục giằm cho nát, mịn số ma túy ketamine trên để cho mọi người dễ sử dụng và sử dụng có cảm giác phê hơn, đồng thời kẻ thành các đường nhỏ cho mọi người sử dụng.
Khoảng hơn 13 giờ cùng ngày, do bận việc nên T4 đi về trước, lúc này trong phòng chỉ còn 09 người là A, T1, T, N2, H, Khánh L2, H2, Kiều L1 và T3 ở trong phòng 601 nằm sử dụng ma túy ketamine và tận hưởng sự phê pha của ma túy.
Khoảng 14 giờ 20 ngày 03/10/2023, tổ công tác Công an huyện V đến quán K kiểm tra. Khi thấy Công an kiểm tra do hoảng sợ các đối tượng trong phòng 601 bỏ chạy lên phòng ngủ của nhân viên tại tầng 8 của quán để ẩn náu. Tổ công tác kiểm tra phòng 601 phát hiện thấy nhiều đồ đạc phục vụ việc sử dụng trái phép chất ma tuý, nhưng không có ai tại phòng. Tổ công tác mở rộng kiểm tra phát hiện tại phòng ngủ của nhân viên tại tầng 8 của quán có 09 người là Nguyễn Hải N2, Nguyễn Lương A, Phan Văn T1, Kiều Anh T, Trần Thị Thu H, Bàn Thị Kiều L1, Lù Thị T3, Hà Thị Khánh L2, Hoàng Thị H2. Tổ công tác đã đưa các đối tượng trên quay trở lại phòng 601, các đối tượng đã thừa nhận hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý tại phòng 601, tổ công tác đã lập biên bản sự việc và thu giữ vật chứng gồm:
-
Tạm giữ của Kiều Anh T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone XS màu đen đã cũ; của Phan Văn T1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone XS màu trắng đã cũ; của Nguyễn Lương A 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 12 Pro màu xanh đã cũ; của Lù Thị T3 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 11 màu đen đã cũ; của Trần Thị Thu H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 12 Pro Max màu trắng đã cũ; của Hà Thị Khánh L2 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 8 Plus màu đen đã cũ; của Bàn Thị Kiều L1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone XS màu trắng đã cũ; của Hoàng Thị H2 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 12 Pro Max đã cũ.
-
T6 tại phòng 601:
-
+ Thu trên mặt chiếc đệm được chải ở dưới nền nhà gần cửa ra vào và gần nhà vệ sinh 01 đĩa sứ màu trắng, bên trên mặt đĩa có bám dính và chứa các hạt tinh thể màu trắng, đáy đĩa có bám dính chất màu đen. được niêm phong trong 01 hộp bìa cát tông được niêm phong theo đúng quy định của pháp luật ký hiệu A2; 01 thẻ nhựa (dạng thẻ của mạng Vietnamobile) có bám dính các hạt tinh thể màu trắng được niêm phong trong 01 phong bì thư theo đúng quy định của pháp luật ký hiệu A3; 01 ống hút được cuốn bằng tờ tiền polime mệnh giá 10.000đ được giữ cố định bằng 03 vỏ đầu lọc của điếu thuốc lá, mặt trong của ống hút có bám dính các hạt tinh thể màu trắng được niêm phong trong 01 phong bì thư theo đúng quy định của pháp luật ký hiệu A4; các hạt tinh thể màu trắng được thu lại, cho vào trong 01 túi nilon không màu có mép vuốt màu trắng được niêm phong theo đúng quy định của pháp luật ký hiệu A1.
-
+ T6 trên kệ gỗ (cách cửa ra vào phòng khoảng 03m): 02 bật lửa gas màu đỏ đã cũ, đã qua sử dụng, 01 loa màu đen nhãn hiệu harman/kardon.
-
+ T6 trên nền nhà dưới vị trí để bật lửa, loa nêu trên 01 bộ đèn nháy màu đen đã cũ.
-
+ Quá trình điều tra, Trần Thị Thu H3 (là quản lý của quán K) tự nguyện giao nộp 01 bát loa sứ màu trắng, miệng tròn, đường kính bát 18cm, cao 8cm; 02 chén thủy tinh trong suốt miệng tròn đường kính 4cm, cao 4,5cm; 01 bộ ấm đun nước siêu tốc.
-
* Xét nghiệm, giám định ma tuý:
Cơ quan CSĐT Công an huyện V phối hợp cùng Trạm y tế thị trấn V tiến hành kiểm tra nhanh ma tuý và thu mẫu nước tiểu của các đối Nguyễn Hải N2, Nguyễn Lương A, Phan Văn T1, Kiều Anh T, Trần Thị Thu H, Bàn Thị Kiều L1, Lù Thị T3, Hà Thị Khánh L2, Hoàng Thị H2, Hoàng Thị Ngọc Á. Các mẫu thu giữ được niêm phong theo quy định, ký hiệu lần lượt từ M1 đến M10. Kết quả kiểm tra nhanh các mẫu nước tiểu đều dương tính với ma tuý MDMA và Ketamine.
Ngày 03/10/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện V có Quyết định trưng cầu giám định số 548/QĐ-ĐCSKT-MT trưng cầu Phòng K2 - Công an tỉnh V giám định chất ma tuý đối với các mẫu ký hiệu A1, A2, A3, A4. Ngày 08/10/2023, Phòng K2 - Công an tỉnh V có Bản kết luận giám định số 2740, xác định:
Tinh thể màu trắng của mẫu ký hiệu Al gửi giám định có khối lượng 0,2832g (Không phảy hai tám ba hai gam, không kể bao bì) là ma túy, loại Ketamine.
Trên bề mặt của chiếc đĩa sứ hình tròn, màu trắng của mẫu ký hiệu A2 gửi giám định có bám dính chất ma túy, loại Ketamine.
Trên bề mặt của chiếc thẻ nhựa có in chữ “vietnamobile” của mẫu ký hiệu A3 gửi giám định có bám dính chất ma túy, loại Ketamine.
Trên ống hút được cuốn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000VNĐ của mẫu ký hiệu A4 gửi giám định có bám dính chất ma túy, loại Ketamine.
Không xác định được khối lượng chất bám dính trên các mẫu ký hiệu A2, A3, A4 do lượng mẫu quá ít.
Hoàn trả trực tiếp đối tượng giám định còn lại sau giám định cho cơ quan trưng cầu gồm: Mẫu A1 = 0,2325 gam, 01 chiếc đĩa sứ hình tròn màu trắng của mẫu A2, 01 thẻ nhựa in chữ “vietnammobile” của mẫu A3 và 01 ống hút được cuốn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng được cố định bằng 03 mảnh giấy màu vàng dạng vỏ đầu lọc thuốc lá của mẫu A4 được niêm phong chung trong một hột giấy catton, trên giáp lại có chữ ký của người tham gia đóng gói, niêm phong và hình dấu của Phòng K2 - Công an tỉnh V.
Ngày 03/10/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện V có các Quyết định trưng cầu giám định số 549, 550, 551, 552, 553, 554, 555, 556, 557, 558 trưng cầu Phòng Kỹ thuận hình sự - Công an tỉnh V giám định chất ma tuý trong mẫu nước tiểu của: Nguyễn Hải N2, Nguyễn Lương A, Phan Văn T1, Kiều Anh T, Trần Thị Thu H, Bàn Thị Kiều L1, Lù Thị T3, Hà Thị Khánh L2, Hoàng Thị H2, Hoàng Thị Ngọc Á. Ngày 09/10/2023, Phòng K2 - Công an tỉnh V có Bản kết luận giám định số 2743, xác định:
-
Tìm thấy chất ma túy MDMA và Ketamine trong mẫu chất lỏng màu vàng ghi là mẫu nước tiểu thu của Nguyễn Hải N2, SN: 2000, trú tại: thôn C, xã B, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc ký hiệu M1 gửi đến giám định.
Ngày 10/10/2023, Phòng K2 - Công an tỉnh V lần lượt có các Bản kết luận giám định số 2746, 2747, 2748, 2750, 2751, 2752, 2753, 2754, 2755 xác định:
-
Tìm thấy chất ma túy MDMA và Ketamine trong mẫu chất lỏng màu vàng ghi là mẫu nước tiểu thu của Bàn Thị Kiều L1, SN: 2003 ở xã Q, huyện V, tỉnh Yên Bái ký hiệu M6 gửi đến giám định.
-
Tìm thấy chất ma túy MDMA và Ketamine trong mẫu chất lỏng màu vàng ghi là mẫu nước tiểu thu của Trần Thị Thu H, SN: 2000, trú tại: Thị trấn P, huyện P, tỉnh Gia Lai ký hiệu M5 gửi đến giám định.
-
Tìm thấy chất ma túy MDMA và Ketamine trong mẫu chất lỏng màu vàng ghi là mẫu nước tiểu thu của Kiều Anh T, SN: 1998, trú tại: Thôn K, xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc ký hiệu M4 gửi đến giám định.
-
Tìm thấy chất ma túy MDMA và Ketamine trong mẫu chất lỏng màu vàng ghi là mẫu nước tiểu thu của Lù Thị T3, SN: 2006, trú tại: Xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu ký hiệu M7 gửi đến giám định.
-
Tìm thấy chất ma túy MDMA và Ketamine trong mẫu chất lỏng màu vàng ghi là mẫu nước tiểu thu của Hà Thị Khánh L2, SN: 2002, trú tại: Xã M, huyện Y, tỉnh Phú Thọ ký hiệu M8 gửi đến giám định.
-
Tìm thấy chất ma túy MDMA và Ketamine trong mẫu chất lỏng màu vàng ghi là mẫu nước tiểu thu của Hoàng Thị H2, SN: 2004, trú tại: Xã P, huyện L, tỉnh Yên Bái ký hiệu M9 gửi đến giám định.
-
Tìm thấy chất ma túy MDMA và Ketamine trong mẫu chất lỏng màu vàng ghi là mẫu nước tiểu thu của Hoàng Thị Ngọc Á, SN: 2005, trú tại: xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh ký hiệu M10 gửi đến giám định.
-
Tìm thấy chất ma túy MDMA và Ketamine trong mẫu chất lỏng màu vàng ghi là mẫu nước tiểu thu của Nguyễn Lương A, SN: 2000, trú tại: thôn C, xã B, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc ký hiệu M2 gửi đến giám định.
-
Tìm thấy chất ma túy MDMA và Ketamine trong mẫu chất lỏng màu vàng ghi là mẫu nước tiểu thu của Phan Văn T1, SN: 1992, trú tại: xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc ký hiệu M3 gửi đến giám định.
Hoàn trả trực tiếp đối tượng giám định còn lại sau giám định cho cơ quan trưng cầu gồm: 0,00 ml mẫu cùng toàn bộ bao gói được niêm phong kín, trên giáp lại có chữ ký của người tham gia đóng gói, niêm phong và hình dấu của Phòng K2 - Công an tỉnh V.
Cơ quan điều tra đã thông báo kết luận giám định nêu trên cho Nguyễn Hải N2, Nguyễn Lương A, Phan Văn T1, Kiều Anh T, Trần Thị Thu H, Bàn Thị Kiều L1, Lù Thị T3, Hà Thị Khánh L2, Hoàng Thị H2, Hoàng Thị Ngọc Á, các đối tượng không có ý kiến gì về nội dung bản kết luận.
Đối với Bùi Xuân T4, cơ quan điều tra đã tiến hành triệu tập làm việc nhiều lần đối với T4 nhưng T4 không có mặt tại địa phương, không ra làm việc. Quá trình điều tra xác định T4 đã có hành vi đồng phạm cùng với T1, Lương A, N2, T bàn bạc thống nhất với nhau việc sẽ thuê một phòng của quán K, thuê nhân viên và mua ma tuý với số lượng 02 viên ma túy kẹo và 12 chỉ ma túy ketamine và 2 túi ma tuý “nước vui”. Bên cạnh đó T4 còn có hành vi nghe điện thoại nhận nợ ma tuý mua của T8. Hành vi của Bùi Xuân T4 đã đủ yếu tố cấu hành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” với tình tiết “Đối với 02 người trở lên” và “Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi;” quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 BLHS. Cơ quan điều tra đã ra quyết định khởi tố bị can, lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Bùi Xuân T4. Ngày 26/4/2024, Cơ quan điều tra ra quyết định tách vụ án hình sự số 760 đối với T4 để tiếp tục điều tra.
Đối với Bàn Thị Kiều L1, Lù Thị T3, Hoàng Thị Ngọc Á, Hà Thị Khánh L2 và Hoàng Thị H2 là 05 người được T, A, T1, N2, T4, H tổ chức cho sử dụng trái phép chất ma túy quán K ngày 03/10/2023, quá trình điều tra xác định Kiều L1, T3, Á, Khánh L2 và H2 không tham gia, không giúp sức, không liên quan gì đến hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của những bị can nêu trên. Cơ quan điều tra đã chuyển Công an huyện V để đề nghị UBND tỉnh V ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy đối với Kiều L1, T3, Á, Khánh L2 và H2 theo quy định pháp luật.
Đối với anh Nguyễn Tiến T5 - chủ quán K, quá trình điều tra xác định việc các đối tượng có hành vi sử dụng và tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý tại phòng 505 và 601 vào ngày 03/10/2023 thì anh T5 không biết, không liên quan gì.
Đối với Trần Thị Thu H3 là quản lý quán K, Nguyễn Văn B1 và Hoàng Văn Q1 là nhân viên lễ tân quán K, quá trình điều tra xác định việc các đối tượng có hành vi sử dụng và tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý tại phòng 505, 601 vào ngày 03/10/2023 thì H3, Q1, B1 không biết, không liên quan gì.
Đối với đối tượng tên V khoảng hơn 20 tuổi là người Anh khai đã bán cho Anh 02 viên ma túy kẹo và 06 chỉ ma túy ketamine vào rạng sáng ngày 03/10/2023. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh xác định chủ số thuê bao 0877.156.205 mà Anh đã gọi để mua ma túy được đứng tên anh Trần Văn T7, sinh năm 1993 trú tại xã V, huyện T, tỉnh Nam Định. Anh T7 đăng ký chính chủ thuê bao nhưng quá trình sử dụng đã làm mất điện thoại và sim, anh T7 không đi làm lại và không sử dụng sim này nữa. Qua nhận dạng, A và T xác định người bán ma tuý cho A, người T liên hệ mua ma tuý không phải là anh T7. Do chưa xác định được người bán ma túy cho Anh là ai, ở đâu, do vậy Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xác minh, khi có căn cứ sẽ xử lý theo quy định pháp luật.
Đối với người tên T8 khoảng 30 tuổi là người T khai đã bán cho T 01 túi ma túy nước vui vào rạng sáng ngày 03/10/2023 ở khu vực trước cửa quán K. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh xác định chủ số thuê bao 0983.919.446 mà T đã gọi để mua ma túy nhưng không liên lạc được được đứng tên anh Nguyễn Văn T8 sinh năm 1988 trú tại xã T, huyện S, thành phố Hà Nội; còn số thuê bao 0777205624 là số điện thoại liên hệ với T để mua bán trái phép chất ma tuý có chủ thuê bao là Phùng Vinh Quang sinh năm 2005 ở xã Đ, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc. Quá trình điều tra xác định mẹ của Q2 là chị Trần Thị H4 sinh năm 1985 ở xã Đ là người sử dụng sim số thuê bao nêu trên tuy nhiên đến tháng 9 năm 2023 chị đã làm mất chiếc sim số thuê bao này. Cơ quan điều tra cho bị can T nhận dạng ảnh của Nguyễn Văn T8, T xác định người trong ảnh chính là người đàn ông tên T8 đã bán ma túy cho T vào rạng sáng ngày 03/10/2023. Cơ quan điều tra đã làm việc với Công an xã T xác định T8 thường xuyên vắng mặt tại địa phương, hiện không xác định được T8 đang ở đâu, làm gì. Do chỉ có lời khai của T nên chưa đủ cơ sở vứng chắc để xác định người bán ma tuý cho T ngày 03/10/2023 là đối tượng Nguyễn Văn T8. Do vậy, Cơ quan điều tra tiếp tục tiến hành điều tra xác minh, khi có căn cứ sẽ xử lý theo quy định pháp luật.
Đối với người thanh niên khoảng 20 tuổi T khai là người đã giao cho T 01 túi ma túy nước vui mua được của T8. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh xác định chủ số thuê bao 0982.503.113 T đã gọi để mua ma túy xác định chủ thuê bao là anh Phạm Văn N4 sinh năm 1988 trú tại thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Cơ quan điều tra đã làm việc với Công an thị trấn Y xác định N4 thường xuyên vắng mặt tại địa phương, hiện không xác định được N4 đang ở đâu, làm gì. Cơ quan điều tra đã cho bị can T nhận dạng ảnh của N4 và T khẳng định người trong ảnh không phải là người sử dụng số điện thoại 0982.503.xxx bán ma túy cho T vào rạng sáng ngày 03/10/2023. Do vậy, Cơ quan điều tra tiếp tục tiến hành điều tra xác minh, khi có căn cứ sẽ xử lý theo quy định pháp luật.
Đối với người nam thanh niên tên H5 (thường gọi là “Hòa Sẹo”) sinh năm khoảng 2000 nhà ở thị trấn V, huyện V, T khai đã bán 06 chỉ ma túy ketamine cho T vào rạng sáng ngày 03/10/2023 ở khu vực trước cửa quán K. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã xác minh xác định tại thị trấn V có 01 đối tượng tên là Hoàng Trần H5 sinh năm 2000; số điện thoại 0965.340.xxx mà T gọi để mua ma tuý là số điện thoại của H5. Cơ quan điều tra đã cho bị can T nhận dạng ảnh của H5 và T khẳng định người trong ảnh chính là người tên H5 đã bán ma túy cho T vào rạng sáng ngày 03/10/2023. Cơ quan điều tra đã triệu tập nhiều lần nhưng chưa làm việc được với H5. Do chỉ có lời khai của T nên chưa đủ cơ sở vững chắc để xác định hành vi phạm tội của H5. Do vậy, Cơ quan điều tra tiếp tục tiến hành điều tra xác minh, khi có căn cứ sẽ xử lý theo quy định pháp luật.
Quá trình điều tra, N2, A, T1, T, H, Khánh L2, Kiều L1, H2, Á, T3 đều không xác định được người đã cuốn tờ tiền polime mệnh giá 50.000 đồng do T1 đưa thành chiếc ống hút để cho mọi người sử dụng ma túy ketamine tại phòng 505; không xác định được người đã đem các dụng cụ sử dụng ma túy từ phòng 505 lên phòng 601. Cơ quan điều tra đã thực hiện triệt để đã biện pháp đấu tranh nhưng đến nay vẫn chưa xác định được ai, do vậy Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xác minh, khi có căn cứ sẽ xử lý theo quy định pháp luật.
* Về vật chứng của vụ án:
Đối với 02 chiếc bật lửa gas màu đỏ đã cũ, đã qua sử dụng thu trong phòng 601 quán karaoke I, quá trình điều tra xác định đó là dụng cụ mà các đối tượng đã dùng để sử dụng và tổ chức sử dụng trái phép chất ma.
Đối với chiếc loa màu đen nhãn hiệu harman/kardon và bộ đèn nháy màu đen đã cũ thu tại phòng 601 quán karaoke; 01 bát loa sứ màu trắng, 02 chén thủy tinh và 01 bộ ấm đun nước siêu tốc tại phòng bếp tầng 7 của quán do chị Trần Thị Thu H3 là quản lý của quán cung cấp, quá trình điều tra xác định các đồ vật trên đều là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Tiến T5, những đồ vật, tài sản này do anh T5 mua về để phục vụ việc kinh doanh quán karaoke I. Việc các đối tượng có hành vi sử dụng và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại quán K ngày 03/10/2023 thì anh T5 không biết, không liên quan gì. Do vậy, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trả lại cho anh T5 các đồ vật trên theo quy định, sau khi nhận tại tài sản anh T5 không có ý kiến gì.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 12 Pro màu xanh đã cũ mà cơ quan điều tra tạm giữ của Nguyễn Lương A, quá trình điều tra xác định chiếc điện thoại di động nêu trên là tài sản hợp pháp của bà Lương Thị Kim D sinh năm 1974 trú tại xã B (là mẹ đẻ của Anh). Khoảng đầu tháng 8/2023, do không có điện thoại để dùng nên A đã mượn chiếc điện thoại trên của bà D để nghe gọi, liên lạc bạn bè, gia đình, sau khi mượn điện thoại thì A đã lắp sim thuê bao 0364.846.685 của Anh vào máy để sử dụng; việc A sử dụng điện thoại để liên hệ mua ma túy về cho mọi người cùng nhau sử dụng vào ngày 03/10/2023 thì bà D hoàn toàn không biết, không liên quan gì. Do vậy, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trả lại cho bà D chiếc điện thoại trên là phù hợp, đối với sim thuê bao 0364.846.685 cần tịch thu tiêu hủy theo quy định.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone XS màu đen đã cũ bên trong lắp sim thuê bao 0975.864.905 tạm giữ của T, quá trình điều tra xác định đó là tài sản hợp pháp của T. Ngày 03/10/2023, T đã sử dụng chiếc điện thoại có gắn sim thuê bao trên để liên hệ mua ma túy về sử dụng và tổ chức sử dụng.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone XS màu trắng đã cũ bên trong lắp sim thuê bao 0867.955.519 tạm giữ của T1, quá trình điều tra xác định đó là chiếc điện thoại và sim thuê bao của T1, T1 không sử dụng để vi phạm phám luật gì.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 12 Pro Max màu trắng đã cũ bên trong có lắp sim thuê bao 0972.100.586 tạm giữ của H, quá trình điều tra xác định đó là chiếc điện thoại và sim thuê bao của H, H không sử dụng để vi phạm pháp luật gì.
Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu nhãn hiệu Apple loại Iphone 11 màu đen đã cũ bên trong lắp sim thuê bao 0962.624.214 tạm giữ của Thêm, chiếc điện thoại nhãn hiệu nhãn hiệu Apple loại Iphone 8 Plus màu đen đã cũ bên trong có lắp sim thuê bao 0384.629.502 tạm giữ của Khánh L2, chiếc điện thoại nhãn hiệu nhãn hiệu Apple loại XS màu trắng đã cũ bên trong có lắp sim thuê bao 0961.902.393 tạm giữ của Kiều L1, chiếc điện thoại nhãn hiệu nhãn hiệu Apple loại Iphone 12 Pro Max màu trắng đã cũ bên trong có lắp sim thuê bao 0385.504.526 tạm giữ của H2, quá trình điều tra xác định đó là tài sản hợp pháp của T3, Khánh L2, Kiều L1, H2; họ không sử dụng để vi phạm pháp luật gì.
Tại bản cáo trạng số: 71/CT-VKSVT ngày 05 tháng 6 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường truy tố Nguyễn Lương A, Kiều Anh T, Nguyễn Hải N2, Phan Văn T1, Trần Thị Thu H về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường luận tội đối với các bị cáo; giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Sau khi đánh giá, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Lương A, Kiều Anh T, Nguyễn Hải N2, Phan Văn T1, Trần Thị Thu H phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: điểm b, c khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 38; Điều 58, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với tất cả các bị cáo.
Áp dụng: khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Lương A, Nguyễn Hải N2.
- Xử phạt:
Nguyễn Lương A từ 07 năm 06 tháng đến 07 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/10/2023
Kiều Anh T từ 07 năm 06 tháng đến 07 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/10/2023
Nguyễn Hải N2 từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/10/2023
Phan Văn T1 từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/10/2023
Trần Thị Thu H từ 07 năm đến 07 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/10/2023
- Không đề nghị phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát cũng đề nghị xử lý vật chứng của vụ án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, hội đồng xét xử nhận định như sau:
-
Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
-
Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Lương A, Kiều Anh T, Nguyễn Hải N2, Phan Văn T1, Trần Thị Thu H khai nhận toàn bộ về hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo thừa nhận đã có hành mua ma túy, tổ chức cho người khác sử dụng từ rạng sáng đến 14 giờ 20 phút ngày 03/10/2023 tại quán K tại khu T và Nhà ở P, xã T, huyện V như nội dung bản cáo trạng đã truy tố là đúng và không có lời bào chữa nào khác.
Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với các lời khai, bản kiểm điểm của chính các bị cáo; lời khai, bản kiểm điểm của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; người làm chứng; tang vật chứng thu giữ; kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác thể hiện trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ căn cứ kết luận: Nguyễn Lương A, Kiều Anh T, Nguyễn Hải N2, Phan Văn T1, Trần Thị Thu H phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.
Điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào.....
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
b) Đối với 02 người trở lên
c) Đối với người từ đủ 13 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi ..”.
-
Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là táo bạo, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự trị an ở địa phương. Các bị cáo vì ham lợi cho bản thân, ham vui, hưởng lạc mà thực hiện hành vi tổ chức cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy, làm cho người sử dụng ma túy lệ thuộc vào chất ma túy, ảnh hưởng đến sức khỏe, có lối sống không lành mạnh, trái pháp luật và thuần phong, truyền thống dân tộc. Các bị cáo tổ chức cho 11 người sử dụng trái phép ma túy, trong đó có cả phụ nữ, người chưa đủ 18 tuổi nên tính chất mà mức độ phạm tội rất nghiêm trọng. Mặc dù các hành vi liên quan đến ma tuý đã được tuyên truyền giáo dục nhiều, song các tội phạm trên cũng chưa giảm, diễn biến phức tạp, thủ đoạn ngày càng tinh vi hơn. Vì vậy, phải đưa ra xử lý nghiêm minh trước pháp luật và có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo.
Khi xem xét hình phạt đối với các bị cáo, HĐXX đã cân nhắc đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo thấy rằng:
Tất cả các bị cáo sau khi phạm tội đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Các bị cáo vì ham vui, nhất thời phạm tội nên được xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.
Bị cáo Nguyễn Lương A và bị cáo Kiều Anh T là những người trực tiếp mua ma túy để tổ chức sử dụng, nên các bị cáo phải chịu mức án nghiêm khắc, cao hơn các bị cáo còn lại trong vụ án. Tuy nhiên, bị cáo Lương A có ông bà nội, ông ngoại là người có công, được tặng thưởng huân huy chương; có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, là lao động chính trong gia đình, được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên được xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt và thấp hơn bị cáo T.
Bị cáo Nguyễn Hải N2, Phan Văn T1 tham gia với vai trò đồng phạm tích cực; trực tiếp bàn bạc thỏa thuận, góp tiền để tổ chức sử dụng ma túy. Nên phải chịu một mức án tù nhất định; N2 là người có nhân thân xấu, có tiền sự về hành vi gây tổn hại sức khỏe người khác nhưng lại có ông nội là Nguyễn Ngọc T9 là liệt sỹ, được nhận bằng tổ quốc ghi công; do đó N2 và T1 được hưởng mức án bằng nhau.
Bị cáo Trần Thị Thu H là đồng phạm, thực hiện vai trò giúp sức, có vai trò thứ yếu. Do vậy, chỉ cần xử phạt bị cáo ở mức khởi điểm của khung hình phạt cũng đủ để dăn đe phòng ngừa.
-
Khoản 5 Điều 255 Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng,.......... tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Qua xem xét điều kiện, hoàn cảnh của các bị cáo thấy rằng: Các bị cáo không có việc làm ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
-
Đối với Bùi Xuân T4, cơ quan điều tra đã tiến hành triệu tập làm việc nhiều lần đối với T4 nhưng T4 không có mặt tại địa phương, không ra làm việc. Quá trình điều tra xác định T4 đã có hành vi đồng phạm cùng với T1, Lương A, N2, T9 bàn bạc thống nhất với nhau việc sẽ thuê một phòng của quán K, thuê nhân viên và mua ma tuý với số lượng 02 viên ma túy kẹo và 12 chỉ ma túy ketamine và 2 túi ma tuý “nước vui”. Bên cạnh đó T4 còn có hành vi nghe điện thoại nhận nợ ma tuý mua của T8. Hành vi của Bùi Xuân T4 đã đủ yếu tố cấu hành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” với tình tiết “Đối với 02 người trở lên” và “Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi;” quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 BLHS. Cơ quan điều tra đã ra quyết định khởi tố bị can, lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Bùi Xuân T4. Ngày 26/4/2024, Cơ quan điều tra ra quyết định tách vụ án hình sự số 760 đối với T4 để tiếp tục điều tra là phù hợp.
Đối với Bàn Thị Kiều L1, Lù Thị T3, Hoàng Thị Ngọc Á, Hà Thị Khánh L2 và Hoàng Thị H2 là 05 người được T9, A, T1, N2, T4, H tổ chức cho sử dụng trái phép chất ma túy quán K ngày 03/10/2023, quá trình điều tra xác định Kiều L1, T3, Á, Khánh L2 và H2 không tham gia, không giúp sức, không liên quan gì đến hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của những bị can nêu trên. Cơ quan điều tra đã chuyển Công an huyện V để đề nghị UBND tỉnh V ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định pháp luật là phù hợp.
Đối với anh Nguyễn Tiến T5 - chủ quán K; Trần Thị Thu H3 là quản lý quán K; Nguyễn Văn B1 và Hoàng Văn Q1 là nhân viên lễ tân quán K. quá trình điều tra xác định việc các đối tượng có hành vi sử dụng và tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý tại phòng 505, 601 vào ngày 03/10/2023 thì T5, H3, Q1, B1 không biết, không liên quan gì. Do vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý những người có tên trên là phù hợp.
Đối với đối tượng tên V khoảng hơn 20 tuổi là người Anh khai đã bán cho Anh 02 viên ma túy kẹo và 06 chỉ ma túy ketamine vào rạng sáng ngày 03/10/2023. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh xác định chủ số thuê bao 0877.156.205 mà Anh đã gọi để mua ma túy được đứng tên anh Trần Văn T7, sinh năm 1993 trú tại xã V, huyện T, tỉnh Nam Định. Anh T7 đăng ký chính chủ thuê bao nhưng quá trình sử dụng đã làm mất điện thoại và sim, anh T7 không đi làm lại và không sử dụng sim này nữa. Qua nhận dạng, A và T9 xác định người bán ma tuý cho A, người T9 liên hệ mua ma tuý không phải là anh T7. Do chưa xác định được người bán ma túy cho Anh là ai, ở đâu, do vậy Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xác minh, khi có căn cứ sẽ xử lý theo quy định pháp luật là phù hợp.
Đối với người tên T8 khoảng 30 tuổi là người T9 khai đã bán cho T9 01 túi ma túy nước vui vào rạng sáng ngày 03/10/2023 ở khu vực trước cửa quán K. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh xác định chủ số thuê bao 0983.919.446 mà T9 đã gọi để mua ma túy nhưng không liên lạc được được đứng tên anh Nguyễn Văn T8 sinh năm 1988 trú tại xã T, huyện S, thành phố Hà Nội; còn số thuê bao 0777205624 là số điện thoại liên hệ với T9 để mua bán trái phép chất ma tuý có chủ thuê bao là Phùng Vinh Quang sinh năm 2005 ở xã Đ, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc. Quá trình điều tra xác định mẹ của Q2 là chị Trần Thị H4 sinh năm 1985 ở xã Đ là người sử dụng sim số thuê bao nêu trên tuy nhiên đến tháng 9 năm 2023 chị đã làm mất chiếc sim số thuê bao này. Cơ quan điều tra cho bị can T9 nhận dạng ảnh của Nguyễn Văn T8, T9 xác định người trong ảnh chính là người đàn ông tên T8 đã bán ma túy cho T9 vào rạng sáng ngày 03/10/2023. Cơ quan điều tra đã làm việc với Công an xã T xác định T8 thường xuyên vắng mặt tại địa phương, hiện không xác định được T8 đang ở đâu, làm gì. Do chỉ có lời khai của T9 nên chưa đủ cơ sở vứng chắc để xác định người bán ma tuý cho T9 ngày 03/10/2023 là đối tượng Nguyễn Văn T8. Do vậy, Cơ quan điều tra tiếp tục tiến hành điều tra xác minh, khi có căn cứ sẽ xử lý theo quy định pháp luật là phù hợp.
Đối với người thanh niên khoảng 20 tuổi T9 khai là người đã giao cho T9 01 túi ma túy nước vui mua được của T8. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh xác định chủ số thuê bao 0982.503.113 T9 đã gọi để mua ma túy xác định chủ thuê bao là anh Phạm Văn N4 sinh năm 1988 trú tại thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Cơ quan điều tra đã làm việc với Công an thị trấn Y xác định N4 thường xuyên vắng mặt tại địa phương, hiện không xác định được N4 đang ở đâu, làm gì. Cơ quan điều tra đã cho bị can T9 nhận dạng ảnh của N4 và T9 khẳng định người trong ảnh không phải là người sử dụng số điện thoại 0982.503.xxx bán ma túy cho T9 vào rạng sáng ngày 03/10/2023. Do vậy, Cơ quan điều tra tiếp tục tiến hành điều tra xác minh, khi có căn cứ sẽ xử lý theo quy định pháp luật.
Đối với người nam thanh niên tên H5 (thường gọi là “Hòa Sẹo”) sinh năm khoảng 2000 nhà ở thị trấn V, huyện V, T9 khai đã bán 06 chỉ ma túy ketamine cho T9 vào rạng sáng ngày 03/10/2023 ở khu vực trước cửa quán K. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã xác minh xác định tại thị trấn V có 01 đối tượng tên là Hoàng Trần H5 sinh năm 2000; số điện thoại 0965.340.xxx mà T9 gọi để mua ma tuý là số điện thoại của H5. Cơ quan điều tra đã cho bị can T9 nhận dạng ảnh của H5 và T9 khẳng định người trong ảnh chính là người tên H5 đã bán ma túy cho T9 vào rạng sáng ngày 03/10/2023. Cơ quan điều tra đã triệu tập nhiều lần nhưng chưa làm việc được với H5. Do chỉ có lời khai của T9 nên chưa đủ cơ sở vững chắc để xác định hành vi phạm tội của H5. Do vậy, Cơ quan điều tra tiếp tục tiến hành điều tra xác minh, khi có căn cứ sẽ xử lý theo quy định pháp luật là phù hợp.
Quá trình điều tra, N2, A, T1, T9, H, Khánh L2, Kiều L1, H2, Á, T3 đều không xác định được người đã cuốn tờ tiền polime mệnh giá 50.000 đồng do T1 đưa thành chiếc ống hút để cho mọi người sử dụng ma túy ketamine tại phòng 505; không xác định được người đã đem các dụng cụ sử dụng ma túy từ phòng 505 lên phòng 601. Cơ quan điều tra đã thực hiện triệt để các biện pháp đấu tranh nhưng đến nay vẫn chưa xác định được ai, do vậy Cơ quan điều tra cần tiếp tục điều tra xác minh, khi có căn cứ sẽ xử lý theo quy định pháp luật.
-
Về vật chứng của vụ án
Đối với 02 chiếc bật lửa gas màu đỏ đã cũ, đã qua sử dụng thu trong phòng 601 quán karaoke I, quá trình điều tra xác định đó là dụng cụ mà các đối tượng đã dùng để sử dụng và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 03/10/2023. Do vậy, cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định.
Đối với chiếc loa màu đen nhãn hiệu harman/kardon và bộ đèn nháy màu đen đã cũ thu tại phòng 601 quán karaoke; 01 bát loa sứ màu trắng, 02 chén thủy tinh và 01 bộ ấm đun nước siêu tốc tại phòng bếp tầng 7 của quán do chị Trần Thị Thu H3 là quản lý của quán cung cấp, quá trình điều tra xác định các đồ vật trên đều là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Tiến T5, những đồ vật, tài sản này do anh T5 mua về để phục vụ việc kinh doanh quán karaoke I. Việc các đối tượng có hành vi sử dụng và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại quán K ngày 03/10/2023 thì anh T5 không biết, không liên quan gì. Do vậy, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trả lại cho anh T5 các đồ vật trên theo quy định, sau khi nhận tại tài sản anh T5 không có ý kiến gì nên HĐXX không xem xét.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 12 Pro màu xanh đã cũ mà cơ quan điều tra tạm giữ của Nguyễn Lương A, quá trình điều tra xác định chiếc điện thoại di động nêu trên là tài sản hợp pháp của bà Lương Thị Kim D sinh năm 1974 trú tại xã B (là mẹ đẻ của Anh). Khoảng đầu tháng 8/2023, do không có điện thoại để dùng nên A đã mượn chiếc điện thoại trên của bà D để nghe gọi, liên lạc bạn bè, gia đình, sau khi mượn điện thoại thì A đã lắp sim thuê bao 0364.846.685 của Anh vào máy để sử dụng; việc A sử dụng điện thoại để liên hệ mua ma túy về cho mọi người cùng nhau sử dụng vào ngày 03/10/2023 thì bà D hoàn toàn không biết, không liên quan gì. Do vậy, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trả lại cho bà D chiếc điện thoại trên là phù hợp, đối với sim thuê bao 0364.846.685 cần tịch thu tiêu hủy theo quy định.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone XS màu đen đã cũ bên trong lắp sim thuê bao 0975.864.905 tạm giữ của T9, quá trình điều tra xác định đó là tài sản hợp pháp của T9. Ngày 03/10/2023, T9 đã sử dụng chiếc điện thoại có gắn sim thuê bao trên để liên hệ mua ma túy về sử dụng và tổ chức sử dụng. Do vậy, cần tịch bán phát mại thu sung công quỹ Nhà nước đối với chiếc điện thoại và tiêu hủy đối với sim thuê bao trên.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone XS màu trắng đã cũ bên trong lắp sim thuê bao 0867.955.519 tạm giữ của T1, quá trình điều tra xác định đó là chiếc điện thoại và sim thuê bao của T1, T1 không sử dụng để vi phạm phám luật gì. Do vậy, cần trả lại cho T1 chiếc điện thoại và sim thuê bao trên nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 12 Pro Max màu trắng đã cũ bên trong có lắp sim thuê bao 0972.100.586 tạm giữ của H, quá trình điều tra xác định đó là chiếc điện thoại và sim thuê bao của H, H không sử dụng để vi phạm pháp luật gì. Do vậy, đề nghị trả lại cho H chiếc điện thoại và sim thuê bao trên nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu nhãn hiệu Apple loại Iphone 11 màu đen đã cũ bên trong lắp sim thuê bao 0962.624.214 tạm giữ của Thêm, chiếc điện thoại nhãn hiệu nhãn hiệu Apple loại Iphone 8 Plus màu đen đã cũ bên trong có lắp sim thuê bao 0384.629.502 tạm giữ của Khánh L2, chiếc điện thoại nhãn hiệu nhãn hiệu Apple loại XS màu trắng đã cũ bên trong có lắp sim thuê bao 0961.902.393 tạm giữ của Kiều L1, chiếc điện thoại nhãn hiệu nhãn hiệu Apple loại Iphone 12 Pro Max màu trắng đã cũ bên trong có lắp sim thuê bao 0385.504.526 tạm giữ của H2, quá trình điều tra xác định đó là tài sản hợp pháp của T3, Khánh L2, Kiều L1, H2; họ không sử dụng để vi phạm pháp luật gì. Do vậy, Cơ quan điều tra đã ra quyết định trả lại những tài sản trên cho chủ sở hữu theo quy định, sau khi nhận lại tài sản không ai có ý kiến gì nên HĐXX không xem xét trong vụ án.
Đối với mẫu vật gồm mẫu A1 = 0,2325 gam, 01 chiếc đĩa sứ hình tròn màu trắng của mẫu A2, 01 thẻ nhựa in chữ “vietnammobile” của mẫu A3 và 01 ống hút được cuốn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng được cố định bằng 03 mảnh giấy màu vàng dạng vỏ đầu lọc thuốc lá của mẫu A4 và 0,00 ml mẫu cùng toàn bộ bao gói do cơ quan giám định hoàn trả sau giám định, cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định của pháp luật. Riêng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
-
Về án phí: Tất cả các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
-
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Lương A, Kiều Anh T, Nguyễn Hải N2, Phan Văn T1, Trần Thị Thu H phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
-
Áp dụng: điểm b, c khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 38; Điều 58, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với tất cả các bị cáo.
Áp dụng: khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Lương A và bị cáo Nguyễn Hải N2.
-
Xử phạt:
Nguyễn Lương A 07 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 03/10/2023
Kiều Anh T 07 năm 08 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 03/10/2023
Nguyễn Hải N2 07 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 03/10/2023
Phan Văn T1 07 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 03/10/2023
Trần Thị Thu H 07 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 03/10/2023
-
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 02 chiếc bật lửa gas màu đỏ đã cũ, đã qua sử dụng; 01 sim thuê bao sô 0364.846.685 và 01 sim thuê bao số 0975.864.905; mẫu vật gồm mẫu A1 = 0,2325 gam, 01 chiếc đĩa sứ hình tròn màu trắng của mẫu A2, 01 thẻ nhựa in chữ “vietnammobile” của mẫu A3; 03 mảnh giấy màu vàng dạng vỏ đầu lọc thuốc lá của mẫu A4 và 0,00 ml mẫu cùng toàn bộ bao gói do cơ quan giám định hoàn trả sau giám định.
Tịch thu bán sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động Apple loại Iphone XS màu đen đã cũ.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 10.000 đồng (01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng được cuốn thành ống hút).
Trả lại cho Phan Văn T1: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone XS màu trắng đã cũ bên trong lắp sim thuê bao 0867.955.519 (tạm giữ để đảm bảo thi hành án).
Trả lại cho Trần Thị Thu H: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 12 Pro Max màu trắng đã cũ bên trong có lắp sim thuê bao 0972.100.586 (tạm giữ để đảm bảo thi hành án).
(vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận giữa Cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc).
-
Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí.
Các bị cáo Nguyễn Lương A, Kiều Anh T, Nguyễn Hải N2, Phan Văn T1, Trần Thị Thu H. Mỗi bị cáo phải chịu nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
-
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp trên để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hoặc người đại diện vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết tại nơi cư trú của người vắng mặt theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà Đỗ Thành Công |
Bản án số 88/2024/HS-ST ngày 20/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 88/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Lương Anh phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
