Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TAM DƯƠNG

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 88/2024/HS-ST

Ngày 11-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Minh Hoàng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Nghị và bà Hoàng Thị Hanh

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Phương Anh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tam Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương tham gia phiên toà: Ông Phan Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 74/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024 đối với

- Bị cáo: Bùi Văn L, sinh ngày 19/3/1991; nơi ĐKHKTT: Thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 7/12; Đảng, đoàn thể: Không; con ông Bùi Văn L1 và bà Nguyễn Thị H; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 66/QĐ-XPHC ngày 23/7/2012 của Công an huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc đã xử phạt vi phạm hành chính đối với Bùi Văn L về hành vi Gây rối, làm mất trật tự công cộng, mức phạt tiền 1.500.000đồng; Tại bản án số 54/2018/HS-ST ngày 15/5/2018, Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Bùi Văn L 04 năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”, chấp hành xong án phạt tù ngày 24/9/2020, chấp hành xong án phí ngày 11/6/2019; Tại Bản án số 121/2024/HS-PT ngày 11/12/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Bùi Văn L 11 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Bị cáo tại ngoại (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Anh Nguyễn Văn V, sinh năm 2000, địa chỉ: Thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, vắng mặt.
  • + Anh Dương Văn H1, sinh năm 1998; địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, vắng mặt.
  • + Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1988, địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, vắng mặt.
  • + Anh Hoàng Hải V1, sinh năm 1989, địa chỉ: Thôn D, xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, vắng mặt.
  • + Anh Nguyễn Văn H2, sinh năm 1998, HKTT: Thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Nay đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh V, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian từ 13 giờ đến 16 giờ ngày 16/02/2024, Bùi Văn L, cùng Dương Văn H1, sinh năm 1998; Nguyễn Văn T1, sinh năm 1991; Nguyễn Văn T2, sinh năm 1990 đều trú tại thôn Đ, xã H, huyện T; Nguyễn Cơ Q, sinh năm 1983, trú tại tổ dân phố T, phường L, thành phố V đã thực hiện hành vi đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền dưới hình thức đánh bài ba cây tại khu đồi Dộc Đanh thuộc thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Nguyễn Văn T2 tham gia đánh bạc cùng các đồng phạm khác được khoảng 45 phút thì thua hết toàn bộ số tiền mang theo nên nghỉ rồi ra về thì Nguyễn Văn K, sinh năm 1990 ở thôn P, xã H, huyện T tham gia thế chỗ, tiếp tục đánh bạc cùng các đồng phạm khác đến khoảng 17 giờ cùng ngày thì bị Công an huyện T phát hiện, bắt quả tang. Tổng số tiền các bị cáo Bùi Văn L; Dương Văn H1; Nguyễn Văn T1; Nguyễn Cơ Q; Nguyễn Văn K và Nguyễn Văn T2 sử dụng để đánh bạc là 14.100.000đồng. Cơ quan điều tra đã thu giữ của Bùi Văn L 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12, bên trong ốp điện thoại có kẹp 01 tờ giấy ghi chép một số nội dung liên quan đến hành vi “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Quá trình điều tra đã điều tra xác định như sau: Bùi Văn L cho bạn bè, người quen vay tiền với mức lãi suất cao để thu lời bất chính bằng hình thức “bốc bát họ”. Hình thức và cách thức Bùi Văn L cho vay tiền với mức lãi suất cao “bốc bát họ” như sau: Bát họ là các gói vay tiền (tiền gốc) gồm: 5.000.000đồng, 10.000.000đồng, 15.000.000đồng, 20.000.000đồng, 25.000.000đồng, .... Bốc bát họ là việc người vay vay tiền của L với số tiền cụ thể như trên. Quá trình cho vay, Bùi Văn L không nhận cầm cố tài sản và không lập hợp đồng, không viết giấy tờ. Thông thường, kỳ hạn bốc bát họ là 20 ngày hoặc 40 ngày tương ứng với khoản tiền lãi khác nhau, cụ thể: Bùi Văn L thu số tiền lãi là 20% của số tiền gốc đối với kỳ hạn vay 40 ngày hoặc 10% của số tiền gốc đối với kỳ hạn 20 ngày (tương ứng với mức lãi suất là 182,5%/01 năm). Trường hợp cá biệt, Bùi Văn L và người vay có thể thỏa thuận tiền lãi, lãi suất, kỳ hạn khác. L thu tiền lãi của người vay thông qua một trong hai hình thức thu trước tiền lãi của người vay từ đầu kỳ hạn bằng cách trừ tiền lãi này vào tiền gốc (hay còn gọi là cắt lãi trước), hoặc thu tiền lãi trong kỳ hạn vay (hay còn gọi là cắt lãi sau). Hàng ngày trong kỳ hạn vay, người

vay sẽ trả cho L một khoản tiền nhất định; theo thỏa thuận người vay có thể trả nhiều hoặc ít hơn hoặc gom lại để trả đủ số tiền thỏa thuận trong kỳ hạn. Các giao dịch cho vay, trả tiền, ... giữa L và người vay chủ yếu được thực hiện bằng cách chuyển khoản từ tài khoản Ngân hàng TMCP Q1 (M1) số 3108.686.969.999 mang tên Bùi Văn L đến tài khoản Ngân hàng của người vay, có kết hợp với việc giao dịch trực tiếp bằng tiền mặt. Hết kỳ hạn mà người vay chưa trả đủ tiền theo thỏa thuận thì Bùi Văn L không thu thêm bất cứ khoản tiền lãi hay tiền phạt của người vay nào mà chỉ đôn đốc, nhắc nhở.

Trong khoảng thời gian từ đầu năm 2023 đến ngày 16/02/2024, với hình thức cho vay tiền như trên, Bùi Văn L đã cho tổng cộng 05 người vay tiền với mức lãi suất trên 05 lần mức lãi suất theo quy định của Bộ luật dân sự (20%/năm) để thu lời bất chính; tổng số tiền thu lợi bất chính là: 63.133.562 đồng, cụ thể:

  1. Bùi Văn L cho anh Nguyễn Văn V vay 09 lần:

    Lần thứ nhất: Ngày 19/01/2023, V bốc bát họ 10.000.000đồng (tức vay 10.000.000đồng), thỏa thuận kỳ hạn vay 40 ngày với số tiền lãi phải trả trong kỳ hạn là 2.000.000đồng (tương ứng với lãi suất 182,5%/01 năm) và bị cắt lãi trước. Đến ngày 28/02/2023, V trả đủ tổng số tiền gốc đã vay. Tổng số tiền lãi thực tế mà Bùi Văn L đã nhận của Nguyễn Văn V trong quá trình vay là 2.000.000đồng. Số tiền lãi tối đa theo quy định của pháp luật mà L được phép thu (tiền lãi tương ứng với lãi suất không quá 20%/năm quy định tại Bộ luật dân sự) trong kỳ hạn (40 ngày) là 20% ÷ 365 ngày × 40 ngày × 10.000.000đồng = 219.178đồng. Số tiền thu lợi bất chính là 2.000.000đồng - 219.178đồng = 1.780.822đồng.

    Lần thứ hai: Ngày 28/02/2023, V bốc bát họ 10.000.000đồng, thỏa thuận kỳ hạn vay 40 ngày với số tiền lãi phải trả trong kỳ hạn là 2.000.000đồng (tương ứng với lãi suất 182,5%/01 năm) và bị cắt lãi trước. Đến ngày 07/4/2023, V trả đủ tổng số tiền gốc đã vay. Tổng số tiền lãi thực tế mà L đã nhận của V trong quá trình vay là 2.000.000 đồng. Số tiền lãi tối đa theo quy định của pháp luật mà L được phép thu trong kỳ hạn (40 ngày) là 20% ÷ 365 ngày × 40 ngày × 10.000.000 đồng = 219.178 đồng. Số tiền thu lợi bất chính của L là 2.000.000 đồng - 219.178 đồng = 1.780.822 đồng.

    Lần thứ ba: Ngày 02/3/2023, V bốc bát họ 10.000.000 đồng, thỏa thuận kỳ hạn vay 40 ngày với số tiền lãi phải trả trong kỳ hạn là 2.000.000đồng (tương ứng với lãi suất 182,5%/01 năm) và bị cắt lãi trước. Đến ngày 07/4/2023, V trả đủ tổng số tiền gốc đã vay. Tổng số tiền lãi thực tế mà L đã nhận của V trong quá trình vay là 2.000.000 đồng. Số tiền lãi tối đa theo quy định của pháp luật mà L được phép thu trong kỳ hạn (40 ngày) là 20% ÷ 365 ngày × 40 ngày × 10.000.000 đồng = 219.178 đồng. Số tiền thu lợi bất chính của L là 2.000.000 đồng - 219.178 đồng = 1.780.822 đồng.

    Lần thứ tư: Ngày 24/04/2023, V bốc bát họ 10.000.000 đồng, thỏa thuận kỳ hạn vay 40 ngày với số tiền lãi phải trả trong kỳ hạn là 2.000.000 đồng (tương ứng với lãi suất 182,5%/01 năm) và bị cắt lãi trước. Đến ngày 09/5/2023, V trả đủ tổng số tiền gốc đã vay. Tổng số tiền lãi thực tế mà L đã nhận của V trong quá trình vay là 2.000.000 đồng. Số tiền lãi tối đa theo quy định của pháp luật mà L được phép thu trong kỳ hạn (40 ngày) là 20% ÷ 365 ngày × 40 ngày × 10.000.000 đồng = 219.178 đồng. Số tiền thu lợi bất chính của L là 2.000.000 đồng - 219.178 đồng = 1.780.822 đồng.

    Lần thứ năm: Ngày 09/5/2023, V bốc bát họ 10.000.000 đồng, thỏa thuận kỳ hạn vay 40 ngày với số tiền lãi phải trả trong kỳ hạn là 2.000.000 đồng (tương ứng với lãi suất 182,5%/01 năm) và bị cắt lãi trước. Đến ngày 26/5/2023, V trả đủ tổng số tiền gốc đã vay. Tổng số tiền lãi thực tế mà L đã nhận của V trong quá trình vay là 2.000.000 đồng. Số tiền lãi tối đa theo quy định của pháp luật mà L được phép thu trong kỳ hạn (40 ngày) là 20% ÷ 365 ngày × 40 ngày × 10.000.000 đồng = 219.178 đồng. Số tiền thu lợi bất chính của L là 2.000.000 đồng – 219.178 đồng = 1.780.822 đồng.

    Lần thứ sáu: Ngày 20/8/2023, V bốc bát họ 10.000.000 đồng, thỏa thuận kỳ hạn vay 40 ngày với số tiền lãi phải trả trong kỳ hạn là 2.000.000 đồng (tương ứng với lãi suất 182,5%/01 năm) và bị cắt lãi trước. Đến ngày 25/10/2023, V trả đủ tổng số tiền gốc đã vay. Tổng số tiền lãi thực tế mà L đã nhận của V trong quá trình vay là 2.000.000 đồng. Số tiền lãi tối đa theo quy định của pháp luật mà L được phép thu trong kỳ hạn (40 ngày) là 20% ÷ 365 ngày × 40 ngày × 10.000.000 đồng = 219.178 đồng. Số tiền thu lợi bất chính của L là 2.000.000 đồng - 219.178 đồng = 1.780.822 đồng.

    Lần thứ bảy: Ngày 07/11/2023, V bốc bát họ 10.000.000 đồng, thỏa thuận kỳ hạn vay 40 ngày với số tiền lãi phải trả trong kỳ hạn là 2.000.000 đồng (tương ứng với lãi suất 182,5%/01 năm) và bị cắt lãi trước. Đến ngày 12/12/2023, V trả đủ tổng số tiền gốc đã vay. Tổng số tiền lãi thực tế mà L đã nhận của V trong suốt quá trình vay là 2.000.000 đồng. Số tiền lãi tối đa theo quy định của pháp luật mà L được phép thu trong kỳ hạn (40 ngày) là 20% ÷ 365 ngày × 40 ngày × 10.000.000 đồng = 219.178 đồng. Số tiền thu lợi bất chính của L là 2.000.000 đồng - 219.178 đồng = 1.780.822 đồng.

    Lần thứ tám: Ngày 12/12/2023, V bốc bát họ 10.000.000 đồng, thỏa thuận kỳ hạn vay 40 ngày với số tiền lãi phải trả trong kỳ hạn là 2.000.000 đồng (tương ứng với lãi suất 182,5%/01 năm) và bị cắt lãi trước. Đến ngày 08/01/2024, V trả đủ tổng số tiền gốc đã vay. Tổng số tiền lãi thực tế mà L đã nhận của V trong quá trình vay là 2.000.000 đồng. Số tiền lãi tối đa theo quy định của pháp luật mà L được phép thu trong kỳ hạn (40 ngày) là 20% ÷ 365 ngày × 40 ngày × 10.000.000 đồng = 219.178 đồng. Số tiền thu lợi bất chính của L là 2.000.000 đồng - 219.178 đồng = 1.780.822 đồng.

    Lần thứ chín: Ngày 10/01/2024, V bốc bát họ 10.000.000 đồng, thỏa thuận kỳ hạn vay 40 ngày với số tiền lãi phải trả trong kỳ hạn là 2.000.000 đồng (tương ứng với lãi suất 182,5%/01 năm) và bị cắt lãi trước. Đến ngày 15/02/2024, V trả đủ tổng số tiền gốc đã vay. Tổng số tiền lãi thực tế mà L đã nhận của V trong quá trình vay là 2.000.000 đồng. Số tiền lãi tối đa theo quy định của pháp luật mà L được phép thu trong kỳ hạn (40 ngày) là 20% ÷ 365 ngày × 40 ngày × 10.000.000 đồng = 219.178 đồng. Số tiền thu lợi bất chính của L là 2.000.000 đồng - 219.178 đồng = 1.780.822 đồng.

    Tổng số tiền Bùi Văn L thu lợi bất chính của Nguyễn Văn V là 16.027.398 đồng.

  2. Bùi Văn L cho anh Dương Văn H1 vay 05 lần:

    Lần thứ nhất: Ngày 30/01/2023, Dương Văn H1 bốc bát họ 10.000.000 đồng, thỏa thuận kỳ hạn vay 20 ngày với số tiền lãi phải trả trong kỳ hạn là 1.000.000 đồng (tương ứng với lãi suất 182,5%/01 năm) và bị cắt lãi sau. Đến ngày 18/02/2023, H1 trả hết tổng số tiền gốc và tiền lãi theo thỏa thuận. Tổng số tiền lãi thực tế mà L đã nhận của H1 trong quá trình vay là 1.000.000 đồng. Số tiền lãi tối đa theo quy định của pháp luật mà L được phép thu trong kỳ hạn (20 ngày) là 20% ÷ 365 ngày × 20 ngày × 10.000.000 đồng = 109.589 đồng. Số tiền thu lợi bất chính của L là 1.000.000 đồng - 109.589 đồng = 890.411 đồng.

    Lần thứ hai: Ngày 21/02/2023, H1 bốc bát họ 20.000.000 đồng, thỏa thuận kỳ hạn vay 20 ngày với số tiền lãi phải trả trong kỳ hạn là 2.000.000 đồng (tương ứng với lãi suất 182,5%/01 năm) và bị cắt lãi sau. Đến ngày 16/3/2023, H1 trả hết tổng số tiền gốc và tiền lãi theo thỏa thuận. Tổng số tiền lãi thực tế mà L đã nhận của H1 trong quá trình vay là 2.000.000 đồng. Số tiền lãi tối đa theo quy định của pháp luật mà L được phép thu trong kỳ hạn (20 ngày) là 20% ÷ 365 ngày × 20 ngày × 20.000.000 đồng = 219.178 đồng. Số tiền thu lợi bất chính của L là 2.000.000 đồng – 219.178 đồng = 1.780.822 đồng.

    Lần thứ ba: Ngày 16/3/2023, H1 bốc bát họ 10.000.000 đồng, thỏa thuận kỳ hạn vay 20 ngày với số tiền lãi phải trả trong kỳ hạn là 1.000.000 đồng (tương ứng với lãi suất 182,5%/01 năm) và bị cắt lãi sau. Đến ngày 08/4/2023, H1 trả hết tổng số tiền gốc và tiền lãi theo thỏa thuận. Tổng số tiền lãi thực tế mà L đã nhận của H1 trong quá trình vay là 1.000.000 đồng. Số tiền lãi tối đa theo quy định của pháp luật mà L được phép thu trong kỳ hạn (20 ngày) là 20% ÷ 365 ngày × 20 ngày × 10.000.000 đồng = 109.589 đồng. Số tiền thu lợi bất chính của L là 1.000.000 đồng - 109.589 đồng = 890.411 đồng.

    Lần thứ tư: Ngày 17/4/2023, H1 bốc bát họ 10.000.000 đồng, thỏa thuận kỳ hạn vay 20 ngày với số tiền lãi phải trả trong kỳ hạn là 1.000.000 đồng (tương ứng với lãi suất 182,5%/01 năm) và bị cắt lãi sau. Đến ngày 28/4/2023, H1 trả hết tổng số tiền gốc và tiền lãi theo thỏa thuận. Tổng số tiền lãi thực tế mà L đã nhận của H1 trong quá trình vay là 1.000.000 đồng. Số tiền lãi tối đa theo quy định của pháp luật mà L được phép thu trong kỳ hạn (20 ngày) là 20% ÷ 365 ngày × 20 ngày × 10.000.000 đồng = 109.589 đồng. Số tiền thu lợi bất chính của L là 1.000.000 đồng - 109.589 đồng = 890.411 đồng.

    Lần thứ năm: Ngày 03/5/2023, H1 bốc bát họ 20.000.000 đồng, thỏa thuận kỳ hạn vay 20 ngày với số tiền lãi phải trả trong kỳ hạn là 2.000.000 đồng (tương ứng với lãi suất 182,5%/01 năm) và bị cắt lãi sau. Đến ngày 20/5/2023, H1 trả hết tổng số tiền gốc và tiền lãi theo thỏa thuận. Tổng số tiền lãi thực tế mà L đã nhận của H1 trong quá trình vay là 2.000.000 đồng. Số tiền lãi tối đa theo quy định của pháp luật mà L được phép thu trong kỳ hạn (20 ngày) là 20% ÷ 365 ngày × 20 ngày × 20.000.000 đồng = 219.178 đồng. Số tiền thu lợi bất chính của L là 2.000.000 đồng - 219.178 đồng = 1.780.822 đồng.

    Tổng số tiền Bùi Văn L thu lợi bất chính của Dương Văn H1 là 6.232.877 đồng.

  3. Bùi Văn L cho anh Nguyễn Văn T vay 04 lần:

    Lần thứ nhất: Ngày 11/3/2023, Trọng bốc bát họ 20.000.000 đồng, thỏa thuận kỳ hạn vay 40 ngày với số tiền lãi phải trả trong kỳ hạn là 4.000.000 đồng (tương ứng với lãi suất 182,5%/01 năm) và bị cắt lãi trước. Đến ngày 23/5/2023, T trả đủ tổng số tiền gốc đã vay. Tổng số tiền lãi thực tế mà L đã nhận của T trong quá trình vay là 4.000.000 đồng. Số tiền lãi tối đa theo quy định của pháp luật mà L được phép thu trong kỳ hạn (40 ngày) là 20% ÷ 365 ngày × 40 ngày × 20.000.000 đồng = 438.356 đồng. Số tiền thu lợi bất chính của L là 4.000.000 đồng - 438.356 đồng = 3.561.644 đồng.

    Lần thứ hai: Ngày 13/4/2023, Trọng bốc bát họ 20.000.000 đồng, thỏa thuận kỳ hạn vay 40 ngày với số tiền lãi phải trả trong kỳ hạn là 4.000.000 đồng (tương ứng với lãi suất 182,5%/01 năm) và bị cắt lãi trước. Đến ngày 23/5/2023, T trả đủ tổng số tiền gốc đã vay. Tổng số tiền lãi thực tế mà L đã nhận của T trong quá trình vay là 4.000.000 đồng. Số tiền lãi tối đa theo quy định của pháp luật mà L được phép thu trong kỳ hạn (40 ngày) là 20% ÷ 365 ngày × 40 ngày × 20.000.000 đồng = 438.356 đồng. Số tiền thu lợi bất chính của L là 4.000.000 đồng - 438.356 đồng = 3.561.644 đồng.

    Lần thứ ba: Ngày 30/4/2023, Trọng bốc bát họ 10.000.000 đồng, thỏa thuận kỳ hạn vay 20 ngày với số tiền lãi phải trả trong kỳ hạn là 2.000.000 đồng (tương ứng với lãi suất 182,5%/01 năm) và bị cắt lãi sau. Đến ngày 12/6/2023, T trả đủ tiền gốc và lãi. Tổng số tiền lãi thực tế mà L đã nhận của T trong quá trình vay là 2.000.000 đồng. Số tiền lãi tối đa theo quy định của pháp luật mà L được phép thu trong kỳ hạn (40 ngày) là 20% ÷ 365 ngày × 40 ngày × 10.000.000 đồng = 219.178 đồng. Số tiền thu lợi bất chính của L là 2.000.000 đồng - 219.178 đồng = 1.780.822 đồng.

    Lần thứ tư: Ngày 24/5/2023, Trọng bốc bát họ 10.000.000 đồng, thỏa thuận kỳ hạn vay 40 ngày với số tiền lãi phải trả trong kỳ hạn là 2.000.000 đồng (tương ứng với lãi suất 182,5%/01 năm) và bị cắt lãi sau. Đến ngày 09/11/2023, T trả đủ tiền gốc và lãi. Tổng số tiền lãi thực tế mà L đã nhận của T trong quá trình vay là 2.000.000 đồng. Số tiền lãi tối đa theo quy định của pháp luật mà L được phép thu trong kỳ hạn (40 ngày) là 20% ÷ 365 ngày × 40 ngày × 10.000.000 đồng = 219.178 đồng. Số tiền thu lợi bất chính của L là 2.000.000 đồng - 219.178 đồng = 1.780.822 đồng.

    Tổng số tiền Bùi Văn L thu lợi bất chính của Nguyễn Văn T là 10.684.932 đồng.

  4. Bùi Văn L cho anh Hoàng Hải V1 vay 09 lần:

    Lần thứ nhất: Ngày 04/5/2023, V1 bốc bát họ 10.000.000 đồng, thỏa thuận kỳ hạn 40 ngày với số tiền lãi phải trả trong kỳ hạn là 2.000.000 đồng (tương ứng với lãi suất 182,5%/01 năm) và bị cắt lãi trước. Đến ngày 13/6/2023, V1 trả đủ tổng số tiền gốc đã vay. Tổng số tiền lãi thực tế mà L đã nhận của V1 trong quá trình vay là 2.000.000 đồng. Số tiền lãi tối đa theo quy định của pháp luật mà L được phép thu trong kỳ hạn (40 ngày) là 20% ÷ 365 ngày × 40 ngày × 10.000.000 đồng = 219.178 đồng. Số tiền thu lợi bất chính của L là 2.000.000 đồng - 219.178 đồng = 1.780.822 đồng.

    Lần thứ hai: Ngày 05/5/2023, V1 bốc bát họ 10.000.000 đồng, thỏa thuận kỳ hạn 20 ngày với số tiền lãi phải trả trong kỳ hạn là 1.000.000 đồng (tương ứng với lãi suất 182,5%/01 năm) và bị cắt lãi trước. Đến ngày 13/6/2023, V1 trả đủ tổng số tiền gốc đã vay. Tổng số tiền lãi thực tế mà L đã nhận của V1 trong quá trình vay là 1.000.000 đồng. Số tiền lãi tối đa theo quy định của pháp luật mà L được phép thu trong kỳ hạn (20 ngày) là 20% ÷ 365 ngày × 20 ngày × 10.000.000 đồng = 109.589 đồng. Số tiền thu lợi bất chính của L là 1.000.000 đồng - 109.589 đồng = 890.411 đồng.

    Lần thứ ba: Ngày 13/6/2023, V1 bốc bát họ 20.000.000 đồng, thỏa thuận kỳ hạn 40 ngày với số tiền lãi phải trả trong kỳ hạn là 4.000.000 đồng (tương ứng với lãi suất 182,5%/01 năm) và bị cắt lãi trước. Đến ngày 22/8/2023, V1 trả đủ tổng số tiền gốc đã vay. Tổng số tiền lãi thực tế mà L đã nhận của V1 trong quá trình vay là 4.000.000 đồng. Số tiền lãi tối đa theo quy định của pháp luật mà L được phép thu trong kỳ hạn (40 ngày) là 20% ÷ 365 ngày × 40 ngày × 20.000.000 đồng = 438.356 đồng. Số tiền thu lợi bất chính của L là 4.000.000 đồng - 438.356 đồng = 3.561.644 đồng.

    Lần thứ tư: Ngày 20/7/2023, V1 bốc bát họ 15.000.000 đồng, thỏa thuận kỳ hạn 40 ngày với số tiền lãi phải trả trong kỳ hạn là 3.000.000 đồng (tương ứng với lãi suất 182,5%/01 năm) và bị cắt lãi trước. Đến ngày 25/9/2023, V1 trả đủ tổng số tiền gốc đã vay. Tổng số tiền lãi thực tế mà L đã nhận của V1 trong quá trình vay là 3.000.000 đồng. Số tiền lãi tối đa theo quy định của pháp luật mà L được phép thu trong kỳ hạn (40 ngày) là 20% ÷ 365 ngày × 40 ngày × 15.000.000 đồng = 328.767 đồng. Số tiền thu lợi bất chính của L là 3.000.000 đồng - 328.767 đồng = 2.671.233 đồng.

    Lần thứ năm: Ngày 22/8/2023, V1 bốc bát họ 15.000.000 đồng, thỏa thuận kỳ hạn 40 ngày với số tiền lãi phải trả trong kỳ hạn là 3.000.000 đồng (tương ứng với lãi suất 182,5%/01 năm) và bị cắt lãi trước. Đến ngày 02/11/2023, V1 trả đủ tổng số tiền gốc đã vay. Tổng số tiền lãi thực tế mà L đã nhận của V1 trong quá trình vay là 3.000.000 đồng. Số tiền lãi tối đa theo quy định của pháp luật mà L được phép thu trong kỳ hạn (40 ngày) là 20% ÷ 365 ngày × 40 ngày × 15.000.000 đồng = 328.767 đồng. Số tiền thu lợi bất chính của L là 3.000.000 đồng - 328.767 đồng = 2.671.233 đồng.

    Lần thứ sáu: Ngày 28/8/2023, V1 bốc bát họ 10.000.000 đồng, thỏa thuận kỳ hạn 40 ngày với số tiền lãi phải trả trong kỳ hạn là 2.000.000 đồng (tương ứng với lãi suất 182,5%/01 năm) và bị cắt lãi trước. Đến ngày 28/11/2023, V1 trả đủ tổng số tiền gốc đã vay. Tổng số tiền lãi thực tế mà L đã nhận của V1 trong quá trình vay là 2.000.000 đồng. Số tiền lãi tối đa theo quy định của pháp luật mà L được phép thu trong kỳ hạn (40 ngày) là 20% ÷ 365 ngày × 40 ngày × 10.000.000 đồng = 219.178 đồng. Số tiền thu lợi bất chính của L là 2.000.000 đồng - 219.178 đồng = 1.780.822 đồng.

    Lần thứ bảy: Ngày 26/9/2023, V1 bốc bát họ 15.000.000 đồng, thỏa thuận kỳ hạn 40 ngày, với số tiền lãi phải trả trong kỳ hạn là 3.000.000 đồng (tương ứng với lãi suất 182,5%/01 năm) và bị cắt lãi trước. Đến ngày 28/11/2023, V1 trả đủ tổng số tiền gốc đã vay. Tổng số tiền lãi thực tế mà L đã nhận của V1 trong quá trình vay là 3.000.000 đồng. Số tiền lãi tối đa theo quy định của pháp luật mà L được phép thu trong kỳ hạn (40 ngày) là 20% ÷ 365 ngày × 40 ngày × 15.000.000 đồng = 328.767 đồng. Số tiền thu lợi bất chính của L là 3.000.000 đồng - 328.767 đồng = 2.671.233 đồng.

    Lần thứ tám: Ngày 03/11/2023, V1 bốc bát họ 10.000.000 đồng, thỏa thuận kỳ hạn 40 ngày với số tiền lãi phải trả trong kỳ hạn là 2.000.000 đồng (tương ứng với lãi suất 182,5%/01 năm) và bị cắt lãi trước. Đến ngày 31/12/2023, V1 trả đủ tổng số tiền gốc đã vay. Tổng số tiền lãi thực tế mà L đã nhận của V1 trong quá trình vay là 2.000.000 đồng. Số tiền lãi tối đa theo quy định của pháp luật mà L được phép thu trong kỳ hạn (40 ngày) là 20% ÷ 365 ngày × 40 ngày × 10.000.000 đồng = 219.178 đồng. Số tiền thu lợi bất chính của L là 2.000.000 đồng - 219.178 đồng = 1.780.822 đồng.

    Lần thứ chín: Ngày 30/11/2023, V1 bốc bát họ 15.000.000 đồng, thỏa thuận kỳ hạn 40 ngày với số tiền lãi phải trả trong kỳ hạn là 2.750.000 đồng (tương ứng với lãi suất 167,3%/01 năm) và bị cắt lãi trước. Đến ngày 31/12/2023, V1 trả đủ tổng số tiền gốc đã vay. Tổng số tiền lãi thực tế mà L đã nhận của V1 trong quá trình vay là 2.750.000 đồng. Số tiền lãi tối đa theo quy định của pháp luật mà L được phép thu trong kỳ hạn (40 ngày) là 20% ÷ 365 ngày × 40 ngày × 15.000.000 đồng = 328.767 đồng. Số tiền thu lợi bất chính của L là 2.750.000 đồng - 328.767 đồng = 2.421.233 đồng.

    Tổng số tiền L thu lợi bất chính của Hoàng Hải V1 là 20.229.453 đồng.

  5. Bùi Văn L cho anh Nguyễn Văn H2 vay 04 lần:

    Lần thứ nhất: Ngày 21/9/2023, H2 bốc bát họ 10.000.000 đồng, thỏa thuận kỳ hạn vay 20 ngày với số tiền lãi phải trả trong kỳ hạn là 2.000.000 đồng (tương ứng với lãi suất 365%/01 năm) và bị cắt lãi trước. Đến ngày 11/10/2023, H2 trả đủ tổng số tiền gốc đã vay. Tổng số tiền lãi thực tế mà L đã nhận của H2 trong quá trình vay là 2.000.000 đồng. Số tiền lãi tối đa theo quy định của pháp luật mà L được phép thu trong kỳ hạn (20 ngày) là 20% ÷ 365 ngày × 20 ngày × 10.000.000 đồng = 109.589 đồng. Số tiền thu lợi bất chính của L là 2.000.000 đồng - 109.589 đồng = 1.890.411 đồng.

    Lần thứ hai: Ngày 19/10/2023, H2 bốc bát họ 15.000.000 đồng, thỏa thuận kỳ hạn vay 40 ngày với số tiền lãi phải trả trong kỳ hạn là 3.000.000 đồng (tương ứng với lãi suất 182,5%/01 năm) và bị cắt lãi trước. Đến ngày 29/11/2023, H2 trả đủ tổng số tiền gốc đã vay. Tổng số tiền lãi thực tế mà L đã nhận của H2 trong quá trình vay là 3.000.000 đồng. Số tiền lãi tối đa theo quy định của pháp luật mà L được phép thu trong kỳ hạn (40 ngày) là 20% ÷ 365 ngày × 40 ngày × 15.000.000 đồng = 328.767 đồng. Số tiền thu lợi bất chính của L là 3.000.000 đồng – 328.767 đồng = 2.671.233 đồng.

    Lần thứ ba: Ngày 14/12/2023, H2 bốc bát họ 25.000.000 đồng, thỏa thuận kỳ hạn vay 40 ngày với số tiền lãi phải trả trong kỳ hạn là 5.000.000 đồng (tương ứng với lãi suất 182,5%/01 năm) và bị cắt lãi trước. Đến ngày 26/01/2024, H2 trả đủ tổng số tiền gốc đã vay. Tổng số tiền lãi thực tế mà L đã nhận của H2 trong quá trình vay là 5.000.000 đồng. Số tiền lãi tối đa theo quy định của pháp luật mà L được phép thu trong kỳ hạn (40 ngày) là 20% ÷ 365 ngày × 40 ngày × 25.000.000 đồng = 547.945 đồng. Số tiền thu lợi bất chính của L là 5.000.000 đồng - 547.945 đồng = 4.452.055 đồng.

    Lần thứ tư: Ngày 03/02/2024, H2 bốc bát họ 5.000.000 đồng, thỏa thuận kỳ hạn vay 20 ngày với số tiền lãi phải trả trong kỳ hạn là 1.000.000 đồng (tương ứng với lãi suất 365%/01 năm) và bị cắt lãi trước. Đến ngày 15/02/2024, H2 trả đủ tổng số tiền gốc đã vay. Tổng số tiền lãi thực tế mà L đã nhận của H2 trong quá trình vay là 1.000.000 đồng. Số tiền lãi tối đa theo quy định của pháp luật mà L được phép thu trong kỳ hạn (20 ngày) là 20% ÷ 365 ngày × 20 ngày × 5.000.000 đồng = 54.795 đồng. Số tiền thu lợi bất chính của L là 1.000.000 đồng - 54.795 đồng = 945.205 đồng.

    Tổng số tiền L thu lợi bất chính của Nguyễn Văn H2 là 9.958.904 đồng.

Như vậy, tổng số tiền gốc mà Bùi Văn L sử dụng để cho 05 người nêu trên vay là 395.000.000 đồng; tổng số tiền lãi L đã thu của 05 người vay là 70.750.000đồng; tổng số tiền lãi tương ứng với mức cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự (không quá 20%/01 năm) mà Bùi Văn L được phép thu là 7.616.436 đồng; tổng số tiền Bùi Văn L thu lợi bất chính là 63.133.564 đồng.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã tiến hành kiểm tra nơi ở của Bùi Văn L ở thôn Đ, xã H, huyện T. Kết quả kiểm tra không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến việc cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự của Bùi Văn L.

Ngày 24/6/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định số 893/QĐ-ĐCSHS, trưng cầu Phòng K1 - Công an tỉnh V giám định kỹ thuật số điện tử, trích xuất các dữ liệu có trong điện thoại di động Iphone 12 của Bùi Văn L.

Tại Kết luận giám định số 2125/KL-KTHS ngày 23/7/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh V kết luận: “Khôi phục, trích xuất được dữ liệu trong mẫu gửi giám định. Qua kiểm tra, phân tích dữ liệu thấy: Điện thoại di động Iphone, số IMEI 1 là 351.166.898.927. 813, số IMEI 2 là 351.166.898.845.809.

  • + Chụp được 39 ảnh màn hình hiển thị tin nhắn từ ứng dụng Zalo giữa tài khoản đang đăng nhập có tên hiển thị đọc được là “Hoang Long” với tài khoản có tên hiển thị đọc được là “Anh Trọng HĐ”.
  • + Chụp được 18 ảnh màn hình hiển thị tin nhắn từ ứng dụng Messenger giữa tài khoản đang đăng nhập có tên hiển thị đọc được là “Long Thiếu G” với tài khoản có tên hiển thị đọc được là “Việt Con” và 21 ảnh màn hình hiển thị tin nhắn từ ứng dụng Messenger giữa tài khoản đang đăng nhập có tên hiển thị đọc được là “Long Thiếu G” với tài khoản có tên hiển thị đọc được là “Hải Cá C”.
  • - Thẻ sim in hàng số 898.402.000.109.912.734.67: Không tìm thấy dữ liệu theo nội dung yêu cầu giám định.
  • - Toàn bộ dữ liệu trích xuất được in vào 01 phụ lục.
  • - Kèm theo kết luận giám định có 01 phụ lục có chữ ký của giám định viên và dấu đỏ của phòng K1 - Công an tỉnh V.”

Qua nghiên cứu bản kết luận giám định số 2125, xác định tài khoản Zalo có tên hiển thị “Hoang Long” và tài khoản M có tên “Long Thiếu G” là của Bùi Văn L; tài khoản Zalo có tên hiển thị “Anh Trọng HĐ” là của Nguyễn Văn T; tài khoản M có tên hiển thị “Việt Con” là của Nguyễn Văn V; tài khoản M có tên “Hải Cá C” là của Nguyễn Văn H2. Các tin nhắn giữa tài khoản của Bùi Văn L với các tài khoản nêu trên đều là tin nhắn có nội dung trao đổi, thỏa thuận về “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” như đã nêu trên.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã yêu cầu Ngân hàng TMCP Q1 sao kê các giao dịch chuyển tiền đi, chuyển tiền đến tài khoản Ngân hàng của Bùi Văn L. Quá trình nghiên cứu các bản sao kê tài khoản Ngân hàng của L phù hợp với tờ giấy thu giữ bên trong ốp điện thoại của L, phù hợp với nội dung tin nhắn Z, Facebook trong chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 đã thu giữ của L; thể hiện nội dung Bùi Văn L đã cho 05 người vay tiền với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất theo quy định của Bộ luật dân sự để thu lời bất chính như đã nêu trên.

Ngoài ra, qua kiểm tra các giao dịch trong sao kê tài khoản Ngân hàng của Bùi Văn L, ngoài các giao dịch chuyển nhận tiền cho vay lãi, trả lãi với 05 người vay tiền như đã nêu trên, thì trong thời điểm sao kê, Bùi Văn L còn có nhiều giao dịch với nhiều tài khoản ngân hàng khác nhau, Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh và làm việc với các chủ tài khoản đó. Kết quả điều tra, không có căn cứ xác định những chủ tài khoản đó có giao dịch vay lãi với Bùi Văn L mà chỉ là giao dịch vay tiền không lãi hoặc đổi tiền, mua hàng, không liên quan đến việc cho vay lãi nặng.

Đối với hành vi “Đánh bạc” xảy ra ngày 16/02/2024 tại thôn Đ, xã H, huyện T của Bùi Văn L và các đồng phạm khác, ngày 28/8/2024, Tòa án nhân dân huyện Tam Dương đã xét xử sơ thẩm Bùi Văn L cùng đồng phạm theo Bản án số 56/2024/HS-ST, ngày 11/12/2024 Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã xét xử phúc thẩm vụ án trên, kết quả phúc thẩm đã giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Đối với 01 tờ giấy A4 có các nội dung ghi chép liên quan đến hành vi của Bùi Văn L cho 05 người vay tiền, là vật chứng vụ án được lưu trong hồ sơ vụ án.

Đối với số tiền thu lợi bất chính, quá trình điều tra, Bùi Văn L đã trả lại toàn bộ cho những người vay tiền đã nêu trên.

Tại cơ quan điều tra, bị can Bùi Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại Cáo trạng số 83/CT-VKSTD ngày 28/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương truy tố Bùi Văn L về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên trình bày luận tội đối với bị cáo; giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều luật như Cáo trạng, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 201, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Văn L từ 130.000.000đồng đến 150.000.000đồng về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Về biện pháp tư pháp:

  • - Đề nghị truy thu của Bùi Văn L số tiền 7.616.436đồng là khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất theo quy định của Bộ luật dân sự là 20%/năm Bùi Văn L đã thu của những người vay để sung vào ngân sách nhà nước.
  • - Đề nghị truy thu của Bùi Văn L số tiền 395.000.000đồng là số tiền gốc bị cáo L dùng để cho 05 người vay để sung vào ngân sách nhà nước.
  • Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu, phát mại sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 12 của Bùi Văn L.
  • Về án phí: Bị cáo L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo L không bào chữa và tranh luận gì. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Bùi Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận:

Trong khoảng thời gian từ tháng 01/2023 đến tháng 02/2024 Bùi Văn L đã cho 05 người vay lãi nặng với mức lãi suất dao động từ 167,3%/năm đến 365%/năm, gấp 8,365 đến 18,25 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự. Tổng số tiền gốc Bùi Văn L dùng để cho 05 người vay là 395.000.000đồng với 31 lượt vay, tổng số tiền gốc người vay đã trả là 395.000.000đồng. Tổng số tiền lãi L đã thu của những người vay là 70.750.000đồng, bao gồm: Tiền lãi tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại Bộ luật dân sự là 7.616.436đồng, tổng số tiền thu lợi bất chính là 63.133.564đồng. Tại thời điểm bị phát hiện Bùi Văn L có hành vi cho vay lãi nặng nêu trên, L đã nhiều lần thực hiện hành vi cho vay với từng lần thu lợi bất chính đều dưới 30.000.000đồng nhưng tổng số tiền thu lợi bất chính trên 30.000.000đồng và các hành vi này chưa lần nào bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính, diễn ra liên tục từ năm 2023 cho đến khi bị phát hiện. Hành vi nêu trên của Bùi Văn L đã phạm vào tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự.

Khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định:

“1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng ... thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm”

[3] Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, nhưng hành vi của bị cáo Bùi Văn L là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, xâm phạm trật tự công cộng, lợi ích của công dân, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội, vì vậy cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4] Xét nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Bị cáo Bùi Văn L là người có nhân thân xấu, trước lần phạm tội này đã từng bị kết án (đã được xóa án tích), sau lần phạm tội này bị cáo lại thực hiện hành vi đánh bạc ngày 16/02/2024 (đã bị xét xử sơ thẩm ngày 28/8/2024, xét xử phúc thẩm ngày 11/12/2024), mặc dù trong vụ án này bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng cũng thể hiện bị cáo là người coi thường pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo đã từng tham gia quân ngũ, có thành tích tiêu biểu trong thực hiện nhiệm vụ nhập ngũ, được tặng Giấy khen và có thân nhân là Liệt sĩ, bị cáo đã tự nguyện hoàn trả cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khoản tiền thu lời bất chính và được những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đề nghị giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử đã cân nhắc, xem xét áp dụng hình phạt tiền với mức phạt nhất định đối với bị cáo để phù hợp với tính chất và mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Do hình phạt chính đối với bị cáo là phạt tiền, nên không áp dụng phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

[6] Đối với các giao dịch giữa tài khoản ngân hàng của Bùi Văn L với các tài khoản ngân hàng khác, quá trình điều tra xác định không có căn cứ các chủ tài khoản này có giao dịch vay lãi với Bùi Văn L nên không đề cập xử lý.

[7] Hành vi đánh bạc của Bùi Văn L ngày 16/12/2024 đã bị đưa ra xét xử sơ thẩm ngày 28/8/2024, xét xử phúc thẩm ngày 11/12/2024 nên không xử lý trong vụ án này.

[8] Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc điện thoại di động Iphone 12 thu giữ của L, quá trình điều tra xác định L sử dụng làm phương tiện phạm tội nên cần tịch thu, phát mại sung vào ngân sách nhà nước.

[9] Về biện pháp tư pháp:

  • - Đối với số tiền gốc L dùng để cho 05 người vay là: 395.000.000đồng là số tiền L sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội. Hiện nay những người vay đều đã trả lại cho L khoản tiền trên, vì vậy cần truy thu của Bùi Văn L số tiền 395.000.000đồng để sung vào ngân sách nhà nước.
  • - Đối với khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất theo quy định của Bộ luật dân sự là 20%/năm là 7.616.436đồng của L đã thu của những người vay tiền, tuy không bị tính khi xem xét trách nhiệm hình sự, nhưng đây là số tiền phát sinh từ việc thực hiện hành vi phạm tội, nên cần truy thu số tiền trên đối với L để sung vào ngân sách nước.

Như vậy tổng số tiền cần truy thu đối với bị cáo để sung vào ngân sách Nhà nước là 395.000.000đồng + 7.616.436đồng = 402.616.436đồng.

  • - Đối với khoản tiền lãi tương ứng với lãi suất trên 20%/năm mà L đã thu của người vay là 63.133.564đồng gồm: Nguyễn Văn V số tiền 16.027.398đồng, Dương Văn H1 số tiền 6.232.877đồng, Nguyễn Văn T số tiền 10.684.932đồng, Hoàng Hải V1 số tiền 20.229.453đồng, Nguyễn Văn H2 số tiền 9.958.904đồng. Đây là khoản tiền bị cáo đã thu lợi bất chính của những người vay, bản thân những người vay cũng khẳng định sử dụng số tiền vay vào mục đích hợp pháp, tại giai đoạn điều tra bị cáo đã tự nguyện hoàn trả lại cho những người vay số tiền trên nên cần xác nhận bị cáo đã trả lại những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan số tiền trên.

[10] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Bùi Văn L phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Áp dụng khoản 1 Điều 201, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự, xử phạt: Bùi Văn L 140.000.000đồng (một trăm bốn mươi triệu đồng).

2. Áp dụng khoản 1 Điều 46; khoản 1, 2 Điều 47; khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, b khoản 1 Điều 5 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhaan dân tối cao:

Truy thu của Bùi Văn L 402.616.436đồng (làm tròn thành 402.616.400 đồng (bốn trăm linh hai triệu sáu trăm mười sáu nghìn bốn trăm đồng)) để sung vào ngân sách nhà nước.

Xác nhận bị cáo đã trả cho anh Nguyễn Văn V số tiền 16.027.398đồng, anh Dương Văn H1 số tiền 6.232.877đồng, anh Nguyễn Văn T số tiền 10.684.932đồng, anh Hoàng Hải V1 số tiền 20.229.453đồng, anh Nguyễn Văn H2 số tiền 9.958.904đồng.

Tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 12 của Bùi Văn L.

(Vật chứng có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/11/2024 giữa Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Dương).

3. Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Bùi Văn L phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - VKSND huyện Tam Dương;
  • - Chi cục THADS huyện Tam Dương;
  • - Bị cáo, người có QLNVLQ;
  • - Lưu HS, VP.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Nghị

Lê Minh Hoàng

Hoàng Thị Hanh

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Minh Hoàng

15

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 88/2024/HS-ST ngày 11/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (hình sự)

  • Số bản án: 88/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn L - Cho vay lãi nặng trong GDDS
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger