Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN DI LINH

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 88/2024/HNGĐ-ST

Ngày 09-12-2024

V/v tranh chấp hôn nhân

và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Bá Cường Huy.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Ngọc Hà và ông Đào Duy Trâm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phí Hoàng Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông K’Dem – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 407/2024/TLST-HNGĐ ngày 15/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2024/QĐXX-TA ngày 27 tháng 11 năm 2024 của Tòa án huyện D giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Lê Đức T; sinh năm 1981.

Địa chỉ: Số G, thôn Đ, xã G, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Bảo N; sinh năm 1988.

Địa chỉ: Số F, Ấp F, xã V, huyện B, thành phố Hồ Chí Minh.

Vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, anh Lê Đức T trình bày như sau:

Về hôn nhân, anh và chị Nguyễn Thị Bảo N sống chung có đăng ký kết hôn ngày 27/02/2007 tại UBND xã G, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Đến khoảng năm 2020 vợ chồng mâu thuẫn, nguyên nhân do khác biệt về lối sống, vợ chồng không có tiếng nói chung trong sinh hoạt hàng ngày và cách nuôi dạy con cái. Từ đầu năm 2021 thì vợ chồng sống ly thân, anh T ở lại Di L nuôi dạy con chung, chị N về thành phố Hồ Chí Minh sinh sống. Hiện nay, xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh T xin được ly hôn với chị N. Về nuôi con chung, vợ chồng có 01 con chung tên Lê Nguyễn Khánh H; sinh ngày 31/10/2010. Từ khi ly thân vào năm 2021 thì con chung vẫn ở với anh T tại D. Khi ly hôn, anh T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, vợ chồng không có nợ chung. Tài sản chung không có, Tài sản riêng tự quản lý. Vợ chồng không có thỏa thuận gì về chế độ tài sản chung. Khi ly hôn không yêu cầu tòa án giải quyết về phần tài sản. Chứng cứ chứng minh là Giấy chứng nhận kết hôn, Giấy khai sinh của con.

Bị đơn, chị Nguyễn Thị Bảo N trình bày: Việc đăng ký kết hôn, thời gian sống chung, nguyên nhân mâu thuẫn và thời gian sống ly thân như anh T trình bày là đúng. Nay chị N xác định tình cảm không còn nên đồng ý ly hôn, đồng ý giao con chung cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết về phần tài sản. Tài liệu chứng cứ thì chị N không có gì để giao nộp cho Tòa án. Ngoài ra, do chị N đang đi làm tại thành phố Hồ Chí Minh nên việc đi lại khó khăn, vì thế chị N còn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

Tòa án có ghi nhận ý kiến nguyện vọng của con chung là cháu Lê Nguyễn Khánh H: Cháu H có trình bày nguyện vọng, khi bố mẹ ly hôn, mong muốn được ở với anh Lê Đức T.

Tại phiên tòa

Anh Lê Đức T trình bày: Giữ nguyên yêu cầu khởi kiện ban đầu. Trong thời gian chung sống vợ chồng thường cãi nhau, có lời lẽ xúc phạm, không còn tôn trọng nhau. Từ khi vợ chồng ly thân vào năm 2021 thì chị N có hai đến ba lần về thăm con. Hiện nay anh làm nghề nuôi cá cảnh và dạy võ tại trung tâm văn hóa huyện D. Thu nhập hàng tháng khoảng 30.000.000đ. Với thu nhập này anh có thể đảm bảo cuộc sống phát triển bình thường của con chung.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh phát biểu: Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án, nhận thấy Hội đồng xét xử và các đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Về nội dung tranh chấp. Đề nghị căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 82; Điều 110; Điều 116 và Điều 117 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền và quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn và bị đơn có đơn trình bày nguyện vọng, lựa chọn Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng là Tòa án giải quyết vụ việc (bút lục số 15). Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Di Linh có thẩm quyền giải quyết là đúng quy định.

[2] Về thủ tục tố tụng: Các đương sự đã được Toà án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử. Bị đơn là chị Nguyễn Thị Bảo N có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định.

[3] Nội dung tranh chấp.

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Đức T1 và chị Nguyễn Thị Bảo N sống chung có đăng ký kết hôn ngày 27/02/2007 tại UBND xã G, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Đến khoản 2020 vợ chồng mâu thuẫn, nguyên nhân do khác biệt về lối sống, vợ chồng không có tiếng nói chung trong sinh hoạt hàng ngày và cách nuôi dạy con cái, thường cãi nhau, có lời lẽ xúc phạm, không tôn trọng nhau. Từ đầu năm 2021 thì vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Trong quá trình giải quyết, chị N cũng trình bày nguyện vọng đồng ý ly hôn. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn yêu thương quý trọng, lo lắng cho cuộc sống chung. Cả hai cũng không có ý định trở về đoàn tụ. Căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử cần xem xét giải quyết cho anh Lê Đức T và chị Nguyễn Thị Bảo N được ly hôn là phù hợp.

[3.2] Về nuôi con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Lê Nguyễn Khánh H; sinh ngày 31/10/2010. Từ khi vợ chồng ly thân thì con chung vẫn ở với anh T cho đến nay. Xét điều kiện hoàn cảnh kinh tế của các bên và nguyện vọng của đương sự và con chung. Để đảm bảo sự phát triển bình thường cho con nhỏ, tránh sự xáo trộn trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của các con chung. Khi Tòa án giải quyết ly hôn cần giao con chung cho anh Lê Đức T trực tiếp nuôi dưỡng, chị Nguyễn Thị Bảo N không phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp.

[3.3] Về phần tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

[4] Về Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh Lê Đức T phải chịu là 300.000 đồng án phí xin ly hôn.

[5] Quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39; khoản 1 và khoản 2 Điều 143, khoản 1 Điều 144, khoản 4 Điều 147 khoản 1 Điều 227; 235 và Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 82; Điều 110; Điều 116 và Điều 117 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ vào điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa XIV.

Tuyên xử:

1.Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Đức T và chị Nguyễn Thị Bảo N được ly hôn.

2. Về nuôi con chung: Giao con chung tên Lê Nguyễn Khánh H; sinh ngày 31/10/2010 cho anh Lê Đức T1 trực tiếp nuôi dưỡng, chị Nguyễn Thị Bảo N không phải cấp dưỡng nuôi con. Việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung và thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo luật hôn nhân và gia đình.

Trường hợp Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Về phần tài: Không đề cập giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Lê Đức T phải chịu là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí xin ly hôn. Anh Lê Đức T đã nộp đủ theo biên lai thu tiền số 0004349 ngày 15/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.

5. Về quyền kháng cáo: Anh Lê Đức T có mặt tại phiên Tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Nguyễn Thị Bảo N vắng mặt tại phiên Tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND huyện Di Linh;
  • - Chi cục THADS huyện Di Linh;
  • - UBND xã Gung Ré;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Bá Cường Huy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 88/2024/HNGĐ-ST ngày 09/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 88/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xét xử
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger