|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 88/2024/HS-ST Ngày 02 - 12 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Toản;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Quốc Hưng và ông Nguyễn Văn Thân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huyền Chi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đại Dương - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 81/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
*. Họ và tên: Chu Minh K - Sinh ngày 15/11/1996, tại thành phố S, tỉnh Thái Nguyên. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm C, xã B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Chu Quang V - Sinh năm: 1966 và bà Hoàng Thị T - Sinh năm: 1968 gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; có vợ là: Nguyễn Thị Y - Sinh năm 1997; có 02 con, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2020. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam ngày nào, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú.
(Có mặt tại phiên tòa).
- Người bào chữa cho bị cáo Chu Minh K: Ông Lê Văn L và bà Nguyễn Thị T1 - Luật sư - Công ty L2 (Địa chỉ: Số B ngõ B X, B, thành phố Hà Nội) - Đoàn Luật sư thành phố H.
(Ông L và bà T1 có mặt tại phiên tòa).
*. Bị hại: Công ty TNHH T4;
Địa chỉ: Tổ F, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Lý Tiến Đ - Chức vụ: Giám đốc.
(Ông Đ có mặt tại phiên tòa).
*. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Nguyễn Thị Y - Sinh năm: 1997 (Là vợ bị cáo);
Nơi cư trú: Xóm C, xã B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên.
(Vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
*. Người làm chứng:
- Anh Dương Văn T2 - Sinh năm 1988; Nơi cư trú: Xóm L, xã B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên.
- Chị Vũ Thị Tuyết T3 - Sinh năm 2000; Nơi cư trú: Tổ A, phường C, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên.
- Anh Đào Văn L1 - Sinh năm 1999; Nơi cư trú: TDP A, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.
- Anh Nguyễn Ngọc Đ1 - Sinh năm 1996; Nơi cư trú: TDP B, phường C, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên.
(Đều vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Chu Minh K (Là nhân viên theo hợp đồng lao động ký kết với Công ty TNHH T4 có địa chỉ kinh doanh tại tổ dân phố B, phường B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên), nhiệm vụ là nhân viên giao hàng. Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 14/5/2024, K điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, sơn màu trắng, biển kiểm soát 20B1 - 055.43 đến Công ty làm việc. Đến nơi, K thấy chưa có ai đến làm việc nên mở cửa vào phòng. Do không có người nên K nảy sinh ý định trộm cắp tiền mà các nhân viên giao hàng nộp về Công ty để ở trong ngăn kéo bàn thu ngân. Khuê đi đến vị trí bàn làm việc, dùng tay trái mở ngăn kéo bàn thu ngân thì thấy có khoảng 03 – 04 tập tiền, trong đó K thấy 01 tập tiền được quấn bằng dây nilon có dán giấy nhớ màu vàng ghi nội dung “A Toàn 3750k”. Khuê biết số tiền 3.750.000 đồng này của anh Dương Văn T2 đã nộp cho nhân viên thu ngân của Công ty trước đó. Sau đó, K lấy tập tiền cất giấu vào túi quần phía trước, bên phải đang mặc rồi đi ra ngoài, khóa cửa lại, điều khiển xe mô tô đi đến cửa hàng điện thoại di động Lâm Đào M tại khu vực ngã tư B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, trên đường đi Khuê tháo vứt dây nilon và giấy nhớ ghi nội dung “A Toàn 3750k”. Tại đây, K mua của anh Đào Văn L1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s, màu ghi, 01 ốp lưng điện thoại bằng nhựa màu trắng và 01 cáp sạc điện thoại di động ký hiệu QOOVI với tổng số tiền là 1.350.000 đồng. Số tiền còn lại, K nhờ anh L1 chuyển khoản vào tài khoản ngân hàng V1 số [...] của K. Sau khi nhận được tiền, K nạp 100.000 đồng vào tài khoản sim số điện thoại 0941.700.xxx của mình để đăng ký mạng internet rồi đi về. Trên đường về K dừng lại ở rìa đường và sử dụng điện thoại động tìm kiếm trang trò chơi trực tuyến có tên H đăng ký tài khoản và thực hiện giao dịch nạp số tiền 2.000.000đồng vào tài khoản số 10888159156, tên tài khoản là HUYNH HOANG HUYNH mở tại ngân hàng V1, K được nạp số tiền tương ứng vào game và đã chơi hết số tiền trên. Sau đó, K điều khiển xe mô tô về quán G thuộc phường C, thành phố S chơi game đến khoảng 11 giờ 40 phút cùng ngày được Công an phường B triệu tập đến việc và tự giác giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s, màu ghi, đã qua sử dụng; 01 ốp lưng điện thoại bằng nhựa màu trắng; 01 phiếu bảo hành đề “Lâm Đào M”; 01 cáp sạc điện thoại di động ký hiệu QOOVI; 01 thẻ ATM ngân hàng V1 số 9704150145772755. Được niêm phong vào bì ký hiệu A; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, sơn màu trắng, BKS: 20B1 - 055.43, đã qua sử dụng; Số tiền 290.000đồng tiền Ngân hàng N, được niêm phong vào bì ký hiệu A4.
Sau khi phát hiện bị mất tài sản anh Lý Tiến Đ là Giám đốc Công ty TNHH T4 đã làm đơn trình báo sự việc đến Công an phường B, đề nghị giải quyết theo quy định. Ngày 14/5/2024 Công an phường B chuyển giao hồ sơ vụ án cùng tài liệu đồ vật liên quan đến Cơ quan CSĐT Công an thành phố Sông Công giải quyết theo thẩm quyền.
Quá trình điều tra thu giữ dữ liệu camera giám sát khu vực cửa ra vào và bàn làm việc nơi xảy ra vụ việc tại Công ty TNHH T4, được sao lưu vào đĩa CD, niêm phong vào bì ký hiệu A1; thu giữ dữ liệu camera giám sát tại cửa hành điện thoại Lâm Đào M thời điểm Khuê vào mua điện thoại, được niêm phong vào bì ký A3.
Quá trình điều tra, Chu Minh K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nêu trên.
Vật chứng, tài liệu liên quan của vụ án gồm:
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, sơn màu trắng, BKS: 20B1 – 055.43, đã qua sử dụng đã được trả lại cho chủ sở hữu là anh Chu Quang K1 quản lý sử dụng;
- - 01 điện thoại đi động nhãn hiệu Iphone 6s, màu ghi, đã qua sử dụng; 01 ốp lưng điện thoại bằng nhựa màu trắng; 01 phiếu bảo hành đề “Lâm Đào M”; 01 cáp sạc điện thoại di động ký hiệu QOOVI; 01 thẻ ATM ngân hàng V1 số 9704150145772755; Số tiền 290.000đồng tiền Ngân hàng N. Hiện đang được bảo quản theo quy định theo đúng quy trình quản lý vật chứng.
- - Đối với 01 đĩa CD chứa dữ liệu do camera ghi lại diễn biến Chu Minh K thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại Công ty TNHH T4 và đến cửa hàng điện thoại di động Lâm Đào M, được lần lượt niêm phong vào bì ký hiệu A3, B chuyển theo hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 22/5/2024, chị Nguyễn Thị Y (Là vợ bị cáo Chu Minh K) đã bồi thường số tiền 3.750.000 đồng cho anh Đ là Giám đốc Công ty TNHH T4. Anh Đ và chị Y không có yêu cầu gì đối với bị cáo Chu Minh K.
Tại bản Cáo trạng số 83/CT - VKS ngày 15/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Chu Minh K về tội: “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo Chu Minh K đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra.
Trong lời luận tội, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích đánh giá khách quan, toàn diện, đầy đủ những chứng cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã kết luận, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử như sau:
Tuyên bố: Bị cáo Chu Minh K phạm tội: “Trộm cắp tài sản”; áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của BLHS, xử phạt bị cáo Chu Minh K từ 06 – 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 - 18 tháng; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết. Về xử lý vật chứng: Tạm giữ số tiền 290.000 đồng để đảm bảo việc Thi hành án cho bị cáo; Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s, ốp lưng, phiếu bảo hành, cáp sạc, thẻ ATM mang tên bị cáo. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí HSST nộp ngân sách nhà nước theo quy định.
Bị cáo Chu Minh K không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì về hành vi phạm tội của mình, thừa nhận việc truy tố là không oan, đúng người, đúng tội.
- Người bào chữa cho bị cáo Chu Minh K có ý kiến bào chữa được tóm tắt như sau: Nhất trí với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo, xác định việc truy tố, xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét việc bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ tài sản bị chiếm đoạt cho bị hại để khắc phục hậu quả và được bị hại có đơn đề nghị miễn trách nhiệm hinh sự cho bị cáo, căn cứ khoản 3 Điều 29 của Bộ luật Hình sự có thể miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo Chu Minh K.
- Bị cáo Chu Minh K nhất trí ý kiến bào chữa nêu trên, không bổ sung gì thêm.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại (Công ty T4) có ý kiến: Về trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét có thể miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo, về trách nhiệm dân sự không có yêu cầu gì thêm đối với bị cáo.
Qua đối đáp đại diện VKS đã phân tích các quy định của pháp luật và các tình tiết khách quan của vụ án, xét thấy không có căn cứ đề nghị cho bị cáo được miễn trách nhiệm hình sự, giữ nguyên quan điểm như đã nêu trên.
Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến tranh luận, đối đáp gì thêm.
Khi được nói lời sau cùng bị cáo Chu Minh K có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, nên có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận, vì đã phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Do đó đã có đủ căn cứ để Hội đồng xét xử kết luận:
Bị cáo Chu Minh K là nhân viên của Công ty TNHH T4 (có địa chỉ kinh doanh tại tổ dân phố B, phường B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên). Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 14/5/2024, bị cáo đến Công ty làm việc; khi vào phòng làm việc, lợi dụng lúc này Công ty chưa có ai đến làm việc nên bị cáo đã có hành vi trộm cắp số tiền 3.750.000 đồng để trong ngăn kéo bàn thu ngân do các nhân viên giao nộp về cho Công ty. Hành vi đó của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm: “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của BLHS. Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn nêu trên là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
Nội dung điều luật quy định như sau:
Điều 173 BLHS. Tội trộm cắp tài sản.
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
[3] Đánh giá về tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, mức độ của tội phạm là ít nghiêm trọng, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an toàn xã hội ở địa phương. Vì vậy, cần có một mức án phù hợp, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi vụ việc bị phát hiện, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại để khắc phục hậu quả, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của BLHS. Đại diện hợp pháp của bị hại (Anh Lý Tiến Đ, Giám đốc C) có đơn đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo, nên bị cáo còn được hưởng thêm tình tiết tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác quy định tại khoản 2 Điều 51 của BLHS.
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của BLHS.
Xét nhân thân bị cáo thấy bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo và tác động gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại để khắc phục hậu quả, hơn nữa bị cáo có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng và được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 của BLHS và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Hội đồng xét xử thấy, có căn cứ chấp nhận ý kiến của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo và ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy không cần thiết phải cách ly xã hội đối với bị cáo, cho bị cáo được cải tạo, giáo dục dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội và cũng cho bị cáo thấy được sự khoan hồng, nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của BLHS thì người phạm tội còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là bị phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thấy bị cáo không có tài sản riêng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5]Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã có hành vi trộm cắp số tiền 3.750.000 đồng của Công ty TNHH T4. Quá trình điều tra bị chị Nguyễn Thị Y là vợ bị cáo là đã bồi thường cho Công ty số tiền trên. Nay Công ty không có yêu cầu gì thêm về việc bồi thường đối với bị cáo, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết. Về số tiền mà chị Nguyễn Thị Y đã bồi thường cho Công ty TNHH T4 thay cho bị cáo (3.750.000 đồng), chị Y không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền nêu trên, nên Hội đồng xét xử cũng không đặt ra xem xét, giải quyết.
[6] Về xử lý vật chứng vụ án như sau: Áp dụng Điều 47 của BLHS và Điều 106 của BLTTHS xử lý vật chứng vụ án như sau:
- - Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s, ốp lưng điện thoại, phiếu bảo hành, cáp sạc điện thoại, 01 thẻ ATM, xét thấy đây là những tài sản thuộc quyền sở hữu của bị cáo và không liên quan gì đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo quản lý, sử dụng.
- - Về số tiền 290.000 đồng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo việc Thi hành án cho bị cáo.
[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát trong lời luận tội đối với bị cáo, như đề nghị về tội danh, điều luật áp dụng, biện pháp chấp hành hình phạt tù, xử lý vật chứng vụ án là phù hợp với các quy định của pháp luật cần được chấp nhận. Về đề nghị cho bị cáo được miễn trách nhiệm hình sự của người bào chữa cho bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ chấp nhận như đã phân tích nêu trên.
[8] Trong vụ án này, có anh Đào Văn L1 là người bán 01 điện thoại đi động nhãn hiệu Iphone 6s, 01 ốp lưng điện thoại, 01 cáp sạc điện thoại di động ký hiệu QOOVI và chuyển khoản số tiền 2.400.000 đồng vào tài khoản cho bị cáo K, tuy nhiên anh L1 không biết nguồn gốc số tiền bị cáo dùng để giao dịch với anh L1 là tiền do phạm tội mà có nên cơ quan không xem xét xử lý là phù hợp.
- Đối với tài khoản số 10888159156 mở tại Ngân hàng V1, chủ tài khoản là anh Huỳnh Hoàng H1 (Sinh năm: 2003, trú tại Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh) đã nhận số tiền 2.000.000 đồng do K chuyển đến để nạp tiền chơi game, qua điều tra xác minh anh H1 không có mặt tại địa phương nên tiếp tục xác minh, làm rõ.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST nộp vào ngân sách nhà nước Nhà nước theo quy định pháp luật
[10].Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong hạn Luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Điều 47, khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự;
- - Các Điều 106, 136, 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Chu Minh K phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Chu Minh K 09 (Chín) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Chu Minh K cho UBND xa B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên theo dõi giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án Hình sự.
3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định khoản 5 Điều 173 của BLHS.
4. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
5.Về xử lý vật chứng vụ án như sau:
- - Trả lại cho bị cáo Chu Minh K các tài sản sau đây: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s, màu ghi, đã qua sử dụng, 01 ốp lưng điện thoại bằng nhựa màu trắng, 01 phiếu bảo hành trên phiếu ghi chữ “Lâm Đào M”, 01 cáp sạc điện thoại ký hiệu QOOVI, 01 thẻ ATM ngân hàng V1 số 9704150145772755 chủ thẻ “CHU MINH KHUE” (Được niêm phong trong bì niêm phong ký hiệu A);
- - Tạm giữ số tiền 290.000 đồng (Hai trăm chín mươi nghìn đồng) để đảm bảo việc Thi hành án cho bị cáo.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16 tháng 10 năm 2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố S và Chi cục THADS thành phố S, tỉnh Thái Nguyên và Giấy nộp tiền số 10866261 ngày 16/10/2024 tại Ngân hàng TMCP V2 - Chi nhánh N1 vào tài khoản số 39490.1007371.00000 của Chi cục THADS thành phố S).
6.Về án phí: Buộc bị cáo Chu Minh K2 chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm nộp vào ngân sách Nhà nước.
7.Thông báo quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại (Công ty TNHH T4) có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án (Chị Nguyễn Thị Y) có quyền kháng cáo phần Bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Toản |
Bản án số 88/2024/HS-ST ngày 02/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 88/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
