Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĂN LÃNG

TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

Bản án số: 88/2024/HS-ST

Ngày 18-10-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Triệu Thị Máy.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Công Tâm;

Bà Triệu Hồng Hạnh.

Thư ký phiên tòa: Ông Triệu Tuấn Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Thu Cúc - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 84/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Lương Văn T, sinh ngày 18 tháng 12 năm 1967, tại huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Nơi cư trú: Thôn T, xã Hội Hoan, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Nông dân; trình độ văn hóa: 1/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn T1 và bà Hoàng Thị E (đều đã chết); có vợ: Long Thị Đ, sinh năm 1965; có 02 con, con lớn sinh năm 1991, con nhỏ sinh năm 1996; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Theo bản án số 184/HS-ST ngày 25/12/2002 bị Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn, xử phạt 07 (bảy) năm tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy và 07 (bảy) năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tổng hợp cả 02 tội bị cáo phải chấp hành hình phạt tù là 14 (mười bốn) năm tù giam (đã được xóa án tích); theo Quyết định số 85/QĐ-XPVPHC ngày 14/10/2021 bị Công an huyện V, tỉnh Lạng Sơn xử phạt vi phạt hành chính về hành vi Trồng cây thuốc phiện bằng thức phạt tiền (đã được xóa). Bị cáo bị tạm giữ ngày 01/7/2024 đến ngày 05/7/2024 áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện bị cáo tại ngoại. Có mặt.

- Người chứng kiến: Anh Long Văn N, sinh năm 1981. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 01/7/2024, tổ công tác Công an huyện V, tỉnh Lạng Sơn, phối hợp với Công an xã H1, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, đang làm nhiệm vụ bảo đảm an ninh trật tự, tại khu vực thôn T, xã Hội Hoan, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, phát hiện tại nhà Lương Văn T có một người đàn ông đang đứng ở sân có biểu hiện nghi vấn vi phạm pháp luật. Tổ công tác đến yêu cầu kiểm tra, người đàn ông chấp hành và khai nhận họ tên Lương Văn T. Qua kiểm tra, Lương Văn T tự giác lấy từ trong túi áo ngực bên trái đang mặc trên người ra nộp cho tổ công tác 01 (một) gói giấy (loại giấy vệ sinh), bên trong có 08 (tám) gói giấy kẻ ô ly, trong mỗi gói giấy đều chứa chất bột màu trắng, nghi là chất ma túy H và khai nhận chất bột màu trắng trong các gói giấy là ma tuý, mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã đưa Lương Văn T cùng tang vật về trụ sở Ủy ban nhân dân xã, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 07 giờ 00 phút ngày 01/7/2024.

Tài liệu, đồ vật thu giữ, tạm giữ gồm: 01 (một) gói giấy (loại giấy vệ sinh), bên trong có 08 (tám) gói giấy làm từ giấy kẻ ô ly, trong mỗi gói giấy đều chứa chất bột màu trắng, nghi là chất ma túy Heroin, được niêm phong trong 01 phong bì thư ghi chữ (QT Lương Văn T).

Tại Kết luận giám định số 759/KL-KTHS ngày 04/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Chất bột màu trắng trong 08 (tám) gói giấy màu trắng có dòng kẻ ô ly gửi giám định đều là chất ma túy Heroin, có tổng khối lượng 0,163 gam (đã trừ bì).

Tại Cơ quan điều tra, Lương Văn T khai nhận: Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 29/6/2024, Lương Văn T đang ở một mình có một người đàn ông khoảng 40 tuổi, dáng người gầy cao khoảng 1m60, đeo khẩu trang làm nghề thu mua phế liệu (không biết tên, tuổi, địa chỉ), đi xe máy đến nhà hỏi “có phế liệu bán không” Lương Văn T trả lời “không có”, người đàn ông tiếp tục hỏi “có nhu cầu mua ma túy không”, Lương Văn T trả lời “muốn mua 1.000.000 (một triệu) đồng ma túy”, người đàn ông nhận tiền và đưa cho Lương Văn T 01 (một) gói giấy (loại giấy vệ sinh), bên trong có 10 (mười) gói giấy làm từ giấy kẻ ô ly, bên trong là chất ma túy Heroin, Lương Văn T nhận lấy và cất vào trong túi áo ngực bên trái đang mặc trên người, từ ngày 29/6/2024 đến ngày 30/6/2024 Lương Văn T đã sử 02 gói ma túy, còn lại 08 gói ma túy cất vào trong túi áo ngực bên trái đang mặc trên người, khi Công an đến kiểm tra Lương Văn T đã giao nộp 08 gói ma túy cho Công an.

Tại bản Cáo trạng số 90/CT-VKS ngày 03/10/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Lương Văn T ra trước Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn để xét xử bị cáo Lương Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình, như cáo trạng đã nêu. Bị cáo thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, tỏ ra ăn năn hối cải và xin được giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa, vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lương Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 50, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Lương Văn T mức án từ 15 tháng đến 18 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu, tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định và các vỏ bao gói cũ.

Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc hộ cận nghèo, bị cáo đơn xin miễn án phí, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo bị bệnh lao phổi tắc nghẽn mãn tính, sức khỏe yếu, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt với mức thấp nhất cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. [2] Tại phiên tòa bị cáo Lương Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo đã khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
  3. [3] Từ những phân tích trên có đủ cơ sở xác định như sau: Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 01/7/2024, tổ công tác Công an huyện V, tỉnh Lạng Sơn, phối hợp với Công an xã H1, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, đang làm nhiệm vụ tại khu vực thôn T, xã Hội Hoan, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, kiểm tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ của Lương Văn T 01 (một) gói giấy (loại giấy vệ sinh), bên trong có 08 (tám) gói giấy làm từ giấy kẻ ô ly, trong mỗi gói giấy đều chứa chất bột màu trắng. Qua giám định là chất ma túy Heroin, có tổng khối lượng 0,163 gam (đã trừ bì), bị cáo Lương Văn T mua nhằm mục đích để sử dụng.
  4. [4] Do đó có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lương Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố đối với bị cáo Lương Văn T là hoàn toàn có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
  5. [5] Xét tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương và xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa giáo dục chung. Tuy vậy, Hội đồng xét xử sẽ xem xét đánh giá về nhân thân các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
  6. [6] Về nhân thân bị cáo đã từng bị kết án, bị xử lý vi phạm hành chính, theo bản án số 184/HS-ST ngày 25/12/2002 bị Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn, xử phạt 07 (bảy) năm tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy và 07 (bảy) năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tổng hợp cả 02 tội bị cáo phải chấp hành hình phạt tù là 14 (mười bốn) năm tù giam (đã được xóa án tích); theo Quyết định số 85/QĐ-XPVPHC ngày 14/10/2021 bị Công an huyện V, tỉnh Lạng Sơn xử phạt vi phạt hành chính về hành vi Trồng cây thuốc phiện bằng thức phạt tiền 2.500.000 (hai triệu năm trăm nghìn) đồng, bị cáo đã nộp ngày 01/11/2021 (đã được xóa). Tuy đã được xóa án tích, nhưng bị cáo không phải là người có nhân thân tốt. Về tình tiết tăng nặng: Không có. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, trình độ văn hóa thấp, nhận thức pháp luật có phần hạn chế, bị cáo Lương Văn T bị bệnh lao phổi tắc nghẽn mãn tính, là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
  7. [7] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào kết quả xác minh có trong hồ sơ vụ án cho thấy gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  8. [8] Đối với người đàn ông khoảng 40 tuổi, làm nghề thu mua phế liệu bán ma túy cho bị cáo tại khu vực thôn T, xã Hội Hoan, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, bị cáo không biết họ tên, địa chỉ của người đàn ông trên, nên cơ quan điều tra không tiến hành xác minh làm rõ được.
  9. [9] Về vật chứng của vụ án: Đối với số ma túy hoàn lại sau giám định, là vật Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành, nên cần tịch thu, tiêu hủy.
  10. [10] Ý kiến Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị mức án, xử lý vật chứng là phù hợp với quy định của pháp luật, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
  11. [11] Về án phí: Bị cáo bị kết án, phải chịu án phí hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Lương Văn T là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc hộ cận nghèo, bị cáo Lương Văn T có đơn xin miễn án phí theo quy định tại Điều 12, Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nên miễn án phí hình sự cho bị cáo.
  12. [12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 50; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lương Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  2. Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Lương Văn T 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi chấp hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 01/7/2024 đến ngày 05/7/2024.
  3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
  4. Về xử lý vật chứng:

    Tịch thu, tiêu hủy: Số ma túy hoàn lại sau giám định, niêm phong trong 01 (một) phong ghi chữ “QT Lương Văn T” cũ, có chữ ký cùng tên của giám định viên Bùi Anh T2, trợ lý giám định và các hình dấu của phòng K tại các phần giáp lai mới, bên trong có 01 (một) gói giấy đựng 0,135 gam chất ma túy Heroin (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) và các vỏ bao gói (cũ).

    (Vật chứng trên đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/10/2024).

  5. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lương Văn T.
  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND huyện Văn Lãng;
  • - CQ điều tra Công an huyện Văn Lãng;
  • - Nhà tạm giữ Công an h. Văn Lãng;
  • - Bị cáo;
  • - UBND xã Hội Hoan, huyện Văn Lãng;
  • - Chi cục THADS h. Văn Lãng, t. Lạng Sơn;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn;
  • - CQ Thi hành án hình sự;
  • - Lưu VP- hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Triệu Thị Máy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 88/2024/HS-ST ngày 18/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 88/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lương Văn T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger