TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG Bản án số: 88/2024/HS-ST Ngày: 27 tháng 9 năm 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc —————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Bình.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hồng; Bà Phan Thị Nga.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Tiểu Ngọc, Thư ký Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Dương Duy Tín, Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 108/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Đặng Văn T, sinh năm 1987; Nơi sinh: Huyện C, tỉnh An Giang; Nơi cư trú: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Nghề nghiệp: Không. Cha Đặng Văn N (đã chết), Mẹ Nguyễn Thị T1. Bị cáo chưa có vợ con.
- Tiền án: Ngày 15/5/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 19/12/2020, chưa xóa án tích tiếp tục trộm cắp tài sản trị giá 1.000.000 đồng, nên ngày 23/4/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 11/12/2021, chưa xóa án tích tiếp tục 01 lần trộm cắp tài sản trị giá 600.000 đồng và 01 lần trộm cắp tài sản trị giá 6.000.000 đồng, nên ngày 31/8/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 08/5/2024, chưa xóa án tích.
- Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 14/01/2009, bị Ủy ban nhân dân tỉnh A đưa vào cơ sở giáo dục B, tỉnh Trà Vinh, thời hạn 24 tháng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 15/12/2010.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 12/7/2024 đến nay, tại Nhà tạm giữ - Công an huyện C. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
- Ông Hồ Văn T2, sinh năm 1963; nơi cư trú: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang. Vắng mặt.
- Ông Trương Văn H, sinh năm 1947; nơi cư trú: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Văn D, sinh năm 1964; nơi cư trú: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 11/7/2024, Đặng Văn T chạy xe đạp từ nhà ở ấp B, đến nhà của Trương Văn H ở ấp B, xã B, huyện C, xin Hận thuốc lá để hút; lợi dụng lúc H đi vào trong lấy thuốc, T lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA C30, màu xanh của H đang để trên giường, cất giấu vào túi quần sau, rồi đi về nhà. Tiếp đó, khoảng 22 giờ cùng ngày, T đi bộ đến khu vực vườn xoài của Hồ Văn T2 ở ấp B, xã B, nhặt 01 bao nilon màu trắng, lén lút mở cửa chuồng nuôi thỏ của T2, bắt trộm 03 con thỏ (01 con thỏ màu trắng, 01 con thỏ màu vàng, 01 con thỏ màu đen) để vô bao, rồi đi về nhà. Sau đó, T dùng xe đạp của Trần Văn D (ở cùng xóm), chở theo bao nilon đựng thỏ đã lấy trộm đến nhà Lê Văn H1 (ở cùng xóm) mục đích để làm thịt, nhậu, nhưng trên đường đi thì bị phát hiện, bắt giữ.
Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại di động, đã trả cho Trương Văn H; 03 con thỏ, đã trả cho Hồ Văn T2; 01 xe đạp, đã trả cho Trần Văn D và 01 bao nilon.
Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 27/KL-HĐĐG.TTHS ngày 17/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C: 01 điện thoại di động, trị giá 1.200.000 đồng; 03 con thỏ, trị giá 960.000 đồng. Tổng cộng: 2.160.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì khác.
Tại Cáo trạng số: 91/CT-VKSCM-HS ngày 12 tháng 9 năm 2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới đã truy tố Đặng Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự 2015.
Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Đặng Văn T khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án nêu trên.
Bị hại vắng mặt tại phiên toà nhưng quá trình điều tra trình bày nội dung phù hợp với Cáo trạng nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng các điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Đặng Văn T từ 01 năm 3 tháng đến 1 năm 9 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo không bào chữa và tranh luận gì, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng
Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị hại vắng mặt, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại gì đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo Đặng Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng 17 giờ ngày 11/7/2024, tại ấp B, xã B, huyện C, Đặng Văn T có hành vi lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA C30, màu xanh của anh H. Tiếp đó, khoảng 22 giờ cùng ngày, T lén lút bắt trộm 03 con thỏ (01 con thỏ màu trắng, 01 con thỏ màu vàng, 01 con thỏ màu đen). Theo kết luận định giá tài sản số 27/KL-HĐĐG.TTHS ngày 17/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản 01 điện thoại di động, trị giá 1.200.000 đồng; 03 con thỏ, trị giá 960.000 đồng. Tổng cộng: 2.160.000 đồng; trước đó bị cáo đã bị kết án về hành vi cùng loại tội, tiền án đó chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục thực hiện hành vi cùng loại tội do cố ý.
Hành vi của bị cáo Đặng Văn T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương, dù đã nhiều lần bị xử phạt về tội trộm cắp tài sản nhưng vẫn tiếp tục vi phạm pháp luật. Vì vậy, cần phải xét xử thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Lẽ ra phải lao động tích cực, rèn luyện tu dưỡng để trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội. Nhưng ngược lại, vì muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao động nên bị cáo đã nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với lỗi cố ý. Do đó, cần phải có hình phạt tương xứng với mức độ nghiêm trọng của tội phạm.
Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo. Đây là các tình tiết để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét thấy: Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Về tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng nhưng bị cáo có nhân thân xấu, có 03 tiền án về hành vi cùng loại tội. Điều đó chứng tỏ bị cáo là người rất xem thường pháp luật nên việc áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc là cần thiết nhằm giáo dục răn đe và phòng ngừa chung. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội một thời gian là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp, tài sản, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: 01 điện thoại di động, 03 con thỏ, 01 xe đạp và 01 bao nilon quá trình điều tra đã trả lại cho bị hại xong nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết tiếp.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Các đương sự không có yêu cầu bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[8] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Đặng Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Đặng Văn T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 12/7/2024.
Căn cứ vào Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Đặng Văn T phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thanh Bình |
Bản án số 88/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 88/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo có hành vi trộm cắp tài sản
