Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 88/2024/DS-ST.

Ngày: 24-9-2024.

V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay có cầm cố tài sản, hợp đồng mượn tài sản”.

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,

TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga.

  • Các Hội thẩm nhân dân:

    1. 1. Ông Lê Huỳnh Sinh

    2. 2. Bà Nguyễn Thị Minh Trâm

  • - Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thanh Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh H - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 218/2024/TLST-DS ngày 28 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp: “Tranh chấp hợp đồng vay có cầm cố tài sản, hợp đồng mượn tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 87/2024/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 116/2024/QĐST-DS ngày 04 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty cổ phần S tiền có ngay

Đại diện theo pháp luật: Ông Kanokwatpaisal napat – Chức vụ: Giám đốc

Địa chỉ trụ sở: 128 N, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An.

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Lê Hoàn T1 – Chức vụ: Nhân viên.

Địa chỉ liên lạc: Số B N, phường T, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Phạm T, sinh năm 1976

Địa chỉ: Khu phố E, phường Đ, thành phố P T, tỉnh Ninh Thuận.

Ông Lê Hoàn T1 có mặt, bà Nguyễn Thị Phạm T vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện của nguyên đơn, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền lại của nguyên đơn là ông Lê Hoàn T1 trình bày:

Công ty TNHH S1 nay là Công ty cổ phần S có ngay (gọi tắt là Công ty) có Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty cổ phần do Sở kế hoạch và Đầu tư tỉnh N cấp Giấy chứng nhận đăng ký thay đổi lần thứ 7, ngày 27/3/2024 và có Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh do Sở kế hoạch và Đầu tư tỉnh N cấp Giấy chứng nhận đăng ký thay đổi lần thứ 3, ngày 14/4/2024. Công ty hoạt động nhiều lĩnh vực, trong đó có cầm cố tài sản.

Ngày 17/11/2022, bà Nguyễn Thị Phạm T có ký hợp đồng cầm cố số PRM221101021NA22X với Công ty. Theo đó, bà T cầm cố xe máy HonDa biển số 85B1-921.41 để vay số tiền là 25.300.000 đồng. Thời hạn cầm cố 12 tháng, số tiền cam kết thanh toán mỗi tháng là 2.333.977,03 đồng; Lãi suất cầm cố là 1.1%/tháng. Lãi quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Phí quản lý hồ sơ 0.5%/tháng trên dư nợ thực tế tính từ ngày ký hợp đồng và nhận tiền.

Do nhu cầu đi lại, phục vụ công việc, ngày 17/11/2022, bà Nguyễn Thị Phạm T đã ký kết với Công ty X mượn lại chiếc xe trên để phục vụ đi lại thời hạn 01 tháng. Tuy nhiên đến nay bà T chỉ thanh toán được tổng số tiền 11.703.000 đồng bao gồm cả gốc, lãi, phí. Bà T vẫn chưa thực hiện trả xe cho Công ty và Công ty chỉ còn giữ giấy chứng nhận đăng ký xe bản gốc.

Tại đơn khởi kiện, nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • - Yêu cầu bà Nguyễn Thị Phạm T phải giao trả lại chiếc xe hiệu HonDa mang biển số 85B1-921.41, số khung: RLHJK1409NZ202143, số máy: JK14E0012089 đã cầm cố mà bà T mượn lại của Công ty CP S có ngay. Trường hợp bà T không thể trả lại xe cầm cố thì phải có nghĩa vụ thanh toán cả gốc lẫn lãi tới thời điểm hiện tại thông qua hợp đồng cầm cố tài sản và các loại phí đã thỏa thuận.

Tại phiên hòa giải ngày 06/8/2024, Công ty yêu cầu bà Nguyễn Thị Phạm T phải trả các khoản tiền sau: Tiền gốc: 17.396.108 đồng. Tiền lãi trong hạn: 877.050 đồng. Tiền lãi quá hạn: 3.537.246,86 đồng; phí mượn xe 6.072.000 đồng; phí quản lý

hồ sơ 392.589,85. Tổng số tiền Công ty yêu cầu bà Nguyễn Thị Phạm T thanh toán tạm tính đến ngày 06/8/2024 là 28.274.994,71đồng.

Tại phiên tòa, đại diện của nguyên đơn xin thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện đối với các loại phí, không yêu cầu Hội đồng xét xử giải quyết đối với tài sản sản cầm cố, hiện Công ty đã cho bà T mượn lại tài sản cầm cố; Tính đến ngày 24/9/2024, Công ty yêu cầu bà T phải thanh toán tiền gốc là 17.396.108 đồng. Tiền lãi trong hạn: 877.050 đồng. Tiền lãi quá hạn: 3.986.936 đồng. Tổng cộng: 22.260.094 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 25/9/2024), bà T còn phải tiếp tục chịu lãi suất phát sinh đối với khoản nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng cầm cố đã ký cho đến khi thanh toán xong nợ.

Sau khi bà T thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ thì Công ty S sẽ trả lại bà T bản chính Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô xe máy số 000988 do Phòng C Công an tỉnh N cấp ngày 04/7/2022 cho bà Nguyễn Thị Phạm T và thực hiện thủ tục xóa đăng ký tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Phạm T: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà T nhưng bà T không đến Tòa án làm việc và không có ý kiến phản hồi gì liên quan đến tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:

Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án.

Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Bị đơn chưa thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự (viết tắt là BLTTDS). Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của BLTTDS, xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật là có cơ sở.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ngoài ra, đương sự chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn Công ty cổ phần S tiền có ngay yêu cầu bị đơn Nguyễn Thị Phạm T thanh toán số tiền còn nợ, tiền lãi theo hợp đồng cầm cố tài sản và trả lại tài sản; Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng vay có cầm cố tài sản; hợp đồng mượn tài sản” theo khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có địa chỉ tại khu phố E, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận.

[1.2] Xử lý về việc vắng mặt của bị đơn: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt hợp lệ cho bà T. Bà T không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho các đương sự theo quy định của pháp luật nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết vụ án. Bà T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt.

[1.3] Về việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu khởi kiện:

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện hợp pháp của nguyên đơn xin thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện đối với các yêu cầu: Công ty cổ phần S có ngay chỉ yêu cầu bị đơn Nguyễn Thị Phạm T phải trả toàn bộ nợ gốc, nợ lãi trong hạn và nợ lãi quá hạn; không buộc bà T phải giao trả lại chiếc xe hiệu Honda mang biển số 85B1-921.41; không buộc bà T trả phí thẩm định tài sản. Xét thấy, việc thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện là hoàn toàn tự nguyện, không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu, phù hợp với quy định tại Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về tính hợp pháp của hợp đồng:

Ngày 17/11/2022, bà Nguyễn Thị Phạm T và Công ty có ký hợp đồng cầm cố tài sản số PRM221101021NA22X. Thông qua hợp đồng, Công ty cổ phần S có ngay đã giải ngân bà T số tiền: 25.300.000 đồng và Công ty nhận bảo đảm khoản tiền vay đã giải ngân thông qua việc cầm cố xe hiệu Honda, mang biển số số 85B1-921.41, số khung: RLHJK1409NZ202143, số máy: JK14E0012089 do bà T đứng tên chủ sở hữu. Đồng thời, bà T có ký giấy mượn lại chiếc xe nêu trên và được phía Công ty chấp nhận.

Xét thấy, hợp đồng cầm cố và mượn xe được các bên xác lập trên cơ sở tự

nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, không bị lừa dối hay bị ép buộc nên đây là hợp đồng hợp pháp phù hợp với quy định tại Điều 309, Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[2.2] Về nội dung hợp đồng cầm cố và yêu cầu đòi nợ gốc:

Công ty cổ phần S tiền có ngay có đăng ký kinh doanh dịch vụ cầm đồ; tại khoản 4 Điều 3 Nghị định 96/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định “Kinh doanh dịch vụ cầm đồ, gồm: Kinh doanh dịch vụ cho vay tiền mà người vay tiền phải có tài sản hợp pháp mang đến cơ sở kinh doanh dịch vụ cầm đồ để cầm cố”.

Điều 309 của Bộ luật Dân sự quy định “Cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây là gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ”.

Công ty S và bà T giao kết hợp đồng cầm cố tài sản để nhận số tiền cầm cố: 25.300.000 đồng và phụ lục hợp đồng cầm cố (kèm theo hợp đồng), thể hiện bà T là người cầm cố tài sản chiếc xe máy để vay tiền tại Công ty.

Như vậy, có đủ căn cứ để xác định: mặc dù hình thức của Hợp đồng số PRM221101021NA22X là hợp đồng cầm cố tài sản nhưng nội dung của hợp đồng là thỏa thuận về việc Công ty S cho bà T vay số tiền 25.300.000 đồng và việc bà T cầm cố chiếc xe Honda mang biển số 85B1-921.41 cho Công ty S thông qua hợp đồng này là phương thức bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả số tiền nợ đã vay; Nội dung hợp đồng có thỏa thuận về mức lãi suất 1,1%/ tháng, phí chậm trả tương ứng 150% lãi suất quy định và các loại phí khác, các khoản thu này được tính theo mức %/tháng/dư nợ thực tế; cho thấy, Công ty S đã dùng nhiều thuật ngữ khác nhau để tính lãi, phí và phạt hợp đồng nhằm mục thu lãi từ việc cho vay và việc bà T cầm cố xe máy để nhận tiền và viết giấy mượn lại xe để dùng làm phương tiện đi lại thực chất là vay tiền có tính lãi. Vì vậy, có cơ sở xác định mục đích và nội dung hợp đồng được ký kết giữa các bên là: Hợp đồng vay có cầm cố tài sản và hợp đồng mượn tài sản.

Công ty S đã giải ngân đủ số tiền cho bà Nguyễn Thị Phạm T theo Hợp đồng số PRM221101021NA22X ngày 17/11/2022. Quá trình thực hiện hợp đồng, bà T không thanh toán cho Công ty theo thỏa thuận phí nên đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền theo quy định tại Điều 280 và Điều 311 Bộ luật Dân sự năm 2015. Vì vậy, Công ty khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Phạm T có nghĩa vụ trả số tiền nợ gốc 17.396.108 đồng là phù hợp nên chấp nhận.

[2.3] Về yêu cầu tính lãi, mức lãi suất trong hạn 1,1%/tháng; Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn là 1,65%/tháng: Cụ thể tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm 24/9/2024, tiền lãi trong hạn còn thiếu: 877.050 đồng. Tiền lãi quá hạn:

3.986.936 đồng. Căn cứ Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 6 Điều 29 Nghị định 96/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ và khoản 2 Điều 5 Nghị Quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Yêu cầu này của Công ty là phù hợp, nên bà T phải có nghĩa vụ trả số tiền lãi còn thiếu cho Công ty.

[2.4] Đối với bà Nguyễn Thị Phạm T đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng Bà không có văn bản ý kiến, không đến Tòa để trình bày và yêu cầu về nội dung giải quyết việc vay tiền và cầm cố như thế nào, nên Hội đồng xét xử không có căn cứ xác định được số tiền bà T đã trả cụ thể và các nội dung khác. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ yêu cầu của nguyên đơn, quy định của pháp luật, buộc bà T trả tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày 24/9/2024 theo yêu cầu của Công ty là: tiền vốn gốc: 17.396.108 đồng, tiền lãi trong hạn: 877.050 đồng. Tiền lãi quá hạn: 3.986.936 đồng. Tổng cộng: 22.260.094 đồng.

[2.5] Đối với việc xử lý tài sản cầm cố là chiếc xe máy, đã cho bị đơn mượn lại để sử dụng; Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của Công ty trình bày Công ty không có yêu cầu xử lý tài sản cầm cố, chỉ yêu cầu bà T trả số tiền còn thiếu như trên, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do bà Nguyễn Thị Phạm T phải trả cho Công ty số tiền 22.260.094 đồng nên phải chịu án phí là 22.260.094 đồng x 5% = 1.113.000 đồng (làm tròn số).

Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các điều 147, 227, 228, 244, 266, 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 117, Điều 280, Điều 309, Điều 311, Điều 312, Điều 314, Điều 315, Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty cổ phần S có ngay.

    Buộc bà Nguyễn Thị Phạm T phải có trách nhiệm trả cho Công ty cổ phần S tiền có ngay tổng số tiền tính đến ngày 24/9/2024 là 22.260.094 đồng (trong đó nợ gốc 17.396.108 đồng; tiền lãi trong hạn: 877.050 đồng; lãi quá hạn 3.986.936 đồng).

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm; bà Nguyễn Thị Phạm T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh đối với khoản tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong các hợp đồng cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.

    Ngay sau khi bà Nguyễn Thị Phạm T thanh toán hết nợ, Công ty cổ phần S tiền có ngay có nghĩa vụ trả lại bản chính giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 000988 do Phòng C Công an tỉnh N cấp ngày 04/7/2022 cho bà Nguyễn Thị Phạm Trúc

    Về xử lý tài sản cầm cố: Công ty cổ phần S có ngay không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

  2. Về án phí:

    Nguyễn Thị Phạm T phải chịu: 1.113.000 đồng (Một triệu một trăm mười ba nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

    Công ty cổ phần S tiền có ngay không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. H1 lại số tiền 776.000 đồng (Bảy trăm bảy mươi sáu nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002705 ngày 20/5/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận.

  3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì Người được thi hành án dân sự, Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai có mặt nguyên đơn, quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND TP. PR - TC;
  • - Chi cục THADS Tp. PR-TC;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu (HS, AV).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 88/2024/DS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN về tranh chấp hợp đồng vay có cầm cố tài sản, hợp đồng mượn tài sản

  • Số bản án: 88/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay có cầm cố tài sản, hợp đồng mượn tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khở kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger