|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH TỈNH VĨNH LONG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
Bản án số: 88/2024/HS-ST Ngày 23 – 9 – 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Thảo
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Kim Thanh
2. Ông Phan Châu Ngọc
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Kim Huyền – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Dương Hoàng Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 72/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Đoàn Bảo A, sinh năm 1992 tại tỉnh Vĩnh Long; nơi cư trú: ấp A, xã N, huyện T, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn T và bà Nguyễn Thị C; vợ Nguyễn Thị Ngân H và 02 người con (lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2017).
Tiền sự: Không.
Tiền án: Có 02 tiền án, cụ thể:
- Ngày 22/02/2011 bị Tòa án nhân dân huyện Tam Bình xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/9/2011.
- Ngày 23/01/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/02/2016, về trách nhiệm dân sự bị cáo chưa chấp hành xong theo giấy xác nhận số 48 ngày 17/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình.
Nhân thân:
- Ngày 05/9/2006 Công an huyện T bắt, lập danh chỉ bản số 1212 về việc đưa vào trường G, Ủy ban nhân dân huyện T đưa vào trường giáo dưỡng 06 tháng.
- Ngày 04/9/2008 Công an huyện T bắt, lập danh chỉ bản số 1484 về việc đưa vào trường G, Ủy ban nhân dân huyện T đưa vào trường giáo dưỡng 24 tháng.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/5/2024 đến nay và có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh Hồ Trọng H1, sinh năm 1988; nơi cư trú: ấp P, xã L, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Trần Minh Q, sinh năm 1990; nơi cư trú: ấp P, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 02 giờ ngày 11/11/2023, Đoàn Bảo A nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của người khác bán lấy tiền tiêu xài nên điều khiển xe mô tô biển số 68B3-245.48 từ nhà đi đến khu vực vườn dừa giáp ranh xã L với xã L và đậu xe tại đây rồi đi bộ theo đường đal cặp bờ sông. Khi đến nhà anh Hồ Trọng H1, sinh năm 1988 ngụ ấp P, xã L, huyện T, tỉnh Vĩnh Long là nhà cấp 4, cửa trước làm bằng gỗ chỉ khép lại không có khóa cửa. Bảo A đi đến quan sát thấy mọi người trong nhà đã ngủ nên đột nhập vào nhà tìm tài sản lấy trộm. Bảo A vào nhà đi đến phòng ngủ của anh H1 thấy có 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S20FE màu xanh để trên bàn cặp tường và 02 điện thoại di động (gồm 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno 6 màu xanh và 01 điện thoại di động hiệu Redmi Not 8 Pro màu xanh) để trên ghế trong phòng ngủ nên đã lén lút lấy trộm 03 điện thoại di động trên. Sau đó, Bảo A đi ra sau nhà mở chốt cửa sau đi ra nơi để xe rồi chạy về nhà. Đến khoảng 09 giờ, ngày 11/11/2023, Bảo A đến Cửa hàng Đ thuộc xã Đ, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long do anh Trần Minh Q sinh năm 1990 làm chủ để bán điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S20FE màu xanh được 2.500.000 đồng tiêu xài cá nhân. Đến ngày 12/11/2023, Bảo A đi làm thuê ở quận G, thành phố Hồ Chí Minh và bán 02 điện thoại di động còn lại cho người khác (không xác định họ tên và địa chỉ), cụ thể bán điện thoại di động hiệu Oppo Reno 6 màu xanh được 700.000 đồng và điện thoại di động hiệu Redmi Not 8 Pro màu xanh được 600.000 đồng tiêu xài cá nhân hết.
Đến khoảng 05 giờ ngày 11/11/2023, anh H1 thức dậy phát hiện 03 điện thoại di động của anh H1 bị mất trộm nên đến Công an xã L trình báo sự việc.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 53/KL.ĐGTS ngày 11/12/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S20FE đã qua sử dụng, có giá bình quân thị trường là 5.300.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Redmi Not 8 Pro màu xanh đã qua sử dụng, có giá bình quân thị trường là 1.700.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno 6 màu xanh đã qua sử dụng, có giá bình quân thị trường là 4.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản định giá là: 11.000.000 đồng (Mười một triệu đồng).
Ngày 03/01/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Đến ngày 03/3/2024 ra quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự do chưa xác định được bị can.
Ngày 24/5/2024, Đoàn Bảo A đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đầu thú, thừa nhận hành vi trộm cắp 03 điện thoại di động của anh Hồ Trọng H1.
Ngày 26/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T ra quyết định phục hồi điều tra vụ án hình sự, quyết định khởi tố bị can và ra lệnh tạm giam đối với Đoàn Bảo A, về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Việc thu giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng:
Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra quyết định tạm giữ: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S20FE màu xanh.
Đối với 02 điện thoại di động (gồm 01 điện thoại hiệu Oppo Reno 6 màu xanh và 01 điện thoại hiệu Redmi Not 8 Pro màu xanh), bị cáo đã bán cho người khác không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không thu giữ được.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S20FE màu xanh cho anh Hồ Trọng H1 nhận xong.
Phần dân sự:
Anh Hồ Trọng H1 đã nhận lại 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S20FE màu xanh bị mất trộm. Anh H1 yêu cầu bị cáo bồi thường giá trị 02 điện thoại di động (gồm 01 điện thoại hiệu Oppo Reno 6 màu xanh và 01 điện thoại hiệu Redmi Not 8 Pro màu xanh) theo kết luận định giá tài sản là 5.700.000 đồng (Năm triệu bảy trăm ngàn đồng). Bị cáo Đoàn Bảo A đồng ý bồi thường theo yêu cầu của anh Hồ Trọng H1 nhưng đến nay chưa bồi thường.
- Anh Trần Minh Q không yêu cầu bị cáo Đoàn Bảo A trả lại số tiền mua điện thoại di động là 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm ngàn đồng).
Tại Cáo trạng số: 74/CT-VKSTB ngày 31/7/2024 của Viện kiểm sát nhân
dân huyện Tam Bình đã truy tố bị cáo Đoàn Bảo A về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Đoàn Bảo A thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình truy tố bị cáo là đúng hành vi, không oan.
Đối với anh Trần Minh Q là người mua điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S20FE màu xanh do bị cáo Đoàn Bảo A bán nhưng anh Q không biết đây là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không đề cặp xử lý là có cơ sở.
Đối với xe mô tô 68B3 - 245.48 mà bị cáo điều khiển đi trộm cắp tài sản là của ông Đoàn Văn T là cha ruột của bị cáo, việc bị cáo lấy xe điều khiển đi trộm cắp tài sản của người khác thì ông T không hay biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không thu giữ xe mô tô cũng như đề cặp xử lý đối với ông T là có cơ sở.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Đoàn Bảo A về tội “Trộm cắp tài sản”. Sau khi phân tích nguyên nhân, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng cho bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Đoàn Bảo A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 38; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Đoàn Bảo A mức án từ 03 (Ba) năm đến 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; các điều 584, 585, 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015, công nhận sự tự nguyện của bị cáo Bảo A đồng ý bồi thường cho bị hại Hiểu số tiền 5.700.000 đồng.
Buộc bị cáo nộp lại số tiền thu nhập bất chính từ việc bán điện thoại Samsung Galaxy S20FE màu xanh cho Trần Minh Q với số tiền 2.500.000 đồng để sung quỹ Nhà nước.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người
tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, biên bản hỏi cung bị can cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa thể hiện: Khoảng 02 giờ ngày 11/11/2023, tại ấp P, xã L, huyện T, tỉnh Vĩnh Long, Đoàn Bảo A đã có hành vi lén lút trộm cắp 03 điện thoại di động (gồm 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S20FE màu xanh, 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno 6 màu xanh và 01 điện thoại di động hiệu Redmi Not 8 Pro màu xanh), có tổng giá trị là 11.000.000 đồng (Mười một triệu đồng) của anh Hồ Trọng H1 nhằm mục đích bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.
Bị cáo Đoàn Bảo A đã có 02 tiền án về tội Trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích, trong đó Bản án số 04/2014/HSST, ngày 23/01/2014 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp đã áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung 2009 nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 53 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo Đoàn Bảo A đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự như truy tố của Viện kiểm sát là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật và có căn cứ.
[2.2] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bản thân bị cáo có sức khỏe lại không chịu chí thú làm ăn. Bị cáo với thái độ thích thụ hưởng, lười lao động để có tiền phục vụ tiêu xài cá nhân, bị cáo đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác. Bị cáo có nhân thân xấu, đã chấp hành nhiều bản án phạt tù tội Trộm cắp tài sản nhưng vẫn không sửa đổi. Hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Vì vậy, cần xử lý bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội và ngăn chặn những trường hợp tương tự có thể xảy ra.
[2.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đầu thú; có ông ngoại tên Nguyễn Trung C1 được tặng Bằng khen kháng chiến chống Mỹ cứu nước, có bà ngoại tên Nguyễn Thị H2 được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất; đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[2.4] Về trách nhiệm dân sự:
Tại phiên tòa sơ thẩm: Bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng theo lời khai trong hồ sơ vụ án bị hại H3 yêu cầu bị cáo bồi thường trị giá 02 chiếc điện thoại không thu hồi được theo định giá của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện T với số tiền là 5.700.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại.
Xét thấy đây là sự tự nguyện thỏa thuận của bị cáo và bị hại, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không vi phạm đạo đức xã hội nên cần công nhận sự tự nguyện này theo quy định tại Điều 48 Bộ luật Hình sự; các điều 584, 585, 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
[2.5] Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu người bị thi hành án chưa tự nguyện thi hành án xong thì phải chịu thêm phần tiền lãi trên số tiền phải thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với khoản thời gian chưa thi hành án xong.
[2.6] Về áp dụng biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo Bảo A nộp lại số tiền thu nhập bất chính từ việc bán điện thoại Samsung Galaxy S20FE màu xanh cho Trần Minh Q với số tiền 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm ngàn đồng) để sung quỹ Nhà nước.
3. Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 38; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
1.1 Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đoàn Bảo A phạm tội “Trộm cắp tài sản".
1.2 Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đoàn Bảo A 03 (Ba) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 24/5/2024.
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; các điều 584, 585, 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015
Công nhận sự tự nguyện của bị cáo Đoàn Bảo A đồng ý bồi thường cho bị hại Hồ Trọng H1 số tiền là 5.700.000 đồng (Năm triệu bảy trăm đồng).
Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu người bị thi hành án chưa tự nguyện thi hành án xong thì phải chịu thêm phần tiền lãi trên số tiền phải thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với khoản thời gian chưa thi hành án xong.
3. Về áp dụng biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo Đoàn Bảo A nộp lại số tiền thu nhập bất chính với số tiền 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm ngàn đồng) để sung quỹ Nhà nước.
4. Về án phí sơ thẩm:
4.1 Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Đoàn Bảo A phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4.2 Án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 23, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Đoàn Bảo A phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Thanh Thảo |
Bản án số 88/2024/HS-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 88/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Đoàn Bảo A phạm tội “Trộm cắp tài sản”
