|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG Bản án số: 88/2024/DS-ST Ngày 20 tháng 9 năm 2024 “V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng vay tài sản” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lư Thị Châu Ngọc.
Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Sơn và ông Huỳnh Mộc Khải.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Trí, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Huỳnh Thị Bích Vân, Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 162/2024/TLST-DS ngày 21 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 183/2024/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 138/2024/QĐST-DS ngày 30 tháng 8 năm 2024, giữa:
- - Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần V (V1); địa chỉ: số H L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.
- Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP V: Ông Nguyễn Tấn S, chức vụ: Cán bộ xử lý nợ V1; địa chỉ: Tầng D, số A, đường T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (theo văn bản ủy quyền số 45/2024/UQ-VPB ngày 16/4/2024).
- - Bị đơn: Bà Phan Thị Ngọc T, sinh năm 1988; địa chỉ: tổ H, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang.
- Ông S có mặt; bà T đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ 2, nhưng vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và bản tự khai của Ngân hàng thương mại cổ phần V trình bày:
Bà Phan Thị Ngọc T có ký Hợp đồng tín dụng số LN1712040354366 ngày 07/12/2017 với Ngân hàng thương mại cổ phần V (viết tắt Ngân hàng). Số tiền vay 454.000.000 đồng, lãi suất trong hạn 10,4%/năm cố định 06 tháng kể từ khi giải ngân, sau đó được điều chỉnh 03 tháng/lần, thời hạn 83 tháng, từ ngày 08/12/2017 đến 08/11/2024, mục đích mua xe; Hợp đồng tín dụng số LD1987000272 ngày 06/7/2019, số tiền vay 77.000.000 đồng, lãi suất trong hạn 20%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, thời hạn 60 tháng, từ ngày 06/7/2019 đến 08/6/2024, mục đích tiêu dùng; Hợp đồng tín dụng số 116-P-5536918 ngày 29/11/2017, số tiền vay 12.000.000 đồng, lãi suất trong hạn 47,88%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, mục đích tiêu dùng.
Để đảm bảo cho các khoản vay, bà Phan Thị Ngọc T có thế chấp cho Ngân hàng tài sản theo hợp đồng thế chấp xe ô tô số: LN1712040354366 ngày 07/12/2017 do bà Phan Thị Ngọc T ký kết với Ngân hàng được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm Đăng ký giao dịch bảo đảm, tài sản tại thành phố Đà Nẵng chứng nhận ngày 08/12/2017, với tài sản bảo đảm cụ thể là một xe ô tô con, nhãn hiệu MAZDA3, số khung 4AA6HC073520, số máy P520459563, biển số 99A-201.86 theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 025362 do Phòng C Công an tỉnh B cấp ngày 07/12/2017 cho bà Phan Thị Ngọc T.
Sau khi vay bà T không thực hiện trả vốn, lãi theo thỏa thuận, nên khoản vay đã chuyển nợ quá hạn. Ngân hàng nhiều lần liên hệ bà T thực hiện nghĩa vụ thanh toán vốn, lãi cho Ngân hàng, nhưng bà T không thực hiện. Nay Ngân hàng yêu cầu bà T có trách nhiệm trả nợ tính đến hết ngày 20/9/2024:
- + Nợ gốc: 330.539.388 đồng;
- + Lãi trong hạn: 214.238.717 đồng;
- + Lãi quá hạn: 107.119.358 đồng;
- Tổng cộng: 651.897.463 đồng.
Đồng thời yêu cầu bà Phan Thị Ngọc T tiếp tục thanh toán toàn bộ lãi vay phát sinh sau ngày 20/9/2024 với lãi suất theo các hợp đồng tín dụng đã ký với Ngân hàng cho đến khi bà T trả dứt nợ cho Ngân hàng.
Đối với tài sản thế chấp nếu bà Phan Thị Ngọc T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả nợ đầy đủ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản đã thế chấp theo hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1712040354366 ngày 07/12/2017 do bà Phan Thị Ngọc T ký kết với Ngân hàng để thu hồi nợ.
Tòa án đã ban hành và tống đạt các Thông báo Thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, bà T vắng mặt, không ý kiến.
Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, bị đơn đã triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt nhiều lần không có lý do nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện việc thỏa thuận vay nợ giữa Ngân hàng thương mại cổ phần V với bà Phan Thị Ngọc T được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có lập hợp đồng, phù hợp quy định pháp luật. Trong thời gian thực hiện hợp đồng, bà T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Do đó, Ngân hàng thương mại cổ phần V khởi kiện yêu cầu bà T trả số tiền còn nợ là có căn cứ chấp nhận.
Căn cứ các Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 100, 103 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2024, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bà Phan Thị Ngọc T có trách nhiệm trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần V tính đến hết ngày 20/9/2024 là 651.897.463 đồng; đồng thời chịu lãi phát sinh sau ngày 20/9/2024 theo hợp đồng đã ký.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng,
- [1] Về thẩm quyền: Ngân hàng khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản với bị đơn bà Phan Thị Ngọc T. Bị đơn có đăng ký thường trú tại tổ H, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- [2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn bà T đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa, nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Cho nên, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà T theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung,
- [3] Các hợp đồng tín dụng số LN1712040354366 ngày 07/12/2017; số LD1918700272 ngày 06/7/2019; Giấy đề nghị vay vốn có tài sản bảo đảm, kiêm phương án sử dụng vốn, hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế ngày 29/11/2017 giữa Ngân hàng thương mại cổ phần V với bà Phan Thị Ngọc T được các bên ký kết trên cơ sở tự nguyện, hình thức và nội dung hợp đồng không trái quy định của pháp luật nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng.
Trên cơ sở các chứng cứ phía nguyên đơn cung cấp, bà T có vay của Ngân hàng số tiền lần lượt là 454.000.000 đồng, 77.000.000 đồng và 12.000.000 đồng theo hình thức thế chấp. Quá trình thực hiện hợp đồng, bà T không thực hiện trả vốn lãi theo thỏa thuận, nên các khoản vay đã chuyển nợ quá hạn theo hợp đồng đã ký kết. Phía Ngân hàng đã liên hệ bà T để thực hiện nghĩa vụ thanh toán nhưng bà T không thực hiện. Xét, bà T đã ký kết vay vốn, nhưng không thực hiện nghĩa vụ trả vốn, lãi đúng thời hạn là vi phạm nghĩa vụ. Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bà T trả nợ là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại các Điều 463, 466 Bộ luật dân sự, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Theo bảng chiết tính lãi suất do Ngân hàng cung cấp, tính đến ngày 20/9/2024, bà T còn nợ vốn, lãi là 651.897.463 đồng (trong đó, vốn gốc 330.539.388 đồng, tiền lãi trong hạn 214.238.717 đồng, lãi quá hạn 107.119.358 đồng). Đồng thời, phía Ngân hàng yêu cầu bà T tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 20/9/2024 theo mức lãi suất thỏa thuận quy định trong các hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán xong. Xét yêu cầu của Ngân hàng P với hợp đồng đã ký kết và phù hợp Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 100, 103 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2024, nên chấp nhận.
Do đó, buộc bà Phan Thị Ngọc T có trách nhiệm trả cho Ngân hàng số tiền vốn, lãi là 651.897.463 đồng (lãi tính đến ngày 20/9/2024) và tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 20/9/2024 theo mức lãi suất thỏa thuận quy định trong các hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán xong.
Đối với tài sản thế chấp, trường hợp bà Phan Thị Ngọc T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả nợ đầy đủ, Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản đã thế chấp theo hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1712040354366 ngày 07/12/2017 do bà Phan Thị Ngọc T ký kết với Ngân hàng để thu hồi nợ là có căn cứ.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Phan Thị Ngọc T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần V.
Ngân hàng thương mại cổ phần V không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn lại cho Ngân hàng số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 100, 103 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2024; các Điều 147, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UB TVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần V.
Buộc bà Phan Thị Ngọc T có trách nhiệm trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần V số tiền 651.897.463 đồng (lãi tính đến ngày 20/9/2024).
Kể từ sau ngày xét xử sơ thẩm (20/9/2024), bà Phan Thị Ngọc T còn phải tiếp tục chịu lãi phát sinh của số tiền nợ gốc quá hạn chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay.
Bà Phan Thị Ngọc T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả không đầy đủ, Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản đã thế chấp theo hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1712040354366 ngày 07/12/2017 do bà Phan Thị Ngọc T ký kết với Ngân hàng để thu hồi nợ.
- Về án phí dân sự sơ thẩm
Bà Phan Thị Ngọc T phải chịu 30.075.899 (ba mươi triệu, không trăm bảy mươi lăm nghìn, tám trăm chín mươi chín) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả số tiền 14.000.000 (mười bốn triệu) đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0003467 ngày 21 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc cho Ngân hàng thương mại cổ phần V.
- Về quyền kháng cáo:
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, Ngân hàng thương mại cổ phần V có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Riêng thời hạn kháng cáo của bà Phan Thị Ngọc T là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lư Thị Châu Ngọc |
Bản án số 88/2024/DS-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng vay tài sản
- Số bản án: 88/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu nguyên đơn
