|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 88/2024/HNGĐ-ST Ngày: 09/9/2024 V/v tranh chấp "ly hôn" |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự do – Hạnh Phúc ---------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY-TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Thoa.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Thành Trung
- Ông Lê Văn Tánh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phạm Kiều Nhi – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
Trong ngày 09 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 101/2024/TLST- HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự.
Nguyên đơn: Ông Lê Văn D, sinh năm 1972 (có đơn xin vắng mặt);
Địa chỉ: ấp M, xã M, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1970 (vắng mặt);
Địa chỉ: ấp M, xã M, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 15/4/2024, trong quá trình giải quyết vụ án và nguyên đơn ông Lê Văn D trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: ông và bà Nguyễn Thị T do quen biết và được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới vào năm 1992, có đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện C (nay là thị xã C), tỉnh Tiền Giang theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 111 ngày 03/10/2002. Sau khi cưới chung sống đến năm 2005 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không hợp nhau. Ông và bà T đã ly thân và cắt đứt quan hệ vợ chồng từ năm 2005 cho đến nay. Nay ông xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đoàn tụ lại sống không hạnh phúc. Nên ông yêu cầu ly hôn với bà Nguyễn Thị T.
Về con chung: có 02 con chung tên Lê Thị Ngọc D1, sinh ngày 16/6/1993 và Lê Tấn D2, sinh ngày 14/12/2000. Khi ly hôn 02 con chung đã thành niên và có khả năng lao động được nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn bà Nguyễn Thị T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa và triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bà T vắng mặt không lý do và cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở lời trình bày của các đương sự, các tài liệu chứng cứ được đưa ra xem xét tại phiên tòa. Trên cơ sở kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa nguyên đơn ông Lê Văn D có đơn xin vắng mặt; bị đơn bà Nguyễn Thị T vắng mặt không lý do. Căn cứ khoản 1, 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử trong trường hợp vắng mặt nguyên đơn, bị đơn tại phiên tòa là phù hợp.
- [2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xác định quan hệ tranh chấp “Ly hôn”, bị đơn bà Nguyễn Thị T có hộ khẩu thường trú tại ấp M, xã M, thị xã C, tỉnh Tiền Giang căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
-
[3] Về quan hệ hôn nhân: ông Lê Văn D và bà Nguyễn Thị T về chung sống với nhau vào năm 1992, có đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện C (nay là thị xã C), tỉnh Tiền Giang theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 111 ngày 03/10/2002 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2005 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không hợp nhau. Ông D và bà T đã ly thân và cắt đứt quan hệ vợ chồng từ năm 2005 cho đến nay.
- [3.1] Hội đồng xét xử xét thấy: sau khi ông D và bà T xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 1992, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì đến năm 2005 phát sinh mâu thuẫn. Từ khi ly thân cho đến nay thì ông D và bà T không còn liên lạc với nhau. Sau khi tòa án thụ lý vụ án đã tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng cho bà T để thông báo về yêu cầu ly hôn của ông D, nhưng bà T không có ý kiến gì; không có mặt tham gia các phiên hòa giải và phiên tòa, bà T không thể hiện được ý kiến, cũng không đưa ra biện pháp cụ thể nào để hàn gắn lại mối quan hệ vợ chồng. Việc bà T không đến trong suốt quá trình tòa án giải quyết vụ án là bà T đã mặc nhiên từ bỏ cơ hội để vợ chồng hàn gắn, đoàn tụ với nhau. Mặc dù, Tòa án đã động viên nhưng ông D vẫn kiên quyết yêu cầu ly hôn với bà T.
- [3.2] Từ những tình tiết trên, đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử nhận định tình trạng hôn nhân giữa ông D, bà T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông D là phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
- [4] Về con chung: có 02 con chung tên Lê Thị Ngọc D1, sinh ngày 16/6/1993 và Lê Tấn D2, sinh ngày 14/12/2000. Ông D trình bày khi ly hôn 02 con chung đã thành niên và có khả năng lao động được nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà T không có ý kiến gì về con chung. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
- [5] Về tài sản chung và nợ chung: ông D trình bày không có, bà T thì không có ý kiến gì. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
- [6] Về án phí: Buộc ông Lê Văn D phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 147; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 271; Điều 272; Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử
- Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Lê Văn D được ly hôn với bà Nguyễn Thị T.
- Về án phí: Ông Lê Văn D phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà ông D đã nộp theo biên lai thu số 0004824 ngày 25/11/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang nên xem như ông D đã nộp xong tiền án phí.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND thị xã Cai Lậy; - Chi cục THADS thị xã Cai Lậy; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. |
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Kim Thoa |
Bản án số 88/2024/HNGĐ-ST ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 88/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn
