|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP. ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 88/2024/KDTM-ST Ngày: 06-9-2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng thuê tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Công Lương
Ông Hoàng Minh Trinh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Trâm - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Thùy Dương - Kiểm sát viên.
Trong ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, Tòa án xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 130/2024/TLST- DS ngày 03 tháng 4 năm 2024 về việc "Tranh chấp hợp đồng thuê tài sản" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 130/2024/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 130/2024/QĐST- DS ngày 08 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lê Việt V, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị Hải V1, sinh năm 1970; Địa chỉ: H đường T, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
- Bị đơn: Công ty TNHH T; Địa chỉ: 1 đường B, phường B, quận H, thành phố Đà Nẵng. Người đại diện theo pháp luật: Bà Lê Nguyễn Huyền V2 - chức vụ Giám đốc. Vắng mặt lần thứ hai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa, đại diện cho nguyên đơn – ông Lê Việt V trình bày:
Ngày 02 tháng 05 năm 2023, tôi là Lê Việt V đại diện ký kết Hợp đồng cho thuê kho và hợp đồng cho thuê đất số 01/LTT-HĐTK và 01/LTT- HĐTĐ với Công ty TNHH T, do bà Lê Nguyễn Huyền V2 - chức vụ Giám đốc làm đại diện, với nội dung như sau: Theo Hợp đồng, Bên A đồng ý cho B thuê kho và thuê đất; bên B đồng ý thuê kho và thuê đất tại địa chỉ Lô B và Lô B khu B khu đô thị P, phường H, quận L, TP Đà Nẵng, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 676397 và 676398 do Ủy ban nhân dân thành phố Đ cấp ngày 26/6/2008 được chỉnh lý biến động sang tên ông Lê Việt V và bà Nguyễn Thị Hải V1 ngày 24/5/2021. Giá trị mỗi tháng thuê kho là 8.000.000 đồng và thuê đất là 5.000.000 đồng, tổng cộng 13 triệu đồng trên tháng cho năm đầu tiên, sau đó tăng 7%/năm tiếp theo; thời hạn cho thuê là 3 năm từ 10/5/2023 đến 9/5/2026; thanh toán 6 tháng 1 lần vào đầu kỳ từ ngày 01 đến ngày 09 tháng 11 và tháng 5 hàng năm.
Bên thuê đã thanh toán kỳ thứ nhất 78.000.000 đồng, đến kỳ thứ 2 thời hạn thanh toán từ ngày 01 đến 09 tháng 11 năm 2023 nhưng bên thuê là Công ty TNHH T cố tình không thanh toán sau nhiều lần hứa hẹn qua điện thoại, điều này vi phạm hợp đồng về điều khoản thanh toán nên đến ngày 21/12/2023 bên cho thuê yêu cầu viết giấy cam kết thanh toán thì bên thuê không cam kết và chặn các liên lạc nên bên cho thuê đã tạm thời khóa kho và thông báo cho bên thuê biết. Sau khi khóa kho và niêm phong cho đến nay 15/01/2024 bên thuê không một lần yêu cầu mở kho hoặc thanh toán tiền thuê và cố ý vi phạm hợp đồng nhằm chiếm dụng tiền thuê kho và kho để chứa máy móc thiết bị của mình. Việc làm này ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình tài chính của bên cho thuê cũng như việc lấy lại kho của bên cho thuê.
Tại đơn khởi kiện chúng tôiyêu cầu tòa án giải quyết buộc Công ty TNHH T hoàn trả lại mặt bằng, đền bù việc vi phạm hợp đồng là 52.000.000 đồng theo điều khoản chấm dứt hợp đồng và số tiền thuê 2 tháng đã sử dụng chưa thanh toán là 26.000.000 đồng ( từ 9/11/2023 đến 9/01/2024). Tổng cộng số tiền yêu cầu Công ty TNHH T phải trả cho chúng tôi là 78.000.000 đồng. Tuy nhiên tại phiên tòa hôm nay, tôi yêu cầu chấm dứt Hợp đồng cho thuê kho và hợp đồng cho thuê đất số 01/LTT-HĐTK và 01/LTT- HĐTĐ với Công ty TNHH T và yêu cầu Công ty TNHH T phải thanh toán tiền thuê từ ngày 09/11/2023 đến ngày 06/9/2023 là 10 tháng tương ứng với số tiền 130.000.000 đồng, trừ đi số tiền đã tạm ứng 26.000.000 đồng. Số tiền chúng tôi yêu cầu là 104.000.000 đồng.
* Tại phiên tòa sơ thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đúng pháp luật.
Kiểm sát viên đề nghị Toà án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên bố chấm dứt Hợp đồng cho thuê kho và hợp đồng cho thuê đất số 01/LTT-HĐTK và 01/LTT- HĐTĐ giữa ông Lê Việt V, bà Nguyễn Thị Hải V1 với Công ty TNHH T; buộc Công ty TNHH T Nguyễn Xuân V3 phải thanh toán cho ông Lê Việt V và bà Nguyễn Thị Hải V1 số tiền thuê kho và đất từ ngày 09/11/2023 đến ngày 06/9/2024 là 104.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đây là vụ án tranh chấp hợp đồng phát sinh trong hoạt động cho thuê tài sản giữa ông Lê Việt V, bà Nguyễn Thị Hải V1 với Công ty TNHH T. Bị đơn có trụ sở đăng ký kinh doanh tại địa chỉ số A đường B, phường B, quận H, thành phố Đà Nẵng. Căn cứ khoản 1 điều 30; điểm b khoản 1 điều 35; điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
Bị đơn - Công ty TNHH T đã được Tòa án thực hiện các thủ tục triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng đến lần thứ hai vẫn không có mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 để xét xử vắng mặt đương sự nói trên.
[2] Về nội dung vụ án: Ngày 02 tháng 05 năm 2023, ông Lê Việt V đại diện ký kết Hợp đồng cho thuê kho và hợp đồng cho thuê đất số 01/LTT-HĐTK và 01/LTT- HĐTĐ với Công ty TNHH T để cho thuê kho và thuê đất tại địa chỉ Lô B và Lô B khu B khu đô thị P, phường H, quận L, TP Đà Nẵng, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 676397 và 676398 do Ủy ban nhân dân thành phố Đ cấp ngày 26/6/2008 được chỉnh lý biến động sang tên ông Lê Việt V và bà Nguyễn Thị Hải V1 ngày 24/5/2021. Giá trị mỗi tháng thuê kho là 8.000.000 đồng và thuê đất là 5.000.000 đồng, tổng cộng 13 triệu đồng trên tháng cho năm đầu tiên, sau đó tăng 7%/năm tiếp theo; thời hạn cho thuê là 3 năm từ 10/5/2023 đến 9/5/2026; thanh toán 6 tháng 1 lần vào đầu kỳ từ ngày 01 đến ngày 09 tháng 11 và tháng 5 hàng năm.
Công ty TNHH T đã thanh toán kỳ thứ nhất 78.000.000 đồng và đặt cọc 26.000.000 đồng. Đến kì thanh toán đợt hai là vào ngày 01 đến ngày 09/11/2023 nhưng Công ty TNHH T Nguyễn Xuân V3 không thanh toán cho ông V bà V1 theo như thỏa thuận. Ông V bà V1 nhiều lần yêu cầu phía Công ty cam kết trả nợ hoặc trả lại kho và đất cho ông bà nhưng phía Công ty không phản hồi gì cho ông bà. Nay ông bà yêu cầu chấm dứt hợp đồng với Công ty TNHH T và buộc Công ty TNHH T Nguyễn Xuân V3 phải trả cho ông bà số tiền tiền thuê kho đất từ ngày 09/11/2023 đến ngày 06/9/2024 (đã trừ đi số tiền đặt cọc 26.000.000 đồng) là 104.000.000đ (Một trăm lẻ bốn triệu đồng).
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy: Việc thuê kho và thuê đất giữa ông Lê Việt V, bà Nguyễn Thị Hải V1 và Công ty TNHH T được thể hiện bằng Hợp đồng thuê đất số 01/LTT-HĐTĐ 2023 ngày 02/5/2023 và Hợp đồng thuê kho số 01/LTT-HĐKT 2023 ngày 02/5/2023 thì Hội đồng xét xử có cơ sở xác định Công ty TNHH T có thực hiện việc thuê kho và thuê đất của ông V, bà V1. Khi đến kì thanh toán tiếp theo, Công ty TNHH T không thực hiện thanh toán cho ông V bà V1 mà vẫn tiếp tục sử dụng kho bãi để chứa hàng hóa là vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Điều 280 Bộ luật dân sự. Tại khoản 2 Điều 5 của Hợp đồng thuê kho số 01/LTT-HĐKT 2023 ngày 02/5/2023 quy định về việc thu hồi mặt bằng trước thời hạn do vi phạm thời hạn thanh toán. Do vậy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu đơn phương chấm dứt hợp đồng và yêu cầu thanh toán tiền thuê kho đất từ ngày 09/11/2023 đến ngày 06/9/2024 là 104.000.000 đồng (đã trừ số tiền đặt cọc 26.000.000 đồng) là đúng pháp luật, được Hội đồng xét xử chấp nhận. Cần buộc Công ty TNHH T phải thanh toán cho ông lê Việt V và bà Nguyễn Thị Hải V1 số tiền 104.000.000đ (Một trăm lẻ bốn triệu đồng).
[4] Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn – Công ty TNHH T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm: 104.000.000₫ x 5% ~ 5.200.000đ.
[5] Các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay là phù hợp pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 30, 35, 39, 63, 147, 227, 228, 235, 266 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ các Điều 472, 473, 474, 481 Bộ luật dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện v/v "Tranh chấp Hợp đồng thuê tài sản" của ông Lê Việt V, bà Nguyễn Thị Hải V1 với Công ty TNHH T.
- Án phí:
- Đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc trích sao bản án.
Tuyên bố chấm dứt Hợp đồng thuê đất số 01/LTT-HĐTĐ 2023 ngày 02/5/2023 và Hợp đồng thuê kho số 01/LTT-HĐKT 2023 ngày 02/5/2023 giữa ông Lê Việt V, bà Nguyễn Thị Hải V1 với Công ty TNHH T.
Buộc Công ty TNHH T phải thanh toán cho ông Lê Việt V, bà Nguyễn Thị Hải V1 số tiền 104.000.000đ (Một trăm lẻ bốn triệu đồng) tiền thuê kho đất từ ngày 09/11/2023 đến ngày 06/9/2024 (đã trừ đi số tiền đặt cọc 26.000.000 đồng).
Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người có nghĩa vụ thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì phải chịu lãi suất đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả.
Án phí dân sự sơ thẩm Công ty TNHH T phải chịu là 5.200.000đ (Năm triệu hai trăm ngàn đồng).
Hoàn trả cho ông Lê Việt V và bà Nguyễn Thị Hải V1 số tiền tạm ứng án phí 1.950.000đ (Một triệu chín trăm năm mươi ngàn đồng) theo biên lai thu số 0000444 ngày 25/01/2024 của Chi Cục thi hành án dân sự quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Ngọc Hà |
Bản án số 88/2024/KDTM-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng thuê tài sản
- Số bản án: 88/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thuê tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng thuê nhà
