Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN CÁT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 88/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 30-8-2024

V/v ly hôn và tranh chấp về nuôi con

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Văn Thị Thanh Trúc

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lương Thanh Nhàn;

Bà Trần Thị Ngọc Hạnh.

Thư ký phiên toà: Bà Huỳnh Ngọc Thủy – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 245/2024/TLST-HNGĐ ngày 19/3/2024 về việc: “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 181 /2024/QĐXXST–HNGĐ ngày 17/7/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 101/2024/QĐST-HNGĐ ngày 12/8/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Lê Thanh P, sinh năm 1980; địa chỉ thường trú: Ấp B, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt theo đơn xin vắng mặt.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng L, sinh năm 1981; địa chỉ thường trú: Tổ F, khu phố C, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong Đơn khởi kiện đề ngày 20/12/2023 và lời khai trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn ông Lê Thanh P trình bày:

Về hôn nhân: Ông Lê Thanh P và bà Nguyễn Thị Hồng L sống chung với nhau từ năm 2006, có đăng ký kết hôn vào ngày 29/3/2006 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện.

Vợ chồng chung sống thời gian đầu rất hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do không hợp nhau, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, hiện tại ông P không còn tình cảm với bà L nữa. Vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc cho nhau. Hiện tại, ông P và bà L đã ly thân từ năm 2021. Ông P từng nộp đơn yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn nhưng sau đó rút đơn về để cho nhau cơ hội để hàn gắn. Tuy nhiên, ông P và L không thể hàn gắn được. Nay mâu thuẫn hôn nhân đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc nên ông P yêu cầu được ly hôn với bà L.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, ông P và bà L có 02 người con chung tên: Lê Ngọc H, sinh ngày 23/02/2007 và Lê Thanh V, sinh ngày 01/01/2013. Khi ly hôn, ông P tự nguyện giao hai con chung cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ông P tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu Lê Ngọc H và cháu Lê Thanh V mỗi cháu mỗi tháng 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung, nợ chung: Không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Những chứng cứ, tài liệu nguyên đơn đã cung cấp: Căn cước công dân tên Lê Thanh P (bản sao có chứng thực); sổ hộ khẩu (bản sao); giấy trích lục kết hôn (bản sao có mộc); trích lục khai sinh của cháu H (bản sao có mộc); giấy khai sinh của cháu V (bản sao); đơn từ chối hòa giải; đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt (bản chính); bản tự khai của ông P;

* Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng: Thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử và triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia phiên hòa giải đoàn tụ, tham gia phiên tòa. Tuy nhiên, bà L đều vắng mặt không có lý do. Bà L không có văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của ông P và không cung cấp tài liệu, chứng cứ nào cho Tòa án.

* Ý kiến của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát tham gia phiên tòa:

  • - Về tố tụng: Việc thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ là đúng theo quy định, những người tham gia tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Về nội dung vụ án: Nguyên đơn yêu cầu được ly hôn, yêu cầu giao quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cả 02 con chung cho bị đơn và tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung mỗi cháu mỗi tháng 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi; về tài sản chung và nợ chung thì không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Bị đơn đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn với bị đơn nên quan hệ pháp luật trong vụ án này được xác định là: “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn có đăng ký thường trú tại: Khu phố C, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc về Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

[1.3] Về việc xét xử vắng mặt:

Nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.

Bị đơn đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia phiên hòa giải và tham gia phiên tòa nhưng bị đơn đều vắng mặt. Việc vắng mặt của bị đơn không vì lý do bất khả kháng. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Thanh P và bà Nguyễn Thị Hồng L trên cơ sở tự nguyện đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương vào năm 2006 theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 15 ngày 29/3/2006. Như vậy, hôn nhân giữa ông P và bà L là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình tố tụng, ông P xác định giữa ông P và bà L đã phát sinh mâu thuẫn vợ chồng đã lâu, không thể hàn gắn được. Nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc cho nhau. Hiện tại, ông P xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được nên yêu cầu được ly hôn với bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng L. Quá trình tố tụng, bị đơn bà L không tham gia và cũng không có văn bản trình bày ý kiến. Do đó, xem như bị đơn từ bỏ quyền chứng minh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn không còn hạnh phúc. Nguyên đơn xác định vợ chồng đã ly thân, không còn quan tâm chăm sóc nhau, nguyên đơn xác định không còn tình cảm với bị đơn. Bị đơn không tham gia tố tụng và không có văn bản trình bày ý kiến. Điều này cho thấy bà L không có thiện chí hoà giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng, không còn quan tâm đến hạnh phúc gia đình. Do đó, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ xác định tình trạng hôn nhân giữa ông P và bà L đã trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông P.

[2.2] Về con chung: Quá trình chung sống, ông P và bà L có 02 con chung tên: Lê Thanh V, sinh ngày 01/01/2013 và Lê Ngọc H, sinh ngày 23/02/2007. Khi ly hôn, ông P tự nguyện giao cả hai con chung cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Xét, 02 con chung là cháu Lê Thanh V và Lê Ngọc H đang sinh sống ổn định với mẹ là bị đơn, cuộc sống ổn định. 02 cháu V và H có nguyện vọng được sống chung với bà L. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, tiếp tục giao con chung là cháu Lê Thanh V và Lê Ngọc H cho bà L tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ông P tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu Lê Thanh V và Lê Ngọc H mỗi cháu mỗi tháng 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) cho đến khi cháu V và cháu H đủ 18 tuổi. Đây là sự tự nguyện của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Nguyên đơn ông P có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở bị đơn thực hiện các quyền, nghĩa vụ này. Khi cần thiết, vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên đều có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn và bị đơn đều không có tranh chấp về tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[4] Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật có căn cứ chấp nhận.

[5] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng theo quy định tại điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Thanh P về việc: “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” với bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng L.
    • - Về hôn nhân: Ông Lê Thanh P được ly hôn với bà Nguyễn Thị Hồng L.
    • - Về con chung: Giao 02 người con chung tên: Lê Ngọc H, sinh ngày 23/02/2007 và Lê Thanh V, sinh ngày 01/01/2013 cho bà Nguyễn Thị Hồng L được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc.
    • Về cấp dưỡng nuôi con: Ông P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 người con chung tên: Lê Ngọc H, sinh ngày 23/02/2007 và Lê Thanh V, sinh ngày 01/01/2013, mỗi cháu mỗi tháng 5.000.000 đồng (năm triệu đồng). Thời hạn cấp dưỡng tính từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu H và cháu V đủ 18 tuổi
    • Ông Lê Thanh P có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở ông P thực hiện các quyền, nghĩa vụ này. Khi cần thiết, vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên đều có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
    • Khi Bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án xong.
    • - Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.
  2. Về án phí: Ông Lê Thanh P phải chịu số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con, được khấu trừ số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000753 ngày 12/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương. Ông Lê Thanh P còn phải nộp số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
  3. Về quyền kháng cáo:
    • Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.
    • Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Bến Cát;
  • - Chi cục THADS thành phố Bến Cát;
  • - UBND xã Định An, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HSVA, VT

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Văn Thị Thanh Trúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 88/2024/HNGĐ-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn và tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 88/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn và tranh chấp nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger