Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 88/2024/HS-ST

Ngày 26-4-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Cường

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lý Thị Thiên Nga;

Bà Hà Thị Mão.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thúy Vân và ông Bùi Quốc H - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 83/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 224/2024/QĐXXST-HS, ngày 15 tháng 4 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Bùi Mạnh T, sinh ngày 26 tháng 6 năm 1988, tại Hải Phòng; nơi cư trú: Số A đường L, phường G, quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Đình K (đã chết) và bà Trần Thị L; có vợ là Đào Thị Thanh M, sinh năm 1993 (đã ly hôn) và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án số 57/2019/HS-ST ngày 06/9/2019, Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 06/9/2019 chấp hành xong 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Đến ngày 11/9/2021 chấp hành xong hình phạt tù (đã được xóa án tích); tạm giữ từ ngày 19/10/2023, đến ngày 28/10/2023 chuyển tạm giam; có mặt.

2. Phùng Duy H1, sinh ngày 07 tháng 9 năm 1996, tại Hải Phòng; nơi cư trú: Số A đường L, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phùng Duy M1 và bà Mạc Thị C; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ từ ngày 19/10/2023, đến ngày 28/10/2023 chuyển tạm giam; có mặt.

3. Trần Thị Thùy D, sinh ngày 14/12/1980, tại Hải Phòng; nơi cư trú: Số B đường A, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Minh T1 và bà Phạm Thị L1; có chồng là Đỗ Đình K1, sinh năm 1976 (đã ly hôn), và 01 con sinh năm 2000; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án số 67/2019/HS-ST ngày 22/10/2019, Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền xử phạt 36 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Ngày 22/10/2019 đã chấp hành xong 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm, đến ngày 23/9/2021 chấp hành xong hình phạt tù (đã được xóa án tích); tạm giữ từ ngày 19/10/2023, đến ngày 28/10/2023 chuyển tạm giam; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 19/10/2023, tại số A L, Máy Chai, Ngô Q, Hải Phòng, Công an quận N bắt quả tang Phùng Duy H1Phạm Việt D1 (sinh năm: 1989, nơi cư trú: Số A T, đường T, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng) có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, thu giữ: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá (Methamphetamine) tự tạo thu ở đầu giường ngủ tầng 1 của H1, gồm: 01 chai nhựa có nắp trên đục hai lỗ, một lỗ cắm ống hút nhựa, một lỗ cắm tẩu thủy tinh bên trong tẩu thủy tinh còn bám dính tạp chất màu nâu đen (niêm phong mẫu QT1); 02 gói nilon kích thước khoảng 1,5x2 cm, bên trong còn bám dính tinh thể màu trắng (niêm phong mẫu QT2, QT3); 01 bật lửa gas; 01 điện thoại Huawei màu đen của Phùng Duy H1; 01 điện thoại Oppo màu đen của Phạm Việt D1; Tạm giữ của Phạm Việt D1 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH màu đen, BKS: 15B3-348.87.

Tại Cơ quan điều tra, Phùng Duy H1Phạm Việt D1 khai nhận:

Phùng Duy H1Phạm Việt D1 có quan hệ quen biết xã hội, chơi với nhau từ năm 2020. Bản thân D1 đi làm xa về nên ngày 11/9/2023 mới gặp lại Phùng Duy H1 tại khu vực đường L, quận N, thành phố Hải Phòng. Sau khi gặp lại, D1 biết H1 vẫn thường sử dụng ma túy đá và H1 đề nghị với D1 sẽ cùng nhau sử dụng ma túy đá tại nhà H1. H1D1 thống nhất mỗi lần cùng nhau sử dụng ma túy chung thì D1 sẽ góp với H1 200.000 đồng.

Ngày 19/9/2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy đá nên D1 đến nhà H1 rủ H1 cùng sử dụng ma túy đá. Hòa đồng ý và bảo D1 góp 200.000 đồng với H1 để cùng nhau sử dụng ma túy đá. D1 đồng ý. H1D1 thống nhất khi D1 có nhu cầu sử dụng ma túy đá thì có thể đến trực tiếp hoặc gọi điện thoại, nhắn tin cho H1 để H1 chuẩn bị ma túy đá rồi sẽ báo lại cho D1 để D1 đến nhà H1 cùng nhau sử dụng, đồng thời ma túy đá do H1 là người chủ động mua về. Tiền mua ma túy đá có thể do H1 ứng trước, hoặc H1 bảo D1 chuyển tiền cho H1 và mỗi lần sử dụng D1 sẽ góp với H1 200.000 đồng. Sau đó, cứ khoảng 4 đến 5 ngày, D1 lại góp tiền với H1

để H1 mua ma túy đá về sử dụng chung với nhau. Tính đến thời điểm bị bắt D1H1 đã chung tiền đi mua ma túy đá về sử dụng tại nhà H1 khoảng 6 đến 7 lần. Mỗi lần H1 đổ sẵn khoảng nửa tẩu ma túy, khoảng 0,2 đến 0,3 gam, tương ứng với số tiền 200.000 đồng D1 góp với H1. Nếu sử dụng hết số ma túy này, H1 sẽ mang thêm ma túy của H1 ra để sử dụng tiếp.

Ngày 16/10/2023, D1 nhắn tin cho H1 qua ứng dụng Messenger: “Tí chung tẩy làm tí hút nhỉ, chứ vã quá”, H1 nhắn lại: “Ok a, a 21 nhé”, tức là D1 góp 200.000 đồng cho H1 đi mua ma túy đá về để cả hai sử dụng chung. Tuy nhiên D1 chưa có tiền nên chưa chuyển khoản cho H1 mà bảo H1 ứng trước, D1 sẽ trả sau. Đến ngày 17/10/2023, H1 gọi điện hỏi và mua của Bùi Mạnh T 1.000.000 đồng được khoảng 01 gam ma túy đá. Cùng ngày, H1 đã đổ trước khoảng 1/3 số ma túy đá vừa mua được vào bộ sử dụng ma túy đá của mình và tự sử dụng hết, số ma túy còn lại H1 cất vào hộp giấy để ở đầu giường.

Sáng ngày 18/10/2023, H1 tiếp tục đổ khoảng 1/3 số ma túy đá mua được ra bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá và tự sử dụng khoảng 03 hơi. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, D1 đến nhà H1, H1 lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá ra và tự sử dụng lần đầu tiên bằng cách bật lửa đốt nóng ma túy ở tẩu thủy tinh rồi hút khói ma túy vào cơ thể, sau đó H1 bật lửa đốt nóng ma túy ở tẩu thủy tinh và mời D1 sử dụng như cách thức trên. Cả hai sử dụng ma túy đá tuần tự như vậy khoảng 3-4 lần. Sau đó, H1 để bộ dụng cụ trên kệ tivi và nói: “Em đủ rồi, anh cứ chơi đi”. Thấy vậy, D1 cầm bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá mời H1 sử dụng với cách thức như trên, Hòa đồng ý sử dụng một lần nữa. Sau khi H1 hút xong, D1 tự sử dụng một lần cuối rồi đưa bộ sử dụng ma túy cho H1 cất đi, một lúc sau D1 đi về. Lúc này, trong tẩu thủy tinh vẫn còn một lượng nhỏ ma túy đá.

Đến sáng ngày 19/10/2023, H1 tiếp tục đổ số ma túy đá còn lại vào bộ sử dụng ma túy đá và tự sử dụng một phần. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, D1 đến nhà H1, trả trước cho H1 100.000 đồng tiền góp mua ma túy ngày 16/10/2023, D1 còn nợ lại H1 100.000 đồng. H1 cầm tiền và cất vào dưới đệm giường ngủ đang ngồi. Ngồi chơi một lúc, H1 lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá ra tự sử dụng một hơi rồi mời D1 sử dụng một hơi. Sau đó, H1 bảo D1 “Đấy anh cứ chơi đi” thì D1 tự cầm bộ dụng cụ và sử dụng tiếp ma túy đá khoảng 2-3 hơi nữa. Sau khi sử dụng xong, D1H1 ngồi nói chuyện đến khoảng 15 giờ cùng ngày thì bị bắt quả tang.

Ngoài ra, Phùng Duy H1 khai nhận: Đối với mỗi lần chung tiền thì H1 sẽ mua khoảng từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng ma túy đá, được khoảng 0,5 gam đến 01 gam ma túy đá. Ngày 15/10/2023 H1 gọi điện, nhắn tin hỏi mua 0,5 gam ma túy đá của Bùi Mạnh T với giá 500.000 đồng để tự sử dụng. Ngày 17/10/2023, H1 mua khoảng 01 gam ma túy đá của Bùi Mạnh T, H1 đổ ma túy vào bộ sử dụng ma túy đá khoảng 3 lần để sử dụng, mỗi lần nửa tẩu, khoảng 1/3 số ma túy mua được (khoảng 0,2 đến 0,3 gam). Mỗi lần như vậy sử dụng được khoảng 15 đến 20 hơi ma túy, tùy thuộc vào lượng nhiệt mạnh hay nhẹ khi đốt. Ngày 18/10/2023, lượng ma túy đá D1H1 sử dụng tương ứng với số tiền 200.000 đồng D1 góp chung với H1 theo thỏa thuận từ ngày 16/10/2023. Sau khi sử dụng ma túy xong vẫn còn khoảng 4 đến 5 hơi nữa. Số ma túy này D1 bảo để lại cho H1 sử dụng tiếp.

Bên cạnh đó, Phạm Việt D1 khai nhận: Ngày 18/10/2023, sau khi cùng nhau sử dụng ma túy đá thì trong tẩu thủy tinh vẫn còn một ít, còn khoảng 4 đến 5 hơi nữa mới hết. D1 nhận thức lần sử dụng ma túy đá chung ngày 18/10/2023 cũng như những lần sử dụng ma túy đá chung trước đó, cả hai đều sử dụng chung một lượng ma túy khoảng 0,2-03 gam, tương ứng với số tiền 200.000 đồng D1 góp cho H1 nên D1 coi như số ma túy đá này là ma túy của D1 mời H1 và số ma túy còn lại sau khi cả hai sử dụng xong là D1 để lại để cảm ơn H1 vì việc cả hai sử dụng chung tại nhà H1, bằng bộ dụng cụ của H1D1 yên tâm vì không ai biết việc D1 sử dụng ma túy. D1 nhận thức với số tiền góp 200.000 đồng thì cả hai sử dụng ma túy đá ngày 18/10/2023 là đã hết và đã xong nên ngày 19/10/2023, H1 mời D1 sử dụng ma túy là ma túy của H1 mời, D1 không có đóng góp gì để có số ma túy này.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Phùng Duy H1, Cơ quan điều tra phát hiện, thu giữ 01 tờ tiền polyme trị giá 100.000 đồng ở dưới đệm giường của Phùng Duy H1.

Căn cứ vào lời khai của Phùng Duy H1, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Bùi Mạnh T, phát hiện và thu giữ tại đầu giường ngủ tầng 1: 01 lọ nhựa kích màu nâu, trong có 01 gói nilon kích thước khoảng 4x6cm trong chứa tinh thể màu trắng (niêm phong mẫu KX). Bùi Mạnh T khai nhận đây là ma túy đá bản thân mua về để khi nào có người hỏi mua thì bán lại kiếm lời. Ngày 19/10/2023, T đã nhờ bạn gái là Trần Thị Thùy D mang ma túy từ tầng 2 nhà mình xuống cất giấu tại đầu giường tầng 1. Do đó, Cơ quan điều tra đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với TD, thu giữ: 01 điện thoại Iphone XS Max màu đen của Bùi Mạnh T, 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A13 màu đen và 01 điện thoại Xiaomi Redmi Note 10 của Trần Thị Thùy D.

Tại Cơ quan điều tra, Bùi Mạnh TTrần Thị Thùy D khai nhận:

Khoảng từ tháng 5/2023, T nảy sinh ý định mua ma túy đá về bán lại kiếm lời. Qua quan hệ xã hội, T biết có một người đàn ông tên A bán ma túy đá ở khu vực đường tàu Cầu Tre nên đã tìm và hỏi mua. Từ khoảng tháng 5/2023 đến nay, T đã mua của A khoảng 4-5 lần, mỗi lần T mua 7.000.000 đồng được khoảng 10 gam ma túy đá. Mua được ma túy, T mang về nhà cất giấu, khi nào có người hỏi mua sẽ chia ra bán. T đã bán ma túy cho nhiều người, tại nhiều địa điểm và thanh toán bằng những hình thức khác nhau nhưng không nhớ cụ thể. Gần đây nhất T có bán ma túy cho Phùng Duy H1, Trần Văn G (sinh năm: 1991, nơi cư trú: A, T, Hải Phòng), Hà Tuấn A1 (sinh năm: 2000, nơi cư trú: D, L, Hải Phòng). Cụ thể:

  • - Ngày 15/10/2023, T bán cho H1 khoảng 0,5 gam ma túy đá với giá 500.000 đồng tại cửa nhà H1 và bán cho G khoảng 01 gam ma túy đá với giá 1.000.000 đồng tại khu vực hồ A.
  • - Ngày 17/10/2023, T bán cho H1 khoảng 01 gam ma túy đá với giá 1.000.000 đồng tại cửa nhà H1; bán cho G khoảng 0,4 gam ma túy đá với giá 400.000 đồng tại khu vực hồ A; bán cho Tuấn A1 khoảng 01 gam ma túy đá với giá 1.000.000 đồng tại khu vực ngã tư Quán N - N.

Về hình thức thanh toán, H1 đã thanh toán cho T qua hình thức chuyển khoản 2 lần từ tài khoản ngân hàng A2 mang tên Phùng Duy H1 đến tài khoản ngân hàng M2 mang tên Bùi Mạnh T, với tổng số tiền 1.200.000 đồng, còn nợ lại 300.000 đồng; G đã thanh toán hết cho T bằng tiền mặt vào mỗi lần giao dịch; Tuấn A1 chưa thanh toán, còn nợ T 1.000.000 đồng.

Ngoài ra, Trần Thị Thùy D khai nhận: Do có quan hệ tình cảm với Bùi Mạnh T và cũng thường xuyên ở chung nhà với nhau nên D biết T có mua ma túy về bán lại kiếm lời nhưng D không tham gia vào các giao dịch và cũng không đòi chia tiền mua bán ma túy với T. Tuy nhiên, do Tuấn A1 nợ tiền mua ma túy đá chưa trả, T gọi điện không được nên nghĩ rằng Tuấn A1 chặn số. Khoảng 14 giờ chiều ngày 18/10/2023, T bảo D gọi điện cho Tuấn A1 đòi tiền Tuấn A1 mua ma túy đá nợ chưa trả. D đã sử dụng điện thoại Samsung Galaxy A13 màu đen của mình gọi cho Tuấn A1 không được nên đã chủ động nhắn tin đòi tiền Tuấn A1 nhưng cũng không thấy Tuấn A1 trả lời. Đến khoảng 14 giờ chiều ngày 19/10/2023, D ngủ dậy thì Tuấn A1 đưa cho D 01 gói nilon kích thước khoảng 4x6cm, trong chứa tinh thể màu trắng bảo D mang xuống nhà cất. D nhận thức được đây là ma túy đá cất giấu để T bán lại kiếm lời nhưng vẫn mang xuống cất vào lọ nhựa để ở đầu giường tầng 1 giúp T.

Qua kiểm tra chi tiết điện thoại Oppo màu đen của D1H2 màu đen của H1, Kết luận giám định điện thoại số 812/KL-KTHS ngày 01/11/2023 của Phòng K2 Công an thành phố H, nhận thấy: Phần tin nhắn Messenger trong điện thoại của H1D1 thể hiện nội dung việc trao đổi thống nhất góp tiền mua ma túy đá về cùng sử dụng ngày 16/10/2023, thống nhất về thời gian, địa điểm sử dụng ma túy đá giữa H1D1 ngày 18 – 19/10/2023, phù hợp với nội dung nêu trên, phù hợp với lời khai của Phạm Việt D1Phùng Duy H1.

Xét nghiệm nước tiểu của D1H1, T, D đều cho kết quả dương tính với test thử chất ma túy Methamphetamine.

Qua kiểm tra chi tiết điện thoại Iphone XS Max màu đen của T và Samsung Galaxy A13 màu đen của D, Kết luận giám định điện thoại số 966/KL-KTHS ngày 07/3/2024 của Phòng K2 Công an thành phố H, nhận thấy: Phần tin nhắn Zalo trong điện thoại của T và tin nhắn SMS trong điện thoại của D thể hiện một số nội dung việc T mua bán ma túy cho H1, Tuấn A1, GD giúp T trong việc mua bán ma túy với Tuấn A1, phù hợp với nội dung nêu trên, phù hợp với lời khai của Bùi Mạnh T, Trần Thị Thùy D, Trần Văn G, Hà Tuấn A1, Phùng Duy H1, phù hợp với tài liệu kiểm tra điện thoại của Phùng Duy H1. Điện thoại Xiaomi R Note 10 của Trần Thị Thùy D không phát hiện có dữ liệu liên quan đến hành vi phạm tội.

Kết luận giám định số 830/KL-KTHS ngày 23/10/2023 của Phòng K2 Công an thành phố H, kết luận: Tạp chất màu nâu đen bám dính trong tẩu thủy tinh mẫu QT1, tinh thể màu trắng bám dính trong vỏ gói nilon của mẫu QT2, QT3, là loại Methamphetamine, không đủ điều kiện xác định khối lượng chất ma túy bám dính. Tinh thể của mẫu KX gửi giám định là ma túy, có khối lượng 2,94 gam, loại Methamphetamine.

Về đồ vật, tài sản bị tạm giữ, xử lý vật chứng:

  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH màu đen, BKS: 15B3-348.87 tạm giữ của Phạm Việt D1, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị Thu H3 (sinh năm: 1987; Nơi thường trú: Số D L, G, N, Hải Phòng; Chỗ ở hiện tại: Số A T, T, Đ, H, Hải Phòng – vợ của bị can Phạm Việt D2), kết quả giám định xe có số khung, số máy là số nguyên thủy, không bị tẩy xóa hoặc sửa chữa các ký tự. Ngày 19/10/2023, D2 sử dụng xe đi đến nhà H1 sử dụng ma túy, chị H3 không biết. Ngày 30/12/2023 Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho chị H3.
  • - 2,77 gam ma túy Methamphetamine cùng toàn bộ vỏ bao gói (hoàn lại sau giám định) của mẫu KX được niêm phong lại trong một bì giấy, dấu niêm phong số: 830MT/PC09 có chữ ký của những người liên quan; 01 tẩu thủy tinh của mẫu QT1, 01 vỏ gói nilon của mẫu QT2, 01 vỏ gói nilon của mẫu QT3 sau khi xử lý mẫu giám định được niêm phong lại trong một bì giấy, dấu niêm phong số: 830MT-A/PC09 có chữ ký của những người liên quan; 01 bật lửa gas; 01 tờ tiền Polyme mệnh giá 100.000 đồng của Phùng Duy H1; 01 điện thoại Huawei màu đen của Phùng Duy H1; 01 điện thoại Oppo màu đen của Phạm Việt D2; 01 điện thoại Iphone XS Max của Bùi Mạnh T; 01 điện thoại Samsung Galaxy A13 màu đen, 01 điện thoại Xiaomi Redmi Note 10 của Trần Thị Thùy D cần chuyển sang Chi cục Thi hành án dân sự quận N quản lý theo quy định pháp luật.

Cáo trạng số 84/CT-VKSNQ, ngày 01/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền đã truy tố các bị cáo: Bùi Mạnh T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; Phùng Duy H1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm a khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự; Trần Thị Thùy D về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Các bị cáo Bùi Mạnh T, Phùng Duy H1Trần Thị Thùy D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền đã truy tố. Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền tham gia phiên toà giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Bùi Mạnh T, Phùng Duy H1Trần Thị Thùy D như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Bùi Mạnh T từ 10 đến 11 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 19/10/2023.
  • - Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Phùng Duy H1 từ 7 năm 6 tháng tù đến 08 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”; thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 19/10/2023.
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Thị Thùy D từ 30 đến 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 19/10/2023.

Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự về xử lý vật chứng:

  • - Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 2,77 gam ma túy Methamphetamine cùng toàn bộ vỏ bao gói (hoàn lại sau giám định) của mẫu KX được niêm phong lại trong một bì giấy, dấu niêm phong số: 830MT/PC09 có chữ ký của những người liên quan; 01 tẩu thủy tinh của mẫu QT1, 01 vỏ gói nilon của mẫu QT2, 01 vỏ gói nilon của mẫu QT3 sau khi xử lý mẫu giám định được niêm phong lại trong một bì giấy, dấu niêm phong số: 830MT-A/PC09 có chữ ký của những người liên quan; 01 bật lửa gas.
  • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 tờ tiền Polyme mệnh giá 100.000 đồng của Phùng Duy H1; 01 điện thoại Huawei màu đen của Phùng Duy H1; 01 điện thoại Oppo màu đen của Phạm Việt D2; 01 điện thoại Iphone XS Max của Bùi Mạnh T; 01 điện thoại Samsung Galaxy A13 màu đen của D.
  • - Trả lại cho bị cáo D 01 điện thoại Xiaomi Redmi Note 10.
  • - Buộc bị cáo Bùi Mạnh T phải nộp lại số tiền 2.600.000 đồng là số tiền có được do bán ma túy trái phép cho H1G.

Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền và buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Trong quá trình điều tra và truy tố, Cơ quan điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh: Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:

[2] Ngày 15/10/2023 T bán ma ma túy trái phép cho Phùng Duy H1 khoảng 0,5 gam ma túy đá với giá 500.000 đồng và bán cho Trần Văn G khoảng 01 gam ma túy đá với giá 1.000.000 đồng. Ngày 17/10/2023, T bán ma túy trái phép cho Phùng Duy H1 khoảng 01 gam ma túy đá với giá 1.000.000 đồng; bán cho Trần Văn G khoảng 0,4 gam ma túy đá với giá 400.000 đồng; bán cho Hà Tuấn A1

khoảng 01 gam ma túy đá với giá 1.000.000 đồng. Ngoài ra T còn cất giấu trái phép 2,94 gam ma túy Methamphetamine nhằm mục đích để bán.

[3] Trần Thị Thùy D có vai trò giúp sức cho Bùi Mạnh T trong việc đòi tiền mua ma túy của Hà Tuấn A1 vào ngày 17/10/2023. Đồng thời, chính D là người giúp T cất giữ 2,94 gam ma túy Methamphetamine tại nhà của T vào ngày 19/10/2023 nhằm giúp T trong việc mua bán trái phép chất ma túy.

[4] Phùng Duy H1 có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho Phạm Việt D2, cụ thể: Vào khoảng 19 giờ ngày 18/10/2023, tại nhà Phùng Duy H1, H1 đã cung cấp địa điểm, ma túy đá và bộ D3 sử dụng ma túy đá cho Phạm Việt D2 sử dụng. Đối với lần này, mặc dù D2H1 khai phù hợp với nhau về lượng ma túy D2H1 sử dụng chỉ tương đương với số tiền mà D2 đóng góp, nhưng căn cứ vào thực tế số ma túy trên là do H1 trực tiếp mua nên H1 phải chịu trách nhiệm về việc cung cấp ma túy cho D2 sử dụng. Vào khoảng 14 giờ ngày 19/10/2023, tại nhà H1, H1 tiếp tục cung cấp địa điểm, ma túy đá và bộ D3 sử dụng ma túy đá cho Phạm Việt D2 sử dụng, nhằm đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể Phạm Việt D2 thì bị Công an quận N bắt quả tang.

[5] Như vậy có đủ căn cứ kết luận: Các bị cáo Bùi Mạnh TTrần Thị Thùy D đồng phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị cáo Phùng Duy H1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại Điều 255 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết định khung hình phạt:

[6] Bùi Mạnh T đã 05 lần bán ma túy trái phép cho Phùng Duy H1, Trần Văn G, Hà Tuấn A1 vào các ngày 15/10/2023 và 17/10/2023. Bị cáo T phải chịu tình tiết định khung là phạm tội “02 lần trở lên”. Quá trình điều tra không thu giữ được ma túy của đối tượng Trần Văn GHà Tuấn A1 nên bị cáo không phải chịu tình tiết định khung là phạm tội “đối với 02 người trở lên”. Vì vậy, hành vi của bị cáo Bùi Mạnh T bị truy tố, xét xử theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

[7] Trần Thị Thùy D có vai trò giúp sức cho Bùi Mạnh T trong việc đòi tiền T bán ma tuý cho Hà Tuấn A1 và cất giấu giúp T 2,94 gam ma túy để bán cho người khác. Vì vậy, hành vi của bị cáo D bị truy tố, xét xử theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

[8] Phùng Duy H1 có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho Phạm Việt D2 02 lần vào các ngày 18/10/2023 và 19/10/2023. Như vậy, hành vi của bị cáo H1 bị truy tố, xét xử theo điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[9] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo nên cần áp dụng cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Phùng Duy H1 từng tham gia nghĩa vụ quân sự nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[10] Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.

- Về hình phạt:

[11] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy; gây mất trật tự trị an xã hội nên cần phải xử lý nghiêm, cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung.

- Về vai trò của các bị cáo trong vụ án và áp dụng hình phạt:

[12] Vụ án có đồng phạm, do đó cần phân hóa vai trò của từng bị cáo đồng phạm để có căn cứ áp dụng hình phạt cho tương xứng với tính chất, mức độ hành vi và vai trò của từng bị cáo.

[13] Trong vụ án này, các bị cáo Bùi Mạnh TTrần Thị Thùy D là đồng phạm giản đơn, bị cáo T giữ vai trò chính là người trực tiếp bán ma tuý cho người khác, bị cáo D có vai trò giúp sức cho T trong việc đòi tiền mua ma túy của Hà Tuấn A1 và cất giữ ma túy giúp T để bán cho người khác. Do vậy, bị cáo T phải chịu mức hình phạt cao hơn so với bị cáo D.

[14] Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo là người không có việc làm và thu nhập ổn định, không có tài liệu xác định được các bị cáo có tài sản riêng nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a,b khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

[15] Đối với 2,77 gam ma túy Methamphetamine cùng toàn bộ vỏ bao gói (hoàn lại sau giám định) được niêm phong lại trong một bì giấy, dấu niêm phong số: 830MT/PC09 có chữ ký của những người liên quan; 01 tẩu thủy tinh, 01 vỏ gói nilon, 01 vỏ gói nilon sau khi xử lý mẫu giám định được niêm phong lại trong một bì giấy, dấu niêm phong số: 830MT-A/PC09 có chữ ký của những người liên quan; 01 bật lửa gas xét không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy

[16] Đối với 01 tờ tiền Polyme mệnh giá 100.000 đồng của Phùng Duy H1 là tiền D2 trả H1 nhờ mua ma túy; 01 điện thoại Huawei màu đen của Phùng Duy H1; 01 điện thoại Oppo màu đen của Phạm Việt D2; 01 điện thoại Iphone XS Max của Bùi Mạnh T; 01 điện thoại Samsung Galaxy A13 màu đen của D là phương tiện liên lạc dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

[17] Đối với 01 điện thoại Xiaomi Redmi Note 10 của bị cáo D không dùng vào việc phạm tội cần trả lại cho bị cáo D.

[18] Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH màu đen, BKS: 15B3-348.87 tạm giữ của Phạm Việt D2, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị Thu H3 - vợ của Phạm Việt D2, kết quả giám định xe có số khung, số máy là số nguyên thủy, không bị tẩy xóa hoặc sửa chữa các ký tự. Ngày 19/10/2023, D2 sử dụng xe đi đến nhà H1 sử dụng ma túy, chị H3 không biết. Ngày 30/12/2023 Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho chị H3

[19] Đối với Trần Văn G: Quá trình điều tra không thu giữ được ma túy, xét nghiệm ma túy đối với G cho kết quả dương tính với chất ma túy Methamphetamine. Ngày 16/3/2024, Cơ quan điều tra ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với G.

[20] Đối với Hà Tuấn A1: Quá trình điều tra, lần mua ma túy của Bùi Mạnh T vào ngày 17/10/2023, Cơ quan điều tra không thu giữ được ma túy, do đó không có căn cứ để xử lý đối với Hà Tuấn A1.

[21] Đối với người tên A bán ma túy cho Bùi Mạnh T chưa xác minh được lại lịch địa chỉ, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, có căn cứ sẽ xử lý sau.

[22] Đối với những lần Bùi Mạnh T bán ma túy từ khoảng tháng 5/2023 theo lời khai của T, đến trước ngày 15/10/2023, Cơ quan điều tra không làm rõ được nên không có căn cứ xử lý.

[23] Đối với Phạm Việt D2, quá trình điều tra bị can D2 vắng mặt tại nơi cư trú, đi đâu, làm gì không rõ. Ngày 16/3/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách vụ án hình sự số 723 đối với bị can Phạm Việt Dũng để tiếp tục điều tra, làm rõ. Ngày 26/3/2024, Cơ quan điều tra ra Quyết định truy nã số 859 đối với Phạm Việt D2.

[24] Ngoài ra, bị cáo T đã bán ma túy trái phép cho Phùng Duy H1Trần Văn G thực tế thu được số tiền là 2.600.000 đồng nên buộc bị cáo Bùi Mạnh T phải nộp lại số tiền 2.600.000 đồng sung công quỹ Nhà nước.

- Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Quyền kháng cáo đối với bản án: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Bùi Mạnh T; Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phùng Duy H1; Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Thị Thùy D

Tuyên bố:

  • + Các bị cáo: Bùi Mạnh T, Trần Thị Thùy D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
  • + Bị cáo Phùng Duy H1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt:

  • + Bị cáo Bùi Mạnh T 10 (mười) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 19/10/2023.
  • + Bị cáo Phùng Duy H1 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 19/10/2023.
  • + Bị cáo Trần Thị Thùy D 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 19/10/2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Căn cứ khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • + Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 830MT/PC09 của Phòng K2 - Công an thành phố H chứa 2,77 gam ma túy Methamphetamine và vỏ bao bì hoàn lại sau giám định; 1 phong bì niêm phong số 830MT/PC09 của Phòng K2 - Công an thành phố H chứa vỏ bao bì hoàn lại sau giám định; 01 bật lửa gas theo Quyết định chuyển vật chứng số 71/QĐ-VKSNQ ngày 01/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/4/2024 giữa Công an quận N và Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền.
  • + Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 tờ tiền Polyme mệnh giá 100.000 đồng của Phùng Duy H1; 01 điện thoại Huawei màu đen của Phùng Duy H1; 01 điện thoại Oppo màu đen của Phạm Việt D2; 01 điện thoại Iphone XS Max của Bùi Mạnh T; 01 điện thoại Samsung Galaxy A13 màu đen của Trần Thị Thùy D.
  • + Trả lại 01 điện thoại Xiaomi Redmi Note 10 cho bị cáo Trần Thị Thùy D.
  • + Buộc bị cáo Bùi Mạnh T phải nộp lại số tiền mua bán trái phép chất ma tuý là 2.600.000 (hai triệu sáu trăm nghìn) đồng để sung quỹ Nhà nước.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tp Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp tp Hải Phòng;
  • - VKSND tp Hải Phòng;
  • - Trại tạm giam - Công an tp Hải Phòng;
  • - Công an quận Ngô Quyền;
  • - Cơ quan điều tra, Công an quận Ngô Quyền;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền;
  • - VKSND quận Ngô Quyền;
  • - Chi cục THADS quận Ngô Quyền;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 88/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về mua bán trái phép chất ma tuý và tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 88/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Mạnh T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger