|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 88/2024/HS-PT Ngày 20 - 9 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Út
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Trọng Quế
Bà Đinh Cẩm Đào
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Khả Khiêm, là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa:
Bà Phạm Trúc Mai – Kiểm sát viên.
Vào ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 76/2024/TLPT-HS ngày 09 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo Kim Thị T, Nguyễn Thanh T1, Nguyễn Văn C, Trần Minh L, Nguyễn Văn Ú; do có kháng cáo của bị cáo Kim Thị T, Trần Minh L và bị hại Nguyễn Thị T2 (Kim Thị T3) đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 29/2024/HS-ST Ngày 28/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.
· Bị cáo có kháng cáo:
1. Họ và tên: Kim Thị T, sinh năm 1962 tại tỉnh Cà Mau; nơi cư trú: Ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Khmer; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Kim Văn N và bà Thạch Thị T4; có chồng: Trương Thanh V (chết); tiền án, tiền sự: Không; bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 27/02/2024 (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Kim Thi T5: Bà Trần Như N1 là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh C (có mặt).
2. Họ và tên: Trần Minh L, sinh năm 1984 tại tỉnh Cà Mau; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn N2 và bà Nguyễn Thị Kim C1; tiền án: Ngày 30/11/2015 bị Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xử phạt 03 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, chưa thi hành xong phần bồi thường; tiền sự: Ngày 12/9/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đã thi hành xong; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 04/3/2024 cho đến nay (có mặt).
- Bị hại có kháng cáo:
Bà Nguyễn Thị T2 (Kim Thị T3), sinh năm 1965; nơi cư trú: Ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (có mặt).
- Ngoài ra còn có các bị cáo không có kháng cáo: Nguyễn Thanh T1, Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn Ú (không triệu tập).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do trước đó khoảng 10 ngày, bà Trần Thị T6 (ở ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau) điện thoại nói chuyện với bị cáo Kim Thị T về việc Kim Thị T3 (em ruột T) chiếm đất và đặt lú. Bị cáo T nói với T6 để T thuê xáng cuốc múc đất, đắp cống trả lại cho T6 (vì đất vợ chồng T6 sang nhượng của cha mẹ bà T).
Đến ngày 21/9/2023 T nhờ người tên M (không rõ họ) điện thoại rủ Nguyễn Thanh T1 đến quán nước của T ở khóm A, thị trấn Đ để nói chuyện.
Đến khoảng 07 giờ ngày 22/9/2023, T1 và Nguyễn Hoàng G đến quán nước của T. Tại đây, T nhờ T1 đi theo T đến nhà ông Kim Văn N (cha ruột của T và T3) ở ấp B, xã T, huyện Đ để thực hiện 02 công việc: Đưa ông N đi điều trị bệnh và sẵn coi xáng cuốc múc đất cho bà T6; khi xong việc thì cho tiền uống cà phê, được T1 đồng ý. Lúc này T nhờ T1 rủ thêm nhiều người cho T3 sợ mà không can ngăn để chở ông N đi. Sau đó, T1 điện thoại rủ bị cáo Nguyễn Văn C, C điều khiển xe đến gặp T1 tại quán, thì T1 nói với C như nội dung T nói với T1, được C đồng ý. Tiếp đến, C điện thoại cho Nguyễn Văn Ú rủ ra thị trấn Đ uống cà phê (nhưng không nói đi thực hiện công việc T nhờ), Ú đồng ý và Ú rủ thêm Nguyễn Hoàng B đi cùng nhưng chưa đến nơi. Từ quán nước của T, thì T, T1, C và G điều khiển xe đi về hướng nhà của ông N. Trên đường đi T1 và C ghé vào nhà của Nguyễn Văn Đ thì gặp Đ, Trần Minh L. Tiền rủ Đ và L đi theo đưa ông N xuống vỏ đi trị bệnh và coi xáng cuốc đất trong vuông, bị cáo T cho tiền uống cà phê; Đ và L đồng ý. Cũng trên đường đi, C điện thoại cho Ú kêu Ú đi theo C vào hướng nhà ông N có công chuyện gấp và chỉ đường cho Ú đi.
Đến khi T, T1, C, G, Đ, L, Ú và B điều khiển xe đến khu vực gần nhà của ông N, cả nhóm để xe lại đi ngang nhà của bà T6 thấy có chiếc xáng cuốc đất đậu dưới sông, nên T kêu T6 ra nói chuyện về việc thuê xáng cuốc múc đất trả lại hiện trạng cho bà T6, thì bà T6 đồng ý.
Đồng thời, T nhờ T6 gọi giùm đò dọc để đưa ông N đi trị bệnh và nhờ G đến thuê xáng cuốc đất, cả nhóm tiếp tục đi đến nhà của ông N. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, T đến nhà ông N và đòi đưa ông N đi trị bệnh thì T3 không đồng ý và xảy ra cự cãi, T3 đứng trước nhà cầm cây dao Thái Lan và 01 đoạn cây. T3 ném đoạn cây về phía T nhưng không trúng T. T kêu “Tụi mầy bắt trói nó lại cho tao” và C nói “Bắt trói lại luôn” thì T1, L và C vào khống chế nắm tay T3 kéo đến cây chuối trước nhà, Thu nhặt 01 sợi dây dù có sẵn tại hiện trường đưa cho L để trói
tay. Trong lúc trói thì T3 vùng vẫy không trói được, Ú vào nắm tay T3 lại để cho trói được vào cây chuối. Sau khi trói xong, T dùng tay đánh vào vùng mặt T3 02 đến 03 cái không gây thương tích thì được can ngăn. Tiếp tục T cùng T1, C, L dẫn ông N xuống vỏ máy để cho T đưa ông N đến bệnh viện điều trị bệnh. Khoảng 10 phút sau từ khi bị trói và đưa ông N đi thì T1, L đến cởi trói cho T3 và kêu xáng cuốc vào vuông múc đất. Lúc này Ú, Ba, L, Đ chạy xe về trước; còn T1, C, G ở lại xem múc đất.
Khi múc đất xong thì T1 liên hệ với T để xin tiền cà phê, T kêu đến nhà T6 để lấy. Tại nhà T6 thì T6 đưa cho C 6.000.000 đồng và C giao số tiền lại cho T1. Nhận tiền xong thì T1, C và G chạy xe đi về. Sau đó, T1 đưa cho C 2.000.000 đồng (trong đó C 1.000.000 đồng, còn Ú và B là 1.000.000 đồng), đưa cho G 1.000.000 đồng và đưa cho Đ 2.000.000 đồng (trong đó Đ 1.000.000 đồng, L 1.000.000 đồng), còn T1 giữ 1.000.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 29/2024/HS-ST ngày 28-6-2024 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau quyết định:
- Tuyên bố: Các bị cáo Kim Thị T, Nguyễn Thanh T1, Trần Minh L, Nguyễn Văn C và Nguyễn Văn Ú phạm tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”.
- Về hình phạt:
- Căn cứ khoản 1 Điều 157; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Kim Thị T 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.
- Căn cứ khoản 1 Điều 157; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T1 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày tạm giam ngày 04/3/2024.
- Căn cứ khoản 1 Điều 157; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Trần Minh L 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày tạm giam ngày 04/3/2024.
- Căn cứ khoản 1 Điều 157; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự; Khoản 5 Điều 328 Bộ luật tố tụng Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Văn C và Nguyễn Văn Ú.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 03 (ba) tháng 26 (hai mươi sáu) ngày tù (Thời hạn phạt tù bằng thời gian bị cáo đã bị tạm giam, từ ngày 04/3/2024 đến ngày 28/6/2024). Bị cáo đã chấp hành xong. Ra quyết định trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Ú 03 (ba) tháng 26 (hai mươi sáu) ngày tù (Thời hạn phạt tù bằng thời gian bị cáo đã bị tạm giam, từ ngày 04/3/2024 đến
- Căn cứ khoản 1 Điều 157; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
ngày 28/6/2024). Bị cáo đã chấp hành xong. Ra quyết định trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 05/7/2024, bị cáo Kim Thị T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt theo hướng hưởng án treo.
Ngày 12/7/2024, Trần Minh L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 10/7/2024, bị hại Nguyễn Thị T2 (Kim Thị T3) kháng cáo đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo Kim Thị T.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Kim Thị T xin hưởng án treo; bị cáo Trần Minh L giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm án và bị hại T3 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo tăng nặng hình phạt đối với bị cáo T. Đồng thời, bị hại T3 không đồng ý cho bị cáo T được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.
Lời nói sau cùng của bị cáo T: Xin xin được hưởng án treo.
Lời nói sau cùng của bị cáo L: Xin xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tội danh: Vào ngày 21/9/2023 sau khi nghe bà Trần Thị T6 nói bà T3 vào chiếm đất và đặt lú, đến khoảng 07 giờ ngày 22/9/2023 bị cáo T nhờ người điện thoại rủ T1 đến quán nước nói chuyện để nhờ T1 đưa ông N cha ruột của bị cáo T đi điều trị bệnh và sẵn coi xáng múc cho bà T6, thì T cho tiền uống cà phê, được T1 đồng ý; T nhờ T1 rủ thêm nhiều người đi cùng để T3 sợ mà không ngăn cản. Đến khoảng 09 giờ ngày 22/9/2023, tại nhà ông N, khi T đưa ông N đi trị bệnh thì thì giữa bị cáo T và bà T3 xảy ra mâu thuẫn, cự cãi, T3 dùng dao và cây ngăn cản bị cáo T, nên bị cáo T kêu T1, C, L, Ú bắt trói bà T3, thì 04 bị cáo này cùng nhau khống chế trói bà T3 vào cây chuối. Tiếp tục T cùng T1, C, L dẫn ông N xuống vỏ máy để cho T đưa ông N đến bệnh viện Đa khoa huyện Đ điều trị bệnh. Khoảng 10 phút sau từ khi bị trói và đưa ông N xuống vỏ đi trị bệnh, thì T1, L đến cởi trói cho T3 và kêu xáng cuốc vào vuông múc đất. Theo yêu cầu của T, T6 trả tiền cho C (C chia cho các đối tượng) coi thuê cuốc đất 6.000.000 đồng. Lời khai nhận tội của các bị cáo quá trình điều tra, xét xử sơ thẩm; lời khai của bị cáo T, L tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp với toàn bộ chứng cứ có tại hồ sơ. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo T và bị hại T3 cũng khẳng định do bị hại T3 ngăn cản việc đưa
ông N đi trị bệnh; đồng thời, do bị hại T3 dùng dao, cây ngăn cản, nên T kêu các bị cáo trói T3 lại.
Do đó, Bản án sơ thẩm tuyên xử các bị cáo Kim Thị T, Nguyễn Thanh T1, Trần Minh L, Nguyễn Văn C và Nguyễn Văn Ú phạm tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” theo khoản 1 Điều 157 Bộ luật Hình sự.
[2] Xét kháng cáo của bị cáo T, bị cáo L và bị hại T3. Thấy rằng, về hành vi phạm tội của các bị cáo thực hiện là nghiêm trọng cho xã hội; hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm về thân thể, xâm phạm đến quyền tự do của bị hại được pháp luật bảo vệ. Bản thân các bị cáo T, L cùng các bị cáo T1, C, Ú nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vì nghe lời rủ rê, lôi kéo của bị cáo T, mà các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Khi lượng hình, án sơ thẩm đã cân nhắc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo là dân tộc Khmer (theo điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự); đối với bị cáo L được áp dụng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo (theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự). Từ đó, Bản án sơ thẩm tuyên phạt các bị cáo T, L mỗi bị cáo 08 tháng tù là khoan hồng cho 02 bị cáo. Do bị cáo T là người khởi xướng, lôi kéo các bị cáo khác phạm tội, vì vậy bị cáo T không thuộc trường hợp được áp dụng quy định được hưởng án treo theo Điều 65 Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo L khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có tiền 1 án, 1 tiền sự nhưng không cải sửa mà tiếp tục lún sâu vào con đường tội lỗi, lần phạm tội này bị cáo L thuộc trường hợp tái phạm. Xét rằng, hình phạt Bản án sơ thẩm đã tuyên xử bị cáo T và L là tương xứng với hành vi và hậu quả của 02 bị cáo gây ra, nên xét không có cơ sở chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo T, kháng cáo xin giảm án của bị cáo L và kháng cáo tăng nặng hình phạt của bị hại T3. Cần giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm theo đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau là phù hợp.
[3] Đối với Nguyễn Hoàng G, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Hoàng B có tham gia đi cùng, nhưng không có trao đổi, bàn bạc từ trước việc bắt, trói, đánh T3 và không thực hiện việc bắt, trói T3, nên không có vai trò đồng phạm.
Đối với Trần Thị T6 có trao đổi với Kim Thị T về việc thuê xáng cuốc đất múc vuông của T6 và gọi đò dọc giùm cho T để chở ông N đi trị bệnh. Tuy nhiên, T6 không có bàn bạc việc kêu T thuê người bắt, trói, đánh T3, nên T6 không có vai trò đồng phạm.
Đối với người tên M chưa rõ nhân thân lai lịch và địa chỉ, Cơ quan điều tra tách ra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau là có căn cứ.
[4] Bị cáo T và L phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định pháp luật.
[5] Các phần khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 157; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Kim Thị T;
Căn cứ khoản 1 Điều 157; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Minh L.
- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Kim Thị T và bị cáo Trần Minh L; kháng cáo của bị hại Nguyễn Thị T2 (Kim Thị T3). Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 29/2024/HS-ST ngày 28-6-2024 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau về hình phạt.
- - Xử phạt bị cáo Kim Thị T 08 (tám) tháng tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”. Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.
- - Xử phạt bị cáo Trần Minh L 08 (tám) tháng tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”. Thời hạn tù được tính kể từ ngày tạm giam ngày 04/3/2024.
- Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Kim Thị T và Trần Minh L mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (chưa nộp).
- Các phần khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Huỳnh Văn Út |
6
Bản án số 88/2024/HS-PT ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về hình sự - bắt, giữ người trái pháp luật
- Số bản án: 88/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Bắt, giữ người trái pháp luật
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Kim Thị Thu cùng đồng phạm bắt giữ người trái pháp luật
