Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN ND QUẬN SƠN TRÀ

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 88/2024/HSST

Ngày 20.8.2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, TP ĐÀ NẴNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thanh Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:- Bà Phạm Thị Ngọc Lý, Mặt trận quận Sơn Trà

-Ông Nguyễn Văn Đời, cán bộ hưu trí

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Lã Phú Huy - Thư ký Tòa án nhân dân Quận Sơn Trà TP Đà Nẵng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà TP Đà Nẵng tham gia phiên tòa: ông Đào Đức Hữu - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 83/2024/HSST ngày 26 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2024/QĐXXST-HS ngày 08.8.2024 đối với các bị cáo:

  1. Hoàng Đại H, sinh ngày 24.7.2003, tại Nghệ An. CCCD: [...], do Cục C1 về TTXH cấp ngày 13.04.2021. Nơi ĐKNKTT: xóm Đ, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Chổ ở: K T, phường A, quận T, TP Đà Nẵng. Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: sinh viên. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Hoàng Hữu H1 (1969) và bà Cao Thị Kim H2 (1970). Tiền án, tiền sự: không.

    Bị cáo bị bắt ngày 16.5.2024. Hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an quận S. Có mặt.

  2. Phạm S, tên gọi khác: Minh Đ. Sinh ngày: 03.9.1992, tại Đà Nẵng. CCCD: [...], do Cục C1 về TTXH cấp ngày 08.5.2022. ĐKHKTT: tổ B, phường H, quận L, TP Đà Nẵng. Chỗ ở: thôn V, xã H, huyện H, TP Đà Nẵng.Trình độ văn hoá: 12/12. Nghề nghiệp: Lao động phổ thông.Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: nam. Con ông Phạm B (1960) và bà Dương Thị M (1962). Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt ngày 16.5.2024. Hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an quận S. Có mặt.

  3. Lê Thị Tuyết M1. Sinh ngày: 25.7.2004 tại Quảng Nam. CCCD: [...], do Cục C1 về TTXH cấp ngày 18.8.2022. ĐKHKTT: thôn Đ, xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam. Chỗ ở: K T, phường A, quận T, TP Đà Nẵng. Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: lao động phổ thông. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: nữ. Con ông Lê Chí C (1976) và bà Nguyễn Thị X (1981). Tiền án, tiền sự: không.

    Bị cáo bị bắt ngày 16.5.2024. Hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an quận S. Có mặt.

*Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Đại HLê Thị Tuyết M1 có luật sư Nguyễn Đức T thuộc Công ty L1, chi nhánh Đ1. Địa chỉ: số A D, phường H, quận C, TP Đà Nẵng, có mặt

* Bị hại: Đặng Khánh L, sinh ngày 26.4.2003. Nơi ĐKNKTT: xóm F, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: 70 M, phường P, quận S, TP.Đà Nẵng, có mặt.

*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Lê Ngọc T1, sinh năm 2001. Trú tại: A T, phường H, quận C, TP. SĐT: 0827.705.xxx.vắng mặt
  2. Lê Văn T2, sinh năm 1970. Trú tại: Khu phố A, thị trấn C, huyện V, tỉnh Quảng Trị. SĐT: 0366.543.xxx. vắng mặt
  3. Phạm B, sinh năm 1960. Trú tại: thôn V, xã H, huyện H, TP Đà Nẵng. vắng mặt

*Người làm chứng: Nguyễn Ngọc T3, sinh năm 2003, Trú tại: G M, phường P, quận S, TP.Đà Nẵng. có đơn xét xử vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 08/5/2024, sau khi nghe bạn gái là Lê Thị Tuyết M1 kể về mâu thuẫn giữa M1 với chị Đặng Khánh L (sinh năm: 2003; trú: nhà số G đường M, phường P, quận S, TP.Đà Nẵng), thì Hoàng Đại H nói M1 đến phòng trọ của của chị L tại nhà số G đường M (phường P, quận S. TP.Đà Nẵng) để nói chuyện giải quyết mâu thuẫn, tuy nhiên trong lúc nói chuyện thì giữa M1 và chị L lại tiếp tục xảy ra xô xát, giằng co qua lại dẫn đến việc M1 bị xước trên mặt, còn L cũng bị M1 tát 01 cái vào mặt và bị cào xước tay, thấy vậy H can ra rồi cả hai đi về, đồng thời chị L hứa hẹn sẽ hỗ trợ tiền điều trị cho M1. Do chị L không thực hiện lời hứa là sẽ hỗ trợ tiền điều trị những vết xước trên mặt M1, nên HM1 bực tức. H nảy sinh ý định thuê người đánh L để trả thù, lúc đầu M1 phản đối, nhưng H vẫn có ý định thuê người đánh để tạo sẹo trên mặt L thì M1 đồng ý. Sau đó, H dùng điện thoại lên mạng tìm người chém thuê thì thấy tài khoản facebook “Minh Đen” của Phạm Sỹ đăng tin “Nhận chém người”. H liên hệ với S, rồi cùng M1 đến gặp S tại quán cà phê (không nhớ tên, địa chi) ở gần Khu công nghiệp H, TP.Đà Nẵng. Tại đây, HM1 thỏa thuận thuê S rạch mặt chị L vào buổi tối ngày 14/5/2024 với giá 3.000.000 đồng, S đồng ý thì H mở điện thoại đưa hình ảnh của L cho S xem. Tiếp đó, S nói H chuẩn bị cho S 01 con dao rọc giấy và 01 áo khoác nhân viên giao đồ ăn để S sử dụng đi rạch mặt chị L. Sau khi thống nhất, HM1 đi về lại phòng trọ tại K đường T, TP.Đà Nẵng.

Đến khoảng 13 giờ ngày 14/5/2024, M1 sử dụng tài khoản số 0399870497 của M1 tại ngân hàng M2 chuyển khoản số tiền 3.000.000 đồng đến tài khoản số 05612465001 của H tại ngân hàng T4 để trả công cho S. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, S gọi điện cho H đến quán cà phê gặp lúc sáng để cùng đi rạch mặt chị L. Khi đi H mang theo 01 áo khoác nhân viên giao hàng Ahamove, màu cam (áo giao hàng của H) rồi đến phòng trọ của bạn là Lê Ngọc T1 (sinh năm: 2001; trú: khu phố A, thị trấn C, huyện V, tỉnh Quảng Trị, hiện đang tạm trú tại nhà số A đường T, TP.Đà Nẵng) mượn xe mô tô BKS: 74F7-2217 để đi chở S. Trên đường đi gặp S, H vào cửa hàng văn phòng phẩm (không rõ địa chỉ) mua 01 dao rọc giấy (chiều dài khi thu gọn lưỡi khoảng 13cm, rộng 01cm, cán bằng kim loại). Khi gặp S, H đưa dao và áo cho S, rồi điều khiển xe chở S đến nơi ở của chị L. Trên đường đi, S nói H mua 01 ly nước mía, rồi S lấy áo khoác nhân viên giao hàng mặc vào để đóng giả nhân viên giao nước. S nói H đưa số điện thoại của chị L cho S, để S nói gọi chị L ra lấy nước, rồi dùng dao rạch mặt. H chở S đến đường kiệt bên cạnh phòng trọ của chị L, S xuống xe lấy con dao rọc giấy ra, kéo mũi dao nhô ra khoảng 01cm, dấu trong ống tay áo khoác bên phải, rồi cầm ly nước mía đến trước cổng phòng trọ chị L, gọi chị L xuống lấy nước. Khi chị L xuống đứng đối diện S cách khoảng 50cm, S dùng tay trái cầm cầm ly nước mía đưa cho chị L rồi ngay lập tức dùng tay phải cầm dao rọc giấy đưa mũi dao lên rạch 01 nhát trúng cằm trái của chị L, chị L dùng tay đẩy S ra và lùi lại thì S dùng tay trái giữ đầu (phía sau gáy) chị L kéo lại phía S, rồi dùng tay phải cầm dao rạch 01 nhát trúng má trái chị L, S rút dao về thì lưỡi dao cắt trúng khủy tay và bắp tay trái chị L đang đưa lên để che chắn. Chị L lui ra thì S dùng tay trái cầm tay trái chị L giữ lại, rồi tiếp tục dùng dao rạch tiếp 01 nhát vào má chị L nhưng chị L xoay mặt đi né được. Thấy chị L chảy máu nhiều ở mặt, S bỏ chị L ra và chạy ra xe để H điều khiển xe chở S về. Trên đường đi, S làm rơi chiếc áo khoác nhân viên giao hàng (không rõ vị trí làm rơi), khi về đến quán cà phê gặp nhau lúc sáng, H chuyển khoản số tiền 3.000.000 đồng trả cho S, rồi chạy xe về trả lại xe cho anh T1.

  • * Hậu quả: Chị L bị thương được đưa đi cấp cứu.
  • * Tang vật tạm giữ:
    • 01 đĩa CD ghi lại một phần diễn biến vụ án.
    • 01 ĐTDĐ hiệu Iphone 11 màu xanh, Imei: 354396700467396; 01 ĐTDĐ hiệu Iphone 11 màu trắng, Imei: 352484683583587 của Lê Thị Tuyết M1.
    • 01 ĐTDĐ hiệu Iphone 15 Promax màu đen, Imei: 354449440911122 của Hoàng Đại H.
    • 01 con dao dọc giấy chiều dài khi thu gọn lưỡi khoảng 13cm, rộng 01cm, cán bằng kim loại có chữ “Deli”; 01 áo khoác vải màu xanh dài tay, trên áo có ký tự “yody”; 01 ĐTDĐ hiệu Samsung galaxy J7 Pro, màu vàng, Imei: 356446084967590; 01 thẻ sim điện thoại số thuê bao 0779.410.xxx, trên sim có dãy số và ký tự: 8401190333538745WD của Phạm Sỹ.
    • 01 xe mô tô BKS: 74F7-2217 của Lê Ngọc T1.

* Tại kết luận giám định số: 107 ngày 28/5/2024 của Trung tâm Pháp y – Sở Y.Đà Nẵng kết luận:

  • + Vùng thái dương trái chạy xuống bờ hàm trái có vết thương đang lành tạo sẹo dài 11,5cm, rộng không đều từ 0,1cm đến 0,2cm bờ mép phẳng gọn; đoạn trên vết thương mờ, nhạt màu hơn đoạn dưới và có 02 vị trí bị đứt đoạn (vị trí đứt đoạn ở trên dài 01cm, vị trí đứt đoạn ở dưới dài 0,5cm). (V1).
  • + Vùng góc hàm trái có vết thương đang lành tạo sẹo, kích thước 2,5x0,1cm, bờ mép phẳng gọn. (V2)
  • + Mặt sau - ngoài đoạn 1/3 giữa cánh tay trái có vết thương đang lành tạo sẹo dài 02x0,1cm, bờ mép phẳng gọn. (V3)
  • + Mặt trong vùng khuỷu tay trái có vết thương đang lành tạo sẹo dài 6,5cm, rộng không đều từ 0,1 đến 0,2cm, bờ mép phẳng gọn; đoạn trên rách da nông (không khâu dài 03cm); vận động khớp tay trái trong giới hạn bình thường. (V4).
  • + Tỷ lệ % tổn thương cơ thể của Đặng Khánh L tại thời điểm giám định là 12%. Trong đó, tỷ lệ thương tích của V1 là 06%; V2 là 03%, V3 là 02%, V4 là 01%.
  • + Các tổn thương trên do ngoại lực tác động.
  • + Vật tác động phù hợp với vật sắc gây nên.

Ngày 15/5/2024, chị Đặng Khánh L có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.

* Về dân sự: Gia đình Hoàng Đại H và gia đình Lê Thị Tuyết M1 đã bồi thường khắc phục hậu quả cho chị Đặng Khánh L số tiền 75.000.000 đồng, chị L không có yêu cầu đền bù gì thêm về dân sự.

* Tại cáo trạng số 84/CT-VKS-ST ngày 24.7.2024 và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Hoàng Đại H; Phạm SLê Thị Tuyết M1 phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ (thuộc các điểm a, đ, h, i khoản 1) khoản 2 Điều 134 BLHS.

Tại phiên toà, đại diện Viện Kiểm sát rút một phần quyết định truy tố đối với bị cáo Hoàng Đại H; Phạm SLê Thị Tuyết M1 với tình tiết “Phạm tội có tổ chức” được quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 134 BLHS; bị cáo Hoàng Đại H, Phạm SLê Thị Tuyết M1 với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội vì động cơ đê hèn” được quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 52 BLHS và căn cứ vào nhân thân, tính chất mức độ và hành vi phạm tội của các bị cáo. Đề nghị HĐXX:

  • +Đối với bị cáo Hoàng Đại H: Căn cứ điểm đ khoản 2, Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo từ 2 năm đến 2 năm 6 tháng tù.
  • +Đối với bị cáo Phạm S: Căn cứ điểm đ khoản 2, Điều 134, điểm s khoản 1, Điều 51, Điều 38, Điều 58 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo từ 2 năm đến 2 năm 6 tháng tù.
  • +Đối với bị cáo Lê Thị Tuyết M1: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, khoản 2 Điều 54, Điều 38, Điều 58 BLHS xử phạt bị cáo từ 1 năm 6 tháng tù đến 2 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS tuyên:

  • Tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án đối với: Đối với 01 đĩa CD màu vàng chứa dữ liệu camera ghi nhận diễn biến sự việc, tiếp tục lưu hồ sơ vụ án.
  • Tịch thu và tiêu hủy đối với: 01 con dao rọc giấy, chiều dài khi thu gọn lưỡi dao khoảng 13cm, rộng 01 cm, cán bằng kim loại, có chữ “deli” do liên quan đến hành vi phạm tội và không còn giá trị và 01 áo khoác vải, màu xanh, trên áo có ký tự “yody” của Phạm S do bị cáo không nhận lại.
  • Tịch thu sung công quỹ nhà nước đối với: 01 ĐTDĐ Samsung Galaxy J7 Pro, màu vàng, IMEI: 356446084967590; 01 thẻ sim điện thoại Mobifone số thuê bao 0779410082, trên sim có dãy số và ký tự: 8401190333538745WD (của Phạm S), 01 ĐTDĐ Iphone 15 Pro Max, màu đen, IMEI: 354449440911122 bể góc dưới bên trái mặt lưng điện thoại và xước camera sau (của Hoàng Đại H); 01 ĐTDĐ Iphone 11, màu xanh, IMEI: 354396700467396 (của Lê Thị Tuyết M1), do liên quan đến hành vi phạm tội.
  • Trả lại cho Lê Thị Tuyết M1: 01 ĐTDĐ Iphone 11, màu trắng, IMEI: 352484683583587.
  • Đối với 01 xe mô tô BKS: 74F7-2217, qua điều tra xác định ông Lê Văn T2 (sinh năm: 1970; trú: khu phố A, thị trấn C, huyện V, tỉnh Quảng Trị, cha ruột anh Lê Ngọc T1) là chủ sở hữu, ông T2 không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị can. Ngày 28/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an quận S trả lại xe trên cho ông T2 là phù hợp.

Vật chứng này hiện nay Chi cục Thi hành án dân sự quận Sơn Trà, Tp Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26.7.2024.

Đề nghị truy thu 3.000.000 đồng của bị cáo Phạm S là tiền có được do hành vi phạm tội mà có.

* Người bào chữa cho các bị cáo Hoàng Đại HLê Thị Tuyết M1 thống nhất với bản cáo trạng và lời luận tội của đại diện VKSND quận Sơn Trà về tội danh, điều luật cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét: Hành vi phạm tội của bị cáo HM1 cũng có một phần lỗi người bị hại gây thương tích cho bị cáo M1 trước nên mới dẫn đến hành vi phạm tội nên đề nghị HĐXX xem xét không áp dụng tính tiết “tính chất côn đồ”, Đối với bị cáo H có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên đề nghị HĐXX áp dụng điều 54 cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất, Đối với bị cáo M1 giữ vai trò thứ yếu nên cần áp dụng Điều 65 cho bị cáo được hưởng mức án treo.

* Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội; các bị cáo và không có ý kiến bổ sung với luận cứ của người bào chữa và không có ý kiến tranh luận gì với phần luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo đã nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình, có thái độ ăn năn hối cải và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Xét lời khai nhận tội của các bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu thu thập đầy đủ, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định:

Chỉ vì trước đó giữa bị cáo Lê Thị Tuyết M1 và chị Đặng Khánh L có mâu thuẫn do chị L có thỏa thuận với bị cáo M1 là chịu ½ chi phí điều trị mặc dù thỏa thuận như vậy nhưng chị L đã không thực hiện nên vào ngày 14.5.2024 Hoàng Đại H là người yêu của Lê Thị Tuyết M1 đã lên mạng tìm người chém thuê thì thấy tài khoản facebook “Minh Đen”, Hoàng Đại HLê Thị Tuyết M1 thuê Phạm S gây thương tích cho chị Đặng Khánh L với giá 3.000.000 đồng. Sau khi thuê, Hoàng Đại H đã mở điện thoại đưa hình ảnh của chị L cho SS nói H chuẩn bị 01 con dao rọc giấy và 01 áo khoác giả là nhân viên giao hàng để sử dụng đi rạch mặt chị L. Và vào lúc 18 giờ 55 phút ngày 14/5/2024, tại nhà số G đường M (phường P, quận S, TP.Đà Nẵng), Phạm Sỹ g làm nhân viên giao hàng và sử dụng con dao rọc giấy (là hung khí nguy hiểm) rạch 2 nhát lên mặt của chị L (1 nhát trúng cằm trái; 01 nhát trúng má bên trái)gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 12%.

Hành vi của các bị cáo Hoàng Đại H, Phạm SLê Thị Tuyết M1 đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” như bản cáo trạng số 84/CT-VKS-ST ngày 24.7.2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà đã truy tố các bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội.

[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội thì thấy: Các bị cáo tuổi đời còn trẻ chỉ vì một mâu thuẫn nhỏ đã không kiềm chế được bản thân để tự hòa giải mà lại giải quyết các mâu thuẫn bằng con đường thuê người gây thương tích. Hành vi trên đây của các bị cáo là hết sức nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự táo bạo, liều lĩnh và bất chấp pháp luật của các bị cáo, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương, gây tâm lý hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân nên cần phải xử lý các bị cáo thật nghiêm.Trong vụ án này, các bị cáo thực hiện hành vi không có sự bàn bạc, phân công vai trò của từng bị cáo mà phạm tội mang tính tự phát, nên vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn.

Về vai trò của các bị cáo trong vụ án thì thấy:

[3.1] Đối với Hoàng Đại H: Mặc dù không hề mâu thuẫn gì với Đặng Khánh L, do chị L đã không giữ lời hứa là hổ trợ tiền điều trị cho Lê Thị Tuyết M1 nên H đã nảy sinh ý định trả thù, bị cáo là người lên trang mạng tìm người đánh thuê, Sau khi kết nối được với bị cáo Phạm S, bị cáo thuyết phục M1 đi gặp Phạm S để thỏa thuận giá thuê, Bị cáo M1 không đồng ý nhưng sau một thời gian thuyết phục bị cáo M1 đồng ý. Sau khi kết nối được với bị cáo Phạm S, bị cáo là người thỏa thuận giá thuê và trực tiếp chuyển số tiền thuê 3.000.000 đồng cho bị cáo S, bị cáo là người chuẩn bị hung khí là 01 con dao rọc giấy và 01 áo khoác nhân viên giao hàng để đưa cho bị cáo S làm công cụ phạm tội.

Như vậy, trong vụ án này, bị cáo là người khởi xướng, trực tiếp rủ bị cáo M1; trực tiếp chuẩn bị hung khí, phương tiện phạm tội như dao rọc giấy và áo khoác để bị cáo S thực hiện hành vi, mặc dù bị cáo không trực tiếp gây ra thương tích cho chị L nhưng cũng phải chịu trách nhiệm hình sự đối với thương tích mà bị cáo S đã gây ra.

Hành vi của bị cáo không những trực tiếp xâm phạm sức khỏe của chị L mà còn gây mất trật tự trị an xã hội, coi thường pháp luật, thuộc trường hợp dùng “hung khí nguy hiểm”; “có tính côn đồ” và “thuê gây thương tích..” được quy định tại điểm a,h,i khoản 1 điều 134 BLHS và với tỷ lệ thương tích của chị L là 12% nên bị cáo đã phạm vào điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS. Do vậy mức hình phạt của bị cáo phải cao hơn với đồng bọn.

[3.2] Đối với Phạm Sỹ d không có mâu thuẫn với chị L nhưng khi được bị cáo H thuê rạch mặt chị L bị cáo đã đồng ý thực hiện với giá 3.000.000 đồng. Để thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã yêu cầu bị cáo H chuẩn bị hung khí, công cụ thực hiện hành vi phạm tội là 01 con dao rọc giấy và 01 áo khoác nhân viên giao hàng, sau khi được bị cáo H đưa cho xem hình ảnh của chị L, bị cáo H chở bị cáo S đến đường kiệt nơi chị L thuê trọ, Bị cáo đã đóng giả làm nhân viên giao hàng điện thoại cho chị L xuống giao ly nước. Khi chị L xuống đứng đối diện bị cáo khoảng 50cm, bị cáo dùng tay trái cầm cầm ly nước mía đưa cho chị L rồi ngay lập tức dùng tay phải cầm dao rọc giấy đưa mũi dao lên rạch 01 nhát trúng cằm trái của chị L, chị L dùng tay đẩy bị cáo ra và lùi lại thì S dùng tay trái giữ đầu (phía sau gáy) chị L kéo lại phía bị cáo, rồi dùng tay phải cầm dao rạch 01 nhát trúng má trái chị L, bị cáo rút dao về thì lưỡi dao cắt trúng khủy tay và bắp tay trái chị L đang đưa lên để che chắn. Chị L lui ra thì S dùng tay trái cầm tay trái chị L giữ lại, rồi tiếp tục dùng dao rạch tiếp 01 nhát vào má chị L nhưng chị L xoay mặt đi né được. Thấy chị L chảy máu nhiều ở mặt, bị cáo bỏ chị L ra và chạy ra xe để H điều khiển xe chở S về. Trong vụ án này bị cáo tham gia với vai trò tích cực và là người trực tiếp dùng dao rọc giấy gây thương tích cho chị L là 12%. Do đó cần phải xử phạt các bị cáo với mức án nghiêm minh mới có đủ tác dụng giáo dục riêng và ngăn ngừa chung.

Trong vụ án này Phạm S là người trực tiếp thực hiện hành vi tới cùng đối với chị L nên cần áp dùng tình tiết tăng nặng “Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng” quy định tại điểm e khoản 1 Điều 52 BLHS.

[3.3] Đối với bị cáo Lê Thị Tuyết M1: là người mâu thuẫn với bị hại là chị L, do chị L đã không giữ lời hứa là hổ trợ ½ chi phí điều trị, sau khi bị cáo H lên mạng tìm người chém thuê là bị cáo Phạm S hai bên thống nhất hẹn gặp nên bị cáo H đã rủ bị cáo M1 thuê người đánh L để trả thù, lúc đầu M1 không đồng ý nhưng thời gian thuyết phục là 2 giờ thì bị cáo M1 mới đồng ý, bị cáo không phải là người liên lạc thuê bị cáo S khi bị cáo H và bị cáo S bàn bạc thực hiện hành vi phạm tội bị cáo chỉ ngồi bên cạnh sử dụng điện thoại và không tham gia, bị cáo là người trực tiếp chuyển tiền cho bị cáo H để H chuyển trả tiền thuê cho bị cáo S (vì mọi sinh hoạt của bị cáo M1 và bị cáo H đều do bị cáo M1 chi trả). Mặc dù bị cáo không tham gia bàn bạc, chuẩn bị hung khí và thực hiện hành vi gây thương tích cho chị L nhưng bị cáo đều biết và là người chuyển tiền cho H để H chuyển trả cho bị cáo S nên bị cáo phải chịu trách nhiệm cùng với hành vi của bị cáo HS nhưng ở mức độ thứ yếu với vai trò giúp sức nên cũng cần phải xử lý nghiêm.

Đối với đề nghị của Luật sư bào chữa cho các bị cáo đề nghị HĐXX áp dụng Điều 54 BLHS cho bị cáo H và đối với bị cáo M1 không cần thiết phải xử cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cần áp dụng điều 65 BLHS để tạo điều kiện cho bị cáo được cải tạo, giáo dục tại địa phương, nơi thường trú cũng trở thành người tốt. HĐXX xét thấy, Sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cũng như xem xét vai trò, nhân thân mức độ hành vi phạm tội của bị cáo M1 và bị cáo H, các bị cáo phạm tội thuộc tình tiết dùng hung khí nguy hiểm; có tính chất côn đồ và thuê gây thương tích do vậy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, nên không có cơ sở chấp nhận đề nghị của Luật sư.

[4] Xét tính tiết giảm nhẹ; tăng nặng và nhân thân của các bị cáo thì thấy:

  • -Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên hôm nay, các bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Đối với các bị cáo HM1 đã bồi thường cho chị L số tiền 75.000.000 đồng, chị L có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho HM1, nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 (bị hại xin giảm nhẹ) Điều 51 BLHS. Bị cáo H, gia đình có công với cách mạng (ông bà nội ngoại được huân chương kháng chiến, huân chương chiến sĩ vẻ vang), mẹ được chẩn đoán u ác tuyến giáp nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS cho cho bị cáo H. Đối với bị cáo M1 tham gia với vai trò thứ yếu, giúp sức và có hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS nên cần áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 54 BLHS để giảm nhẹ cho bị cáo M1
  • -Tình tiết tăng nặng: Như đã nhận định, bị cáo Phạm S là người trực tiếp thực hiện hành vi tới cùng đối với chị L nên cần áp dùng tình tiết tăng nặng “Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng” quy định tại điểm e khoản 1 Điều 52 BLHS.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Gia đình Hoàng Đại H và gia đình Lê Thị Tuyết M1 đã bồi thường khắc phục hậu quả cho chị Đặng Khánh L số tiền 75.000.000 đồng, chị L không có yêu cầu đền bù gì thêm về dân sự nên HĐXX không xem xét

[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS

  • Đối với 01 đĩa CD màu vàng chứa dữ liệu camera ghi nhận diễn biến sự việc, tiếp tục lưu hồ sơ vụ án.
  • Đối với 01 xe mô tô BKS: 74F7-2217, qua điều tra xác định ông Lê Văn T2 (sinh năm: 1970; trú: khu phố A, thị trấn C, huyện V, tỉnh Quảng Trị, cha ruột anh Lê Ngọc T1) là chủ sở hữu, ông T2 không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị can. Ngày 28/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an quận S trả lại xe trên cho ông T2 là phù hợp
  • Đối với 01 con dao rọc giấy, chiều dài khi thu gọn lưỡi dao khoảng 13cm, rộng 01 cm, cán bằng kim loại, có chữ “deli” là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy và 01 áo khoác vải, màu xanh, trên áo có ký tự “yody” do bị cáo Phạm S không nhận lại
  • Tịch thu sung công quỹ nhà nước đối với: 01 ĐTDĐ Samsung Galaxy J7 Pro, màu vàng, IMEI: 356446084967590; 01 thẻ sim điện thoại Mobifone số thuê bao 0779410082, trên sim có dãy số và ký tự: 8401190333538745WD (của Phạm S), 01 ĐTDĐ Iphone 15 Pro Max, màu đen, IMEI: 354449440911122 bể góc dưới bên trái mặt lưng điện thoại và xước camera sau (của Hoàng Đại H); 01 ĐTDĐ Iphone 11, màu xanh, IMEI: 354396700467396 (của Lê Thị Tuyết M1), do liên quan đến hành vi phạm tội.
  • Trả lại cho Lê Thị Tuyết M1: 01 ĐTDĐ Iphone 11, màu trắng, IMEI: 352484683583587.

( Vật chứng này hiện nay Chi cục Thi hành án dân sự quận Sơn Trà, Tp Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26.7.2024).

Truy thu 3.000.000 đồng của bị cáo Phạm S là tiền có được do hành vi phạm tội mà có.

[7] Đối với việc Lê Thị Tuyết M1 và chị Đặng Khánh L có hành vi đánh nhau vào ngày 08/5/2024, cả hai đã có đơn từ chối giám định thương tích và không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự. Ngày 01/7/2024, Công an quận S ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính mỗi người 6.500.000 đồng là phù hợp.

Đối với việc anh Lê Ngọc T1 cho bị can Hoàng Đại H mượn xe mô tô BKS: 74F7-2217 vào ngày 14/5/2024. Khi cho mượn, anh T1 không biết H sử dụng chiếc xe để thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan CSĐT Công an quận S không đề cập xử lý là phù hợp.

Đối với ông Phạm B (sinh năm: 1960; trú: thôn V, xã H, huyện H, TP.Đà Nẵng là cha ruột bị can Phạm Sỹ) là chủ tài khoản ngân hàng mà S dùng để nhận tiền từ H. Ông B không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của S, do đó Cơ quan CSĐT Công an quận S không đề cập hình thức xử lý là phù hợp.

[8] Về án phí: Theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án thì mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

I. Về tội danh:

Tuyên bố: Các bị cáo Hoàng Đại H; Phạm SLê Thị Tuyết M1 phạm tội "Cố ý gây thương tích".

II. Về điều khoản áp dụng và hình phạt:

  1. Đối với bị cáo Hoàng Đại H: Căn cứ điểm đ (thuộc các điểm a, h, i khoản 1) khoản 2 Điều 134; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 BLHS.

    Xử phạt: Bị cáo Hoàng Đại H 2 năm 3 tháng ( hai năm ba tháng ) tù, Thời hạn tù tính từ ngày 16.5.2024.

  2. Đối với bị cáo Phạm S: Căn cứ điểm đ (thuộc các điểm a, h, i khoản 1) khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm e khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 58 BLHS.

    Xử phạt: Bị cáo Phạm S 2 năm 3 tháng ( hai năm ba tháng ) tù, Thời hạn tù tính từ ngày 16.5.2024.

  3. Đối với bị cáo Lê Thị Tuyết M1: Căn cứ điểm đ (thuộc các điểm a, h, i khoản 1) khoản 2 Điều 134; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, khoản 2 Điều 54, Điều 38, Điều 58 BLHS.

    Xử phạt: Bị cáo Lê Thị Tuyết M1 1 năm 06 tháng (một năm sáu tháng ) tù, Thời hạn tù tính từ ngày 16.5.2024.

III. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS Tuyên:

  • -Tuyên quy trữ tại hồ sơ vụ án: 01 đĩa CD ghi lại một phần diễn biến vụ án
  • -Tịch thu, tiêu hủy: 01 con dao dọc giấy chiều dài khi thu gọn lưỡi khoảng 13cm, rộng 01cm, cán bằng kim loại có chữ “Deli”; 01 áo khoác vải màu xanh dài tay, trên áo có ký tự “yody";
  • -Tịch thu sung công quỹ: 01 ĐTDĐ Samsung Galaxy J7 Pro, màu vàng, IMEI: 356446084967590; 01 thẻ sim điện thoại Mobifone số thuê bao 0779410082, trên sim có dãy số và ký tự: 8401190333538745WD của Phạm S, 01 ĐTDĐ Iphone 15 Pro Max, màu đen, IMEI: 354449440911122 bể góc dưới bên trái mặt lưng điện thoại và xước camera sau của Hoàng Đại H; 01 ĐTDĐ Iphone 11, màu xanh, IMEI: 354396700467396 của Lê Thị Tuyết M1.
  • -Trả lại cho Lê Thị Tuyết M1: 01 ĐTDĐ hiệu Iphone 11 màu trắng, Imei: 352484683583587.

    (vật chứng thể hiện tại biên bản bàn giao ngày 26.7.2024 Chi cục Thi hành án dân sự quận Sơn Trà đang quản lý).

  • -Truy thu số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu) của bị cáo Phạm S là tiền có được do hành vi phạm tội mà có.

IV. Án phí HSST: Các bị cáo Hoàng Đại H; Phạm SLê Thị Tuyết M1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng

Án xử công khai, bị cáo, người tham gia tố tụng có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Riêng những người vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được trích sao bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận

  • - VKSND quận Sơn Trà
  • - VKS ND TPĐN, TAND TPĐN
  • - Công an quận Sơn Trà
  • - Bị cáo; Người tham gia tố tụng
  • - Trại giam Công an TPĐN
  • - Sở Tư pháp
  • - Lưu HS

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Phạm Thanh Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 88/2024/HSST ngày 20/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, TP ĐÀ NẴNG về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 88/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, TP ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo Hoàng Đại h cùng đồng bọn bị truy tố về tội "Cố ý gây thương tích" theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger